1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập tinh huống luật sở hữu trí tuệ

14 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập Tinh huống Luật Sở Hữu Trí Tuệ
Tác giả Long Thu Nguyệt
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ
Thể loại Bài Tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 64,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình huống 1: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền tác giả A là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm X không may bị tai nạn qua đời, vì tác phẩm được rất nhiều độc giả yêu thích nên B đã viết tiếp theo cốt truyện của anh A. Nhưng người thừa kế quyền tác giả của anh A không đồng ý vì cho rằng như thế là vi phạm quyền tác giả. Còn B cho rằng mình có quyền tác giả đối với phần viết mới này, phần này độc lập với phần của anh A và được độc giả cũng rất yêu thích. Tranh chấp xảy ra. Theo anh (chị) anh B có vi phạm quyền tác giả của anh A không. Tranh chấp này được giải quyết thế nào, vì sao?

Trang 1

BÀI TẬP TINH HUỐNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Tình huống 1: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền tác giả

A là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm X không may bị tai nạn qua đời, vì tác phẩm được rất nhiều độc giả yêu thích nên B đã viết tiếp theo cốt truyện của anh A Nhưng người thừa kế quyền tác giả của anh A không đồng ý vì cho rằng như thế là vi phạm quyền tác giả Còn B cho rằng mình có quyền tác giả đối với phần viết mới này, phần này độc lập với phần của anh A và được độc giả cũng rất yêu thích Tranh chấp xảy ra

Theo anh (chị) anh B có vi phạm quyền tác giả của anh A không Tranh chấp này được giải quyết thế nào, vì sao?

Bài làm

Về luật điều chỉnh

Anh B là cá nhân Việt Nam, đáp ứng các điều kiện về năng lực theo Bộ luật Dân sự Anh

A cũng là cá nhân Việt Nam, là tác giả tác phẩm X và cũng thỏa điều kiện về năng lực Đối tượng tranh chấp là quyền tác giả đối với tác phẩm X Do đó, tranh chấp này thuộc điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ theo Điều 1, Điều 2 luật này

Điều 1 Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó.

Điều 2 Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Về đồng tác giả

Điều kiện để là đồng tác giả khi cả 2 cùng sáng tạo ra tác phẩm, đã cùng bỏ sức sáng

tạo, tài chính, cơ sở vật chất, kinh tế; công sức để tạo ra tác phẩm

Trong trường hợp này, có thể thấy không hề có sự cùng hợp tác giữa A và B, cả 2 đã không cùng tạo ra tác phẩm, giữa 2 bên cũng không hề có sự tương hỗ tài chính hoặc cơ

sở vật chất cùng để tạo ra tác phẩm

Do đó, có thể thấy rằng A và B không là đồng tác giả theo Điều 38 Luật Sở hữu trí tuệ

Điều 38 Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả

Trang 2

1 Các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm có chung các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với tác phẩm đó.

Về tính độc lập của tác phẩm

Tác phẩm của A và B, có thể có sự liên quan về nội dung; nhưng bản chất, đây là vẫn là 2 tác phẩm hoàn toàn riêng biệt, nếu bỏ đi phần này thì phần kia vẫn có giá trị nghệ thuật

và giữ được bản chất sử dụng của nó, giữa hai phần này không hề có sự phụ thuộc về nội dung và giá trị sử dụng Ngoài ra, tác phẩm của B không phải là tác phẩm dịch hay phóng tác, cải biên… từ tác phẩm của A nên cũng không phải là tác phẩm phái sinh B là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm một cách độc lập và là tác giả của tác phẩm phần sau

Do đó có thể nói rằng đây là 2 tác phẩm độc lập và B có quyền tác giả đối với tác phẩm của minh

Cơ sở pháp lý:

Điều 13 Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

1 Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo

ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.

Về việc B có vi phạm quyền tác giả không?

