Lý do chọn đề tàiTừ trước đến nay, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế TTKT với công bằng xã hội CBXH là một vấn đề và là một bài toán nan giải đối với nhiều quốc gia trên th
Trang 1TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
TÊN BÀI THU HOẠCH: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN VỚI
CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
TÊN MÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MAC-LENIN
MÃ LỚP: MLM307_2021_D21 HỆ ĐÀO TẠO CHÍNH QUY HỌ VÀ TÊN SV: NGÔ NGUYỆT THANH HẰNG
MSSV: 030336200065
CHẤM ĐIỂM
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 22 Những vấn đề lý luận
2.1 Khái niệm
2.2 Nội dung
3 Thực trạng chủ đề nghiên cứu
3.1 Những thành tựu
3.2 Những hạn chế cần khắc phục
3.3 Nguyên nhân của những hạn chế
4 Phương hướng và giải pháp
4.1 Phương hướng
4.2 Giải pháp
5 Kết luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Hệ số GINI giai đoạn 2016-2020 (Tổng cục thống kê) 04 Bảng 2 Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo bình quân cả nước 2016-2020 05
Trang 51 Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế (TTKT) với công bằng xã hội (CBXH) là một vấn đề và là một bài toán nan giải đối với nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là với các nước có nền kinh tế đang phát triển
và kém phát triển Tăng trưởng, phát triển là mục tiêu mà mọi quốc gia, mọi nền kinh tế đều hướng đến, bởi nó là chỉ số đánh giá mức sống, năng lực của một nền kinh tế, một đất nước TTKT là cơ sở, là nền tảng cơ bản giải quyết các vấn
đề liên quan các lĩnh vực như xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, Tuy nhiên, TTKT theo hướng nào, theo phương thức nào, có đảm bảo được sự hài hòa các lợi ích của toàn xã hội, đảm bảo và thực hiện được tiến bộ và CBXH hay không thì điều này còn tùy thuộc vào chiến lược phát triển, kế hoạch, chính sách và cách giải quyết của từng quốc gia trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định Thực tiễn đã chứng minh rằng giải quyết mối quan hệ giữa TTKT với CBXH là một vấn đề vô cùng khó khăn, phức tạp, phụ thuộc phần lớn vào chính sách, quyết tâm chính trị của nhà nước cầm quyền
Trong những năm đổi mới và phát triển đất nước ta, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Đảng
và Nhà nước ta vô cùng quan tâm đến vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa TTKT với tiến bộ và CBXH, và đã coi đây là một trong những mối quan hệ cơ bản, quan trọng cần tập trung giải quyết trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nêu ra 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội này, một trong số đó là: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế Có chính sách cụ thể phát triển văn hóa đồng bào dân tộc thiếu số Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam."
[1] Từ đó cho thấy, TTKT gắn với CBXH ở Việt Nam là một điều tất yếu
Và để tìm hiểu vấn đề này nên em đã chọn đề tài số 13: “Tăng trưởng kinh
tế gắn với công bằng xã hội ở Việt Nam”
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 62 Cơ sở lý luận
Theo nhiều tài liệu kinh tế hiện nay, có không ít chương trình nghiên cứu vấn đề giữa TTKT và CBXH, sau đây là khái niệm và mối quan hệ giữa TTKT
và CBXH:
TTKT được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian Thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP ( tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng) (Các chỉ số trên thường được tính trong một năm và đều có thể sử dụng theo tiêu chí bình quân trên đầu người) [2]
Khác với khái niệm TTKT được hiểu và thừa nhận một cách thống nhất, khái niệm CBXH vẫn còn nhiều ý kiến và được diễn giải bằng nhiều khái niệm khác nhau Trong bài này, em xin đề cập đến khái niệm khái quát nhất về CBXH:
Công bằng xã hội (CBXH) là tình trạng mà mọi quyền lợi, nghĩa vụ của các thành viên xã hội có và được thực hiện phù hợp với các giá trị xã hội để khuyến khích tối đa khả năng đóng góp và hạn chế của mỗi cá nhân cho xã hội trong dài hạn [2]
