1. Sự cần thiết của của phát triển kinh tế biển tại Nghệ An: Nghệ An có những lợi thế vô cùng to lớn để phát triển một nền kinh tế biển mạnh. Bờ biển Nghệ An có nhiều bãi tắm đẹp và hấp dẫn như bãi tắm Cửa Lò, Nghi Thiết, Cửa Hiền, Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương..., nước sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp, ở vị trí thuận lợi về giao thông, tài nguyên biển phong phú đã, đang và sẽ mang lại cho Tỉnh Nghệ An một vị thế vững chắc trong các lĩnh vực khai thác thủy sản, du lịch, công nghiệp cơ khí và chế biến, vận tải biển và đặc biệt là nhiệm vụ quốc phòng an ninh vùng biển. Với bờ biển dài 82 km và diện tích vùng biển 4.230 hải lý vuông, dọc bờ biển có 6 cửa lạch (lạch Cờn, lạch Quèn, lạch Thơi, lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội) với độ sâu từ 1 đến 3,5 m thuận lợi cho tàu thuyền có trọng tải 50 1.000 tấn ra vàoTừ độ sâu 40 m trở vào là vùng có đáy tương đối bằng phẳng, vùng phía ngoài có nhiều đá ngầm và chướng ngại vật, cồn cát, nơi tập trung nhiều bãi cá có giá trị kinh tế cao. Theo điều tra của Viện nghiên cứu hải sản, trữ lượng hải sản các loại Nghệ An khoảng 80.000 tấn, khả năng khai thác cho phép khoảng 3537 nghìn tấnnăm. Trữ lượng cá ở vùng có độ sâu trên 30m trở ra chiếm 60%; cá nổi chiếm 30%, cá đáy chiếm 70%, lượng cá nổi có khả năng khai thác dễ hơn. Cá biển ở Nghệ An có tới 267 loài trong 91 họ, tập trung nhiều vào các loài như cá trích 3039%, cá nục 1520%, cá cơm 10 15%. Tôm biển có 08 loài sống tập trung ở vùng nước nông 30m trở vào; tôm he khả năng khai thác lớn, chiếm 30% tổng số tôm. Có hai bãi tôm chính: bãi Lạch Quèn diện tích 305 hải lý vuông, trữ lượng 250 300 tấn, khả năng khai thác 50%; bãi Diễn Châu diện tích 425 hải lý vuông, trữ lượng 360 380 tấn, khả năng khai thác 50%. Dọc bờ biển Nghệ An có 3.500 ha nước lợ sử dụng cho việc nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất muối. Hiện (năm 2009), trong toàn tỉnh có khoảng 3.000 ha mặt nước mặn, lợ chuyên nuôi trồng thủy sản (nuôi tôm, cua xuất khẩu). Với bờ biển dài và nhiều cửa lạch, Nghệ An có nhiều tiềm năng phát triển vận tải biển, trong đó cảng hàng hoá Cửa Lò và cảng cá Cửa Hội. Cảng Cửa Lò (hiện tại tàu loại 10.000 tấn ra vào thuận lợi, sẽ tiếp tục được nâng cấp; khu vực kho bãi rộng khoảng 13.000 m2) đã được nhà nước quyết định đầu tư nâng cấp, mở rộng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ trong tương lai. Những lợi thế rõ ràng như vậy nên trong “Chiến lược biển Việt Nam” xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học – công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế biển ở Nghệ An bên cạnh những tiềm năng, kết quả đạt được thì vẫn tồn tại khá nhiều điểm bất cập, thách thức đòi hỏi chính quyền Tỉnh cũng như mỗi thành phần trong xã hội phải có quan điểm, tầm nhìn mang tính chiến lược nhằm phát huy lợi thế và khắc phục những hạn chế. Trong báo cáo này tôi muốn trình bày về “Tiềm năng phát triển kinh tế biển tại Nghệ An”.