Thứ nhất, cần xác định xem B có sử dụng tác phẩm của A hay không? Sử dụng là việc khai thác 1 trong các quyền tài sản của tác phẩm như sao chép, biểu diễn, truyền đạt… Tuy nhiên, như đã phân tích, tác phẩm B được tạo ra độc lập, không hề có sự làm tác phẩm phái sinh hay sao chép gì ở đây cả, do đó B không hề sử dụng tác phẩm của A

Cơ sở pháp lý: Khoản 1, Khoản 3 – Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ

Điều 20 Quyền tài sản

1 Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

a) Làm tác phẩm phái sinh;

b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

c) Sao chép tác phẩm;

d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

Trang 3

e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

3 Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Thứ hai, cần xác định hành vi của B có xâm phạm quyền tác giả của A không? các hành

vi xâm phạm quyền tác giả được quy định trong luật như chiếm đoạt, sử dụng, công bố, làm tác phẩm phái sinh… tuy nhiên, việc làm tác phẩm của B hoàn toàn độc lập và không thuộc bất kỳ điểm nào trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả

Cơ sở pháp lý: Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ

Do đó có thể kết luận rằng, hành vi của B không hề vi phạm quyền tác giả của A

Tính mới của tác phẩm

Tính mới là sự khác biệt đáng kể so với những tác phẩm đã có sẵn Việc tính mới trong tác phẩm không được dùng là điều kiện để tác phẩm được thừa nhận bảo hộ bởi các lý do sau:

Thứ nhất, về tính ứng dụng Đối với các sự sáng tạo khác, chẳng hạn sáng chế Tính ứng

dụng của sáng chế là rất lớn khi giải quyết được 1 vấn đề kỹ thuật Trong khi đó, nhìn vào các loại hình tác phẩm được bảo vệ, có thể thấy chúng mang tính nghệ thuật hoặc thiên về lý thuyết nhiều hơn Tính ứng dụng càng cao, càng đòi hỏi sự sáng tạo, mới mẻ của nó, trong khi đó, tác phẩm không thiên về tính ứng dụng mà mang tính giải trí nhiều hơn, do đó tính mới của tác phẩm không thực sự quan trọng

Thứ hai, mục đích sử dụng tác phẩm như đã nói mang tính giải trí nhiều hơn, do đó mỗi

cá nhân tạo ra tác phẩm chắc chắn sẽ rất đa dạng, việc trùng lặp hoàn toàn ý tưởng là rất khó xảy ra, nên có thể thấy rằng tính mới luôn xuất hiện trong tác phẩm Ngoài ra, tác phẩm còn có tính kế thừa, do đó việc tác phẩm có trùng lại 1 vài ý tưởng cũng không là vấn đề, càng nhiều tác phẩm thì món ăn tinh thần càng phong phú, càng tốt

Do đó không có lý do gì lại dùng tính mới để hạn chế sự bảo hộ tác phẩm cả

Kết luận: B không vi phạm quyền tác giả của A và B có quyền tác giả với phần truyện tự viết tiếp

Tình huống 2: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu

Đài truyền hình Việt Nam (VTV) là chủ sở hữu tại Việt Nam của những nhãn hiệu dịch

vụ “ Đường lên đỉnh Olympia” (nhóm 41- dịch vụ giải trí) Bộ giáo dục và Đào tạo tổ chức cuộc thi Olympic Mac-Lenin VTV yêu cầu Bộ giáo dục và Đào tạo phải đổi tên cuộc thi để tránh nhầm lẫn với nhãn hiệu “Olympia” của mình Bộ GD&ĐT cho rằng tên

Trang 4

gọi hai cuộc thi là khác nhau, vả lại Olympic là tên gọi phổ biến nên không thể được bảo

hộ dưới dạng NHHH Anh (chị) đồng ý với ý kiến của ai?

Bài làm

Trong tình huống trên tác giả đồng ý với ý kiến của Bộ GD&ĐT

1 Hai tên gọi hai cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” và “ Olympic Mac-Lenin” là khác nhau và không dễ gây nhầm lẫn.