2.2 Nội dung
Theo lý luận của Karl Marx về mối quan hệ giữa TTKT với CBXH Nghiên cứu về tái sản xuất tư bản chủ nghĩa thì kết quả của tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại nhiều lần với quy mô mở rộng hơn trước Quá trình tái sản xuất này làm cho quy mô sản lượng mở rộng hơn, đạt được ở thời
kỳ này lớn hơn so với trước Và việc tái sản xuất tất yếu dẫn đến TTKT, tức là
sự tăng lên về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một năm so với năm liền kề trước đó Điều kiện để có sự TTKT chính là sự gia tăng quy mô của các thành phần như nguồn lực kinh tế, tính tiên tiến trong cơ cấu sản xuất, tính tiến
bộ, phù hợp của quan hệ quan hệ sản xuất và tính tích cực của thể chế kinh tế nhà nước [3]
Theo Karl Marx, CBXH là khái niệm “vĩnh cửu biến đổi”, chẳng những
Trang 7cùng với thời gian và không gian mà còn cùng với bản thân con người CBXH mang lại cho con người một điều kiện sản xuất công bằng, một sự chia sẻ công bằng các nguồn lực sản xuất và lợi ích kinh tế, về một sự bình đẳng, nhân phẩm,
cơ hội và giáo dục Xét theo nghĩa rộng, CBXH được xem xét trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, trong đó thì CBXH về kinh tế là quan trọng nhất Tuy mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có những chuẩn mực riêng về CBXH, những giữa chúng lại có chung nguồn gốc là chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất và đều là vấn đề chính trị có liên quan đến nhà nước Theo Marx, không thể có một sự công bằng chung cho mọi chế độ xã hội Nói đến CBXH là nói đến công lý phân phối, mà việc phân phối này lại chịu sự chi phối của chế đôi sở hữu về các điều kiện của sản xuất [3]
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra rằng TTKT và CBXH là hai mặt của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội, có quan hệ tương hỗ, hỗ trợ lẫn nhau TTKT tạo điều kiện tiền đề về vật chất để thực hiện CBXH Không có TTKT, điều này cũng có nghĩa không có của cải vật chất để thực hiện CBXH về phân phối, tăng thu nhập, tăng phúc lợi xã hội, giảm nghèo và các vấn đề khác Ngược lại, CBXH sẽ tại động lực thúc đẩy sự phát triển và TTKT Nếu như việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất không công bằng thì sẽ dẫn đến mâu thuẫn xảy
ra giữa các giai tầng, dẫn đến việc cản trở sự phát triển của nền kinh tế Còn ngược lại, việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất và phân phối thu nhập công bằng, thì người tiếp nhận sẽ cảm nhận được thu nhập và họ được hưởng là xứng đáng với mức đóng góp của mình, kéo theo đó là tính tích cực sản xuất tăng lên Thực chất, giải quyết mối quan hệ giữa TTKT với CBXH là quá trình gắn kết nền kinh tế với xã hội trong việc phát triển bền vững
Giải quyết được mối quan hệ giữa TTKT với CBXH sẽ mang lại được những lợi ích góp phần cải thiện đời sống của người dân Bao gồm: Giải quyết hoặc hạn chế vấn đề thất nghiệp cho người lao động, tăng phúc lợi, nâng cao các vấn đề an sinh xã hội, nâng cao vấn đề dân trí, giáo dục, an ninh, quốc phòng,
Vì thế, TTKT gắn với CBXH là một vấn đề tất yếu để phát triển nền kinh tế, đó cũng chính là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta
Từ những phân tích trên, ta thấy rằng CBXH có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững và sự phát triển bền vững được xác định trên cơ sở đóng góp tối đa và gây thiệt hại tối thiểu của mỗi thành viên đối với xã hội trong dài hạn
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 83 Thực trạng
3.1 Những thành tựu
Trong những năm gần đây, cục diện kinh tế của Việt Nam có nhiều thay đổi do thực hiện nhiều chính sách đổi mới Việc Nhà nước quản lý nền kinh tế theo cơ chế định hướng xã hội chủ nghĩa đã giúp cho nước ta đạt được những thành tựu lớn trong TTKT TTKT cao không những giúp cho đất nước nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kém phát triển mà nó còn là cơ sở, điều kiện để nước
ta thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội khác, còn góp phần làm giảm một các