Trang 1TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG TP HÀ NỘI
LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ K21B-21
***
BÀI THU HOẠCH NGHIÊN CỨU THỰC TẾ
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
BIỂN TẠI NGHỆ AN
Người thực hiện: Vũ Quang Tiến Đơn vị công tác: HTX NN Phú Tiến
Tháng 9 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang bìa
Phụ bìa
Mục lục
1 Sự cần thiết của phát triển kinh tế biển tại Nghệ An 1
2 Thực trạng tiềm năng phát triển kinh tế biển Nghệ An 4
2.2 Thực trạng tiềm năng phát triển kinh tế biển Nghệ An 5
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của của phát triển kinh tế biển tại Nghệ An:
Nghệ An có những lợi thế vô cùng to lớn để phát triển một nền kinh tế biển mạnh Bờ biển Nghệ An có nhiều bãi tắm đẹp và hấp dẫn như bãi tắm Cửa
Lò, Nghi Thiết, Cửa Hiền, Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương , nước sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp, ở vị trí thuận lợi về giao thông, tài nguyên biển phong phú đã, đang và sẽ mang lại cho Tỉnh Nghệ An một vị thế vững chắc trong các lĩnh vực khai thác thủy sản, du lịch, công nghiệp cơ khí và chế biến, vận tải biển và đặc biệt là nhiệm vụ quốc phòng an ninh vùng biển
Với bờ biển dài 82 km và diện tích vùng biển 4.230 hải lý vuông, dọc bờ biển có 6 cửa lạch (lạch Cờn, lạch Quèn, lạch Thơi, lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội) với độ sâu từ 1 đến 3,5 m thuận lợi cho tàu thuyền có trọng tải 50 - 1.000 tấn ra vàoTừ độ sâu 40 m trở vào là vùng có đáy tương đối bằng phẳng, vùng phía ngoài có nhiều đá ngầm và chướng ngại vật, cồn cát, nơi tập trung nhiều bãi cá
có giá trị kinh tế cao
Theo điều tra của Viện nghiên cứu hải sản, trữ lượng hải sản các loại Nghệ An khoảng 80.000 tấn, khả năng khai thác cho phép khoảng 35-37 nghìn tấn/năm
Trữ lượng cá ở vùng có độ sâu trên 30m trở ra chiếm 60%; cá nổi chiếm 30%, cá đáy chiếm 70%, lượng cá nổi có khả năng khai thác dễ hơn Cá biển ở Nghệ An có tới 267 loài trong 91 họ, tập trung nhiều vào các loài như cá trích 30-39%, cá nục 15-20%, cá cơm 10 - 15%
Tôm biển có 08 loài sống tập trung ở vùng nước nông 30m trở vào; tôm
he khả năng khai thác lớn, chiếm 30% tổng số tôm Có hai bãi tôm chính: bãi Lạch Quèn diện tích 305 hải lý vuông, trữ lượng 250 - 300 tấn, khả năng khai thác 50%; bãi Diễn Châu diện tích 425 hải lý vuông, trữ lượng 360 - 380 tấn, khả năng khai thác 50%
Dọc bờ biển Nghệ An có 3.500 ha nước lợ sử dụng cho việc nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất muối Hiện (năm 2009), trong toàn tỉnh có khoảng 3.000 ha mặt nước mặn, lợ chuyên nuôi trồng thủy sản (nuôi tôm, cua xuất khẩu)
Với bờ biển dài và nhiều cửa lạch, Nghệ An có nhiều tiềm năng phát triển vận tải biển, trong đó cảng hàng hoá Cửa Lò và cảng cá Cửa Hội Cảng Cửa Lò (hiện tại tàu loại 10.000 tấn ra vào thuận lợi, sẽ tiếp tục được nâng cấp; khu vực
Trang 5kho bãi rộng khoảng 13.000 m2) đã được nhà nước quyết định đầu tư nâng cấp,
mở rộng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và vùng Bắc Trung
Bộ trong tương lai
Những lợi thế rõ ràng như vậy nên trong “Chiến lược biển Việt Nam” xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học – công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế biển ở Nghệ An bên cạnh những tiềm năng, kết quả đạt được thì vẫn tồn tại khá nhiều điểm bất cập, thách thức đòi hỏi chính quyền Tỉnh cũng như mỗi thành phần trong xã hội phải có quan điểm, tầm nhìn mang tính chiến lược nhằm phát huy lợi thế và khắc phục những hạn chế Trong báo cáo này tôi muốn trình bày về “Tiềm năng phát triển kinh tế biển tại Nghệ An”
2 Mục tiêu nghiên cứu.
Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học – công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; phấn đấu đến năm
2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP và 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển; có thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước Cùng với xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ven biển; xây dựng cơ quan quản lý tổng hợp và thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển
3 Đối tượng nghiên cứu.