Olympia là tên một thành phố của Hi Lạp ngày nay, Olympia trước đây là nơi diễn ra thế vận hội Olympic cổ đại Tên gọi Olympic là tên phiên âm tiếng việt của Olympiad (có từ cách đây gần 3000 năm) bắt nguồn từ cuộc tranh tài thể thao giữa các quốc gia toàn thế giới và dần dần phổ biến và mở rộng sang các cuộc thi về các môn khoa học ngoài thể thao mang tầm quốc tế (có sự tham gia của rất nhiều quốc gia trên thế giới) như: IMO (Olympic toán học quốc tế), IPhO (Olympic vật lý quốc tế), IChO (Olympic hóa học quốc tế),… Việc sử dụng từ Olympic trong tên cuộc thi của Bộ GD&ĐT nhằm thể hiện tinh thần của thi đấu và cũng nhằm để công bố là đây là 1 cuộc thi về kiến thức triết học Mac- Lenin Còn chương trình truyền hình “ Đường lên đỉnh Olympia” thể hiện sự vinh quang khi vượt qua bao khó khăn để chiến thắng của người chơi, mượn ý nghĩa của đỉnh Olympia trong thần thoại Hy lạp trước để chỉ nơi đạt đến vinh quang Do đó, tính chất hai cuộc thi là khác nhau và tên gọi cũng khác biệt

2 Olympic là tên gọi phổ biến

Tên gọi Olympic đã có từ cách đây rất lâu (gần 3000 năm), được biết đến rộng rãi nên biểu tượng cũng như tên gọi Olympic thuộc về tất cả mọi người và được sử dụng rộng rãi, thường xuyên Hiện nay, mọi cuộc thi có tính mở rộng, người ta có thể sử dụng từ Olympic kèm tên lĩnh vực thi làm tên gọi cuộc thi

2.1 Theo tiết b khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ, tên Olympic do quá thông dụng nên được coi là nhãn hiệu không có khả năng phân biệt

Điều 74 Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

2 Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch

vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;”

2.2 Theo khoản 2 điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, tên Olympic không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hàng hóa bởi không có khả năng phân biệt

Điều 72 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Trang 5

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1 – Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình

ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

2 – Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.

2.3 Mặt khác, theo khoản 2 điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ, những dấu hiệu không được bảo

hộ với danh nghĩa nhãn hiệu là “dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên viết tắt, tên đầy đủ của tổ chức quốc tế nếu không được tổ chức đó cho phép” Từ Olympic trùng với tên Ủy ban quốc tế về thể thao nên sẽ không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu

Điều 73 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu

Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:

2 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép.

=> Tên gọi cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” sẽ không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hàng hóa mà bất kỳ cá nhân tổ chức nào cũng có thể sử dụng từ Olympic, hơn nữa tên gọi hai cuộc thi là khác nhau như trên đã giải thích nên việc VTV yêu cầu bộ GD&ĐT đổi tên cuộc thi để tránh nhầm lẫn với nhãn hiệu Olympia của mình là không hợp lý và không được pháp luật chấp nhận

Tình huống 3: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về phát minh và sáng chế

Xưa nay người ta vẫn dùng phương pháp trộn bê tông ướt giữa xi măng, sỏi và cát Độ đông cứng của bê tông được tăng cường bởi chất phụ gia X theo tỷ lệ k% Một hôm do đãng trí anh Bình pha quá nhiều phụ gia X, đồng thời lại cho sỏi vào trước khi cho phụ gia và phát hiện ra rằng do sỏi tạo sẵn các kẽ hở trong hợp chất bê tông trước khi trộn, đồng thời tỷ lệ phụ gia thích hợp hơn, nên bê tông đông cứng nhanh hơn hẳn, rất thích hợp cho công trình hầm hay trụ cầu Anh Bình xin đăng ký bảo hộ phát minh sáng chế, song mọi người can rằng việc tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông là chuyện hiển nhiên, trong nghề xây dựng ai cũng biết, vì thế anh sẽ không đủ tiêu chuẩn để được bảo

hộ Họ có đúng không?

Bài làm

1 Việc tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông của anh Bình KHÔNG thuộc đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế

Trang 6

Theo điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ về đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế

Điều 59 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế

Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:

1 Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học.

2 Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính.

3 Cách thức thể hiện thông tin.

4 Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ.

5 Giống thực vật, giống động vật.

6 Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải

là quy trình vi sinh.

7 Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.

2 Giải pháp của anh Bình có khả năng áp dụng công nghiệp

Tham khảo thêm: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về Bảo hộ quyền tác giả

Theo điều 62 Luật Sở hữu trí tuệ về khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế

Điều 62 Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế

Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định.

3 Giải pháp tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông của anh Bình không đáp ứng điều kiện có trình độ sáng tạo nên không đủ tiêu chuẩn được bảo hộ độc quyền sáng chế

3.1 Theo điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ quy định thì sáng chế có trình độ sáng tạo phải không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực

kỹ thuật tương ứng Việc tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông chuyện hiển nhiên, trong nghề xây dựng ai cũng biết cho nên giải pháp đó của anh Bình được cho là không đảm bảo trình độ sáng tạo

Điều 61 Trình độ sáng tạo của sáng chế

Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức

Trang 7

nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

3.2 Những người đóng góp ý kiến cho anh Bình có lý khi nói rằng anh sẽ không đủ tiêu chuẩn để được bảo hộ sáng chế bởi giải pháp của anh không đảm bảo có trình độ sáng tạo (theo khoản 1 điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ)

Điều 58 Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ

1 Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

b) Có trình độ sáng tạo;

c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.

Xét tính mới của giải pháp anh Bình đưa ra

Trường hợp giải pháp kỹ thuật này chưa được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng,

mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên Giải pháp của anh Bình được coi là có tính mới (khoản 1 điều

60 Luật Sở hữu trí tuệ) Mặc dù anh không được cấp bằng độc quyền sáng chế nhưng được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích (khoản 2 điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ)

Điều 60 Tính mới của sáng chế

1 Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.

4.1 Trường hợp có một số người có hạn đã biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về giải pháp này.

Theo khoản 1, 2 điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ thì việc tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông vẫn được coi là có tính mới Tương tự như ý trên, anh Bình sẽ được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích

4.2 Trường hợp giải pháp anh Bình có được đã được công bố trước ngày nộp đơn đăng

ký bảo hộ.

Trang 8

– Nếu đơn đăng ký được nộp trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày công bố và việc công bố thuộc các hình thức nêu trong tiết a, b, c khoản 3 điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ thì giải pháp anh Bình đưa ra vẫn đảm bảo có tính mới và tương tự vẫn được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích

– Ngoài các trường hợp nêu trên, giải pháp tạo kẽ hở làm bê tông mau khô của anh Bình

sẽ không đảm bảo tính mới và không được bảo hộ độc quyền cả cho sáng chế lẫn giải pháp hữu ích

Tình huống 6: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về phát minh và sáng chế

Ngày 1/2/2006 anh A nộp đơn đăng ký độc quyền sáng chế đối với sản phẩm dao cạo râu

3 lưỡi, trong quá trình thụ lý đơn thì 15/10/2006 anh A rút đơn đăng ký vì cho rằng sáng chế trên có đưa vào sản xuất lâu thu hồi vốn Ngày 1/12/2006 anh B cũng nghiên cứu và chế tạo thành công dao cạo râu 3 lưỡi (nghiên cứu độc lập với A) Ngày 1/3/2007 anh nộp đơn đăng ký tại cục Sở hữu trí tuệ thì bị người có thẩm quyền của cục từ chối với lý do sáng chế trên không có tính mới vì anh A đã bộc lộ ngày 1/2/2006

Theo anh/chị

1 Việc từ chối của người thụ lý đơn của cục Sở hữu trí tuệ đúng hay sai?

2 Tư vấn gì cho anh B

Bài làm

1 Về việc bộc lộ

Việc bộc lộ phải hiểu rằng sáng chế đó đã được công khai cho người khác biết, việc công khải phải bằng (i) sử dụng, (ii) mô tả bằng văn bản và (iii) hình thức khác

Việc anh A nộp đơn sau đó hủy bỏ, có thể thấy các vấn đề sau:

Thứ nhất, việc anh A nộp đơn không thể xem là mô tả bằng văn bản vì đó là các giấy tờ

gửi lên cho cục đăng ký Sở hữu trí tuệ, việc này đang trong giai đoạn thụ lý nên không thể xem là công khai các văn bản đó ra công chúng

Thứ hai, A chỉ mới nộp đơn, tức sản phẩm chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử

dụng nào (sản xuất, khai thác, quảng cáo…) nên không thể xem là đã bị bộc lộ

Thứ ba, các hình thức khác: anh A ngoài việc nộp đơn, đơn còn đang trong quá trình thụ

lý nên không thể xem đây là việc công khai bộc lộ ở các hình thức khác

Trang 9

Do đó, hoàn toàn có thể khẳng định sáng chế trên chưa bị mất tính mới nên việc từ chối của cục Sở hữu trí tuệ là sai quy định

Cơ sở pháp lý: K1-60, K1-124, 111 Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Anh B có quyền ý kiến phản đối dự định từ chối của Cục Sở hữu trí tuệ và yêu cầu Cục thẩm định lại Cục phải thẩm định lại trong vòng 18 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu của anh B

Cơ sở pháp lý: 3a-117, 2a-119 Luật Sở hữu trí tuệ.

Tình huống 7: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về phát minh và sáng chế

Anh A là nhân viên Công ty X (công ty này chuyên sản xuất các mặt hàng công nghiệp)

và là tác giả của phương pháp xử lý nước thải từ các nhà máy công nghiệp Tuy nhiên, giữa anh A và Công ty X xảy ra bất đồng trong việc xác định tác giả của phương pháp này Theo anh/chị:

1 Tác giả của phương pháp này là anh A hay Công ty X?

2 Anh A/Công ty X nên đăng ký bảo hộ sáng chế hay bảo mật phương pháp với ý nghĩa là một bí mật kinh doanh?

Bài làm

1 Tác giả của phương pháp này là anh A hay Công ty X?

Về tác giả của PP:

TH1: anh A vì là nhân viên, thường xuyên thực hiện hoạt động của công ty nên đã tự mình nảy ra ý tưởng về phương pháp xử lý nước thải Anh A là người trực tiếp sáng tạo

ra phương pháp này, do đó anh A chính là tác giả của phương pháp xử lý nước thải

Cơ sở pháp lý: Khoản1 Điều 122 Luật Sở hữu trí tuệ

TH2: anh A cùng chính công ty nghiên cứu, hợp tác để sáng tạo ra phương pháp xử lý nước thải, khi này cả 2 là đồng tác giả

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 122 Luật Sở hữu trí tuệ

2 Anh A/Công ty X nên đăng ký bảo hộ sáng chế hay bảo mật phương pháp với ý nghĩa là một bí mật kinh doanh?

Trang 10

Về tính pháp lý khi đăng ký

TH1: anh A đăng ký bảo hộ sáng chế

Phương pháp này của anh A rõ ràng là 1 quy trình nhằm giải quyết vấn đề xác định là nước thải doanh nghiệp bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên, rõ ràng là phù hợp với định nghĩa sáng chế

Cơ sở pháp lý: Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ

Phương pháp của anh A có thể có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng được trong công nghiệp Ngoài ra, nếu không có tính mới thì vẫn được bảo hộ với hình thức giải pháp hữu ích

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều58 Luật Sở hữu trí tuệ

Do đó về tính chất pháp lý thì khả năng được chấp nhận đăng ký với hình thức sáng chế khá cao

TH2: anh A đăng ký bí mật kinh doanh

Để là bí mật kinh doanh phải không là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được Việc hệ thống xử lý nước thải ở nước ta hiện nay cũng đã có nhiều quy trình như vậy, việc trùng lặp là khó tránh, nên không thể coi là không phải hiểu biết thông thường Ngoài ra đây là 1 phương pháp giải quyết vấn đề kĩ thuật, không hẳn là 1 phương pháp giúp tạo lợi thế hơn hẳn trong quá trình kinh doanh so với các doanh nghiệp khác

Do đó, khả năng được chấp nhận với hình thức này là không cao

Cơ sở pháp lý: Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ

Về các quyền áp dụng

Nếu đăng ký sáng chế, anh A có được các quyền như (i) sx (ii) áp dụng (iii) khai thác (iv) lưu thông và (v) nhập khẩu Trong khi đó, nếu với hình thức bí mật kinh doanh, anh A chỉ được (i) áp dụng và (ii) bán bí mật đó, mà quyền áp dụng thì nếu đăng ký sáng chế anh A cũng có quyền tương tự

Ngoài ra, với thực tiễn sử dụng của phương pháp này, có thể sử dụng trên thực tế cả 4 quyền sử dụng trên Nếu anh A đăng ký bí mật kinh doanh thì sẽ tự thu hẹp khả năng sử dụng của phương pháp khi mà thực tế khả sử dụng là nhiều hơn

Về rủi ro

Ngày đăng: 10/06/2023, 15:18

w