ấn tượng tỷ lệ đói nghèo, hơn nữa đạt được những bước tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện mục tiêu lớn của đất nước Chủ trương thực hiện TTKT gắn liền với CBXH được phát triển qua các thời kỳ Đại hội Đảng đã tạo nên tính năng động sáng tạo của tầng lớp nhân dân, huy động được các nguồn lực để phát triển kinh
tế, nhờ đó kinh tế Việt Nam đã phát triển nhanh và liên tục
Những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong quá trình TTKT gắn với CBXH:
- TTKT gắn với giải quyết việc làm, cải thiện thu nhập cho người dân
Đối với Việt Nam hay là nhiều nước chậm và đang phát triển khác, thì việc tạo ra nhiều việc làm và cải thiện thu nhập một cách bền vững đặc biệt là nhóm nghèo và nhóm thu nhập thấp được coi là biện pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu TTKT vừa thực hiện CBXH
TTKT cũng góp phần tăng thu nhập bình quân đáng kể cho người dân trong
cả nước
Bảng 1 Hệ số GINI giai đoạn 2016-2020 (Tổng cục thống kê)
Trang 9Từ bảng 1 ta đã thấy được sự chênh lệch thu nhập đã giảm dần chứng tỏ thu nhập bình quân của người dân tăng, cải thiện được việc làm cho cho người dân
- TTKT gắn với việc xóa đói giảm nghèo (XĐGN)
Vấn đề XĐGN, có thể nói đây được xem là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của VIệt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo cơ chế định hướng xã hội chủ nghĩa Theo kết quả từ các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình cho thấy, Việt Nam đã đạt được những thành tựu trên phương diện kết hợp TTKT với XĐGN, là một trong những quốc gia điển hình thực hiện tốt các Mục tiêu Thiên niên kỷ về XĐGN Tùy theo các chuẩn nghèo khác nhau sẽ có những tỷ lệ khác nhau về nghèo đói, nhưng trong trường hợp nào, thì tình trạng nghèo đói của Việt Nam cũng vẫn duy trì được chiều hướng giảm xuống Đây là một thành tựu đáng ghi nhận trong việc gắn TTKT với công cuộc XĐGN được cộng đồng quốc tế đánh giá cao
Năm
Bảng 2 Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo bình quân cả nước 2016-2020 (đơn vị: %)
Từ bảng, ta thấy được tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo đã giảm theo hàng năm, cho thấy tình trạng nghèo đói ở nước ta đã giảm
- TTKT gắn với sự nghiệp giáo dục, y tế của đất nước
Trong những năm vừa qua, nhờ TTKT tạo tiền đề về vật chất mà lĩnh vực giáo dục, đào tạo đã được đầu tư và phát triển
Về vấn đề y tế, thì ngay từ năm 1989, Luật bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân đã được ban hành Và kể từ lúc đó đến nay, rất nhiều chính sách y tế
đã được triển khai nhằm thực hiện TTKT gắn với CBXH
3.2 Những hạn chế cần khắc phục
Bên cạnh những thành tựu nêu trên, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ cả về chất lượng cũng như tính bền vững của quá trình TTKT; việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa TTKT với CBXH ở Việt Nam cũng đang gặp nhiều khó khăn Những tàn dư của chế độ bao cấp, chủ nghĩa bình quân cào bằng còn để lại những di chứng nặng nề cả trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Xu hướng tự phát của nền
Trang 11KTTT gây ra nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, công tác XĐGN còn hạn chế, giáo dục, y tế chưa được đầu tư đúng mức dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực thấp, không đáp ứng được yêu cầu của quá trình tăng trưởng, phát triển và hội nhập của nền kinh tế
Những hạn chế giữa mối quan hệ giữa TTKT với CBXH bao gồm những điều sau:
- Bất bình đẳng xã hội có xu hướng tăng cùng với TTKT
Sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã giúp tỷ lệ nghèo cả nước giảm xuống, nhiều chính sách an sinh xã hội được thực hiện, mức sống của người dân được cải thiện Tuy nhiên, bất bình đẳng trong xã hội lại có
xu hướng tăng lên Điều này có nghĩa là những thành quả của TTKT chưa được phân phối công bằng cho mọi đối tượng trong xã hội, nhất là người nghèo, vùng nghèo và những đối tượng dễ bị tổn thương
- Bất bình đẳng cơ hội giữa các nhóm dân cư