Vấn đề làm thế nào để khai thác các tiềm năng, lợi thế vốn có để phát triển kinh tế biển Nghệ An đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của Tỉnh, các nhà quản lý Do đó, tôi quyết định chọn đề tài: “Tiềm năng phát triển kinh tế biển tại Nghệ An ”
4 Phạm vi nghiên cứu.
Nghệ An có những lợi thế vô cùng to lớn để phát triển một nền kinh tế biển mạnh Với những bãi biển đẹp, nước sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp, tài nguyên biển phong phú đã, đang và sẽ mang lại cho Tỉnh
2
Trang 6Nghệ An một vị thế vững chắc trong các lĩnh vực khai thác thủy sản, du lịch, công nghiệp cơ khí và chế biến, vận tải biển và đặc biệt là nhiệm vụ quốc phòng
an ninh vùng biển
Về thời gian nghiên cứu: từ ngày 17/9/2022 đến ngày 19/9/2022
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thực tế từ ngày 17/9/2022 đến ngày 19/9/2022 tại tỉnh Nghệ
An cập nhật những báo cáo của Tỉnh kết hợp với trải nghiệm thực tiễn, từ đó đánh giá, lựa trọn đề tài “Tiềm năng phát triển kinh tế biển tại Nghệ An ”
Trang 7NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
1.1 Khái niệm kinh tế.
Trong xã hội hiện nay, khái niệm kinh tế vẫn chưa có một cách nhìn thống nhất, hay là một chuẩn mực nhất định Có thể hiểu một cách cơ bản rằng, kinh tế
là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn
Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ Nói cách khác, kinh tế có nghĩa là: “Dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp,con người và
xã hội loài người tìm cách trả lời 3 câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?”
1.2 Khái niệm phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã hội
2 Thực trạng của tiềm năng phát triển kinh tế biển Nghệ An.
Nghệ An có 82 km bờ biển và có 5 đơn vị hành chính cấp huyện, 29 xã, phường, thị trấn có biển với nhiều cảng biển
Thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), về chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 5/3/2020 của Chính phủ, tỉnh Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Tuy nhiên, phát triển kinh tế biển của tỉnh so với điều kiện, tiềm năng còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng
2.1 Đặc điểm tình hình Tỉnh Nghệ An.
Nghệ An nằm ở vĩ độ 180 33' đến 200 01' vĩ độ Bắc, kinh độ 1030 52' đến
1050 48' kinh độ Đông, ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ
4
Trang 8Nghệ An là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung bộ, giáp tỉnh Thanh Hóa ở phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh ở phía Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở phía Tây với 419 km đường biên giới trên bộ; bờ biển ở phía Đông dài 82
km Vị trí này tạo cho Nghệ An có vai trò quan trọng trong mối giao lưu kinh tế
- xã hội Bắc - Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế
Nghệ An nằm trên các tuyến đường quốc lộ Bắc - Nam (tuyến quốc lộ 1A dài 91 km đi qua các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và Tỉnh Vinh, đường Hồ Chí Minh chạy song song với quốc lộ 1A dài 132 km đi qua các huyện Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương và thị
xã Thái Hoà, quốc lộ 15 ở phía Tây dài 149 km chạy xuyên suốt tỉnh); các tuyến quốc lộ chạy từ phía Đông lên phía Tây, nối với nước bạn Lào thông qua các cửa khẩu (quốc lộ 7 dài 225 km, quốc lộ 46 dài 90 km, quốc lộ 48 dài trên 160 km) Tỉnh có tuyến đường sắt Bắc - Nam dài 94 km chạy qua
Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông Tây nối liền Myanma -Thái Lan - Lào - Việt Nam - Biển Đông theo đường 7 đến cảng Cửa Lò Nằm trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế (tuyến du lịch xuyên Việt; tuyến du lịch Vinh - Cánh đồng Chum - Luang-pra-bang - Viêng Chăn - Băng Cốc và ngược lại qua đường 7 và đường 8)
Với vị trí như vậy, Nghệ An đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh
tế, thương mại, du lịch, vận chuyển hàng hoá với cả nước và các nước khác trong khu vực, nhất là các nước Lào, Thái Lan và Trung Quốc, là điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
2.2 Thực trạng tiềm năng phát triển kinh tế biển ở Nghệ An
Nghệ An có bờ biển dài 82 km, với các địa phương ven biển là huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, TX Cửa Lò và TX Hoàng Mai Vùng biển Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm của các tuyến giao lưu quốc tế và liên vùng, trên tuyến trục bắc nam và đông tây của miền Trung Kinh tế biển của tỉnh phát triển chủ yếu trên lĩnh vực nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản; du lịch; dịch vụ cảng… Những năm gần đây, kinh tế biển ngày càng khẳng định vai trò, vị thế trong cơ cấu kinh tế chung, đóng góp khoảng 50% GRDP của tỉnh; trong đó, giá trị tăng thêm bình quân đầu người vùng biển và ven biển cao gấp 1,27 lần so với bình quân toàn tỉnh Nhiều khu du lịch lớn ở các địa phương ven biển (như du lịch biển Cửa Lò, Diễn Thành, biển Quỳnh, Bãi Lữ, Vinpearl Cửa Hội), các cảng nước sâu Cửa Lò, cảng xăng dầu DKC, cảng Vissai Nghi Thiết cũng được
Trang 9xây dựng, đưa vào sử dụng Công tác quy hoạch, thu hút đầu tư, kết cấu hạ tầng ngày càng được đầu tư hiện đại hơn, đáp ứng yêu cầu liên kết vùng và giao thông cho các địa phương ven biển của tỉnh
Tuy nhiên, so với tiềm năng và lợi thế, cho đến nay, Nghệ An vẫn chưa tạo bứt phá vượt trội từ kinh tế biển Điều đó có thể điểm qua với các lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế biển như: Du lịch hiệu quả khai thác chưa cao, các khu du lịch biển vẫn chưa nổi bật trên bản đồ du lịch toàn quốc, nhất là trong so sánh với các tỉnh, thành ven biển của cả nước; khai thác thủy hải sản công nghệ vẫn còn lạc hậu, tỉ lệ tàu nhỏ vẫn chiếm đa số, dịch vụ cảng còn chưa đồng bộ… Trên thực tế, nhiều năm qua, vấn đề bảo vệ môi trường biển đang đặt ra nhiều thách thức với các cấp chính quyền, địa phương ven biển Trong khi đó, việc Châu Âu chưa gỡ thẻ vàng đối với ngành chăn nuôi, thủy hải sản Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung là một bài học đắt giá với các cấp quản lý và chính người dân Xác định rõ những khó khăn, tồn tại đó, Nghệ An đang đẩy mạnh chuyển đổi tái cơ cấu kinh tế biển, gia tăng hàm lượng khoa học công nghệ trong tất cả các lĩnh vực sản xuất Đến nay, kinh tế biển đang dần chuyển dịch đúng hướng, trở thành động lực phát triển kinh tế của toàn tỉnh
2.2.1 Những kết quả đạt được
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) khá cao, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 7,20% (do ảnh hưởng của đại dịch covid-19, năm
2020 chỉ đạt 4,45%) GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2020 đạt 43,15 triệu đồng, tăng 1,42 lần so với năm 2016
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp từ 25,72% xuống còn 25,14 %, công nghiệp - xây dựng từ 27,23% tăng lên 30,83%; dịch vụ đạt 47,05% năm 2016 thì đến năm 2020 đạt 44,03% Tính chung công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng từ 74,28% lên thành 74,86%Thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt dự toán được giao
Chi ngân sách cơ bản đáp ứng các yêu cầu Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016-2020 đạt hơn 314.000 tỷ đồng, tăng hơn 1,7 lần so với giai đoạn 2011-2015 Cơ cấu vốn đầu tư chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng vốn khu vực ngoài nhà nước Tỷ trọng vốn khu vực nhà nước từ 33,55% giảm xuống còn 21,2% năm 2019, tỷ trọng vốn khu vực ngoài nhà nước từ 66,45% năm
2015 tăng lên 78,8% năm 2020.Đến nay tỉnh đã thu hút được hơn 740 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 107.000 tỷ đồng Với dòng vốn FDI, lũy kế đến nay, Nghệ An đã có 102 dự án FDI còn hiệu lực, với số tổng số vốn đầu tư hơn
6
Trang 101.449,52 triệu USD, trong đó, có một số tập đoàn lớn đến từ Hồng Kông, Đài Loan, tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế tạo, điện tử với những thương hiệu lớn như Luxshare - ICT, Goertek, Everwin, Ju Teng
Trong xu thế dịch chuyển dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, Nghệ An được đánh giá là địa phương có nhiều tiềm năng, hấp dẫn với các lợi thế có sẵn như diện tích tự nhiên lớn, nhân lực có tay nghề dồi dào; hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ có cả đường bộ, đường sắt, hàng không, đường biển và đường thuỷ nội địa
2.2.2 Những hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, thời gian qua, việc phát triển kinh tế biển theo Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã, đang đặt ra không ít khó khăn, thách thức Cùng với hạn chế về nhận thức của các cấp, ngành, địa phương ven biển đối với vai trò, vị trí của biển, quy mô kinh tế biển còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành nghề còn bất cập; việc đầu tư xây dựng các khu kinh tế ven biển còn tràn lan, thiếu trọng tâm, trọng điểm Trong khi đó, tình hình khai thác, sử dụng hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững (do thiếu hoặc không tuân thủ quy hoạch), làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng đa ngành ở vùng ven biển và hải đảo Theo đó, phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu, mới khai thác tài nguyên ở dạng thô, theo số lượng Các giá trị chức năng, phi vật chất và có khả năng tái tạo trong hệ thống tài nguyên biển, như: không gian biển, các hệ sinh thái, khu văn hóa lịch sử, dự trữ sinh quyển ven biển,… ít được chú trọng Điều đó không chỉ tác động làm cạn kiệt tài nguyên,
mà môi trường biển cũng bị biến đổi theo chiều hướng xấu; thậm chí, một số khu vực biển ven bờ bị ô nhiễm, hiện tượng thủy triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiều, với quy mô tương đối lớn, v.v
2.2.3 Những nguyên nhân
Đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy, hải sản nước ta đã, đang có chiều hướng giảm dần cả về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt Hiện đã có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 100 loài đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam Nguồn lợi hải sản ở vùng biển gần bờ
bị khai thác quá mức, hiệu suất khai thác giảm rõ rệt theo từng năm
Cùng với đó, cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển, nhất là hệ thống cảng biển, đường giao thông còn yếu kém, manh mún, lạc hậu, chưa tạo thế liên kết
Trang 11các Tỉnh, khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ biển; đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn,… ở ven biển còn ít về số lượng, nhỏ về quy mô và trang, thiết bị hết sức thô sơ
2.3 Kiến nghị và giải pháp
Một là, trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của Tỉnh ven biển, tập trung phát
triển hệ thống cảng biển ở Nghệ An
Nghệ An cần tận dụng tối đa lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
để phát triển toàn diện hệ thống cảng biển cả về quy mô, chất lượng, đi thẳng vào hiện đại, hội nhập với các nước tiên tiến trong khu vực về lĩnh vực cảng biển, từng bước đưa kinh tế hàng hải trở thành mũi nhọn trong các lĩnh vực kinh
tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh
Hai là, quản lý, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển hải đảo; phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững, gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, phòng, chống thiên tai, thảm họa trên biển
Phát triển bền vững kinh tế biển đặt trong mối quan hệ hài hòa với văn hóa, xã hội và môi trường Phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên biển, đảo là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài trong quá trình phát triển bền vững Khai thác các nguồn lợi biển gắn ngay từ đầu với bảo
vệ môi trường sinh thái, sử dụng tài nguyên có hiệu quả, khôi phục và làm giàu tài nguyên có thể tái tạo Để hướng tới phát triển kinh tế biển bền vững, hiệu quả, tập trung đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển, thực hiện chính sách khai thác, đánh bắt thủy sản có trách nhiệm, bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách bền vững Nâng cao hoạt động đánh bắt hải sản xa bờ của ngư dân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng, bảo vệ môi trường, tái tạo nguồn lợi, giải quyết việc làm nâng cao đời sống của ngư dân
Ba là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại và
nguồn nhân lực chất lượng cao làm nhân tố đột phá trong phát triển bền vững kinh tế biển
Để hướng ra biển, làm giàu từ biển, phải làm chủ các ngành khoa học nghiên cứu về biển Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển Chú trọng phát triển khoa học, công nghệ biển; thúc
8