Tình trạng nghèo đói thường tập trung chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, nông thôn và lĩnh vực nông nghiệp Trình độ học vấn thấp làm giảm khả năng tiếp cận với việc làm tốt Báo cáo phát triển thế giới năm 2016 của World Bank cho thấy, những người có trình độ đại học có nhiều hơn 50% cơ hội kiếm được công việc trả lương so với người có trình độ trung học có cùng độ tuổi, giới tính, dân tộc và sinh sống trong cùng một khu vực Cũng theo báo cáo này, do trình
độ học vấn thấp, ngay cả những người có công việc trả lương cũng kiếm được ít tiền hơn rất nhiều [4]
- Bất bình đẳng về giáo dục và y tế giữa các tầng lớp dân cư
Mặc dù bề ngoài nhận thấy đã thu hẹp về khoảng cách, nhưng thực tế bên trong vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng về giáo dục nói chung giữa các vùng và giữa các nhóm giàu, nghèo
Trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe, tuy Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng khi thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, thì vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa các vùng và các nhóm thu thập thông qua một vài chỉ số như: tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em, tuổi thọ
kỳ vọng,
Sự chênh lệch giữa các vùng về tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng ở trẻ em còn khá lớn, đặc biệt là khi so sánh giữa các vùng khó khăn với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội tối hơn
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 12- Bất bình đẳng trong hệ thống an sinh xã hội
Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam có nhiều chương trình, trong đó hai chương trình lớn nhất là bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội đều hướng vào người lao động ở khu vực chính thức
3.3 Nguyên nhân của những hạn chế
Theo những tài liệu nghiên cứu, hạn chế có những nguyên nhân sau:
- Thứ nhất: Do xuất phát điểm thấp của nền kinh tế và cơ chế cũ gây không ít
khó khăn đến thực hiện tiến bộ, CBXH trong quá trình TTKT Những tàn dư của cơ chế cũ biểu hiện
rõ nhất là tư duy bao cấp với những đặc quyền, đặc lợi đối với doanh nghiệp nhà nước, so với các thành phần kinh tế khác, nạn quan liêu đã gây cản trở cho người dân trong việc tiếp cận các cơ hội
về y tế, giáo dục và hưởng quyền của công dân
- Thứ hai: Việc phát triển kinh tế thị trường tất yếu đưa đến sự phân hóa giàu
nghèo, chấp nhận phát triển kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc thừa nhận sự tồn tại của viễc phân hóa giàu nghèo Quy luật cạnh tranh tất yếu sẽ dẫn đến tuyển chọn những nhà sản xuất tốt, đào thải những nhà sản xuất kém; những lao động có tay nghề và trình độ kém Kết quả sự chênh lệch về thu nhập trong xã hội giữa các nhóm dân cư, giữa các ngành nghề là tất yếu
- Thứ ba: Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức phân phối thu
nhập khác nhau đã đưa đến kết quả tất yếu là khoảng cách giàu nghèo gia tăng do kết quả của phân phối dựa trên sự đóng góp khác nhau về nguồn lực trong sản xuất Xét dưới một góc độ nào đó, khoảng cách này thể hiện sự công bằng vì nó phản ánh đúng thành quả tương xứng với những đóng góp và tài năng của họ Tuy nhiên, đối với những người không có tư liệu sản xuất, hay khả năng lao động thấp thì phân phối thông qua tài sản và lao động cũng có những hạn chế nhất định, dẫn đến bất bình đẳng ngày càng tăng
- Thứ tư: Tác động của quá trình đô thị hóa làm gia tăng áp lực cho các đô thị
lớn trong việc giải quyết việc làm, nhà ở, các dịch vụ thiết yếu cho người nhập cư Việc di cư vào các thành phố lớn dẫn đến công tác xóa đói giảm nghèo của các đô thị ngày càng khó khăn, gây sức
ép ngày càng lớn lên hệ thống hạ tầng sinh hoạt của các đô thị và phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp khác Đây là quá trình mang tính quy luật đối với hầu hết các quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Thứ năm: Những biến động bất ổn của kinh tế thế giới, biến đổi khí hậu,
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat