1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài kiểm tra giữa kì Môn Lịch sử Đảng

13 303 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài kiểm tra giữa kỳ môn lịch sử Đảng
Người hướng dẫn PTS. Lương Thị Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng
Thể loại Bài kiểm tra giữa kỳ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 28,36 KB
File đính kèm BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ.rar (26 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ Môn học: Lịch sử Đảng Giảng viên: TS. Lương Thị Phương Thảo Sinh viên: Vũ Mạnh Cường 19021582 Câu 1 (5 điểm): Phân tích đường lỗi kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 19461954. Chỉ rõ tính cách mạng và khoa học của đường lối. 1. Bối cảnh lịch sử nước ta: Đảng, Chính phủ và nhân dân ta muốn hoà bình nên đã nhân nhượng kí với Pháp Hiệp định Sơ bộ 63 và Tạm ước 149. Chấp hành chủ trương của Chính phủ, nhân dân ta kiên trì đấu tranh giữ vững hoà bình, tranh thủ thời gian để chuẩn bị lực lượng, đề phòng khả năng bất trắc phải kháng chiến chống Pháp lâu dài. Chính phủ Pháp không thành thật trong việc kí Hiệp định Sơ bộ 631946 và Tạm ước 1491946 với Việt Nam, nên kí xong lại tìm cách phá hoại, đẩy mạnh việc chuẩn bị xâm lược nước ta một lần nữa. Tháng 111946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng cả thành phổ Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà Nẵng và gây nhiều cuộc khiêu khích, tàn sát đồng bào ta ở Hà Nội. Trung ương Đảng đã chỉ đạo tìm cách liên lạc với phía Pháp để giải quyết vấn đề bằng biện pháp đàm phán, thương lượng. Trước việc Pháp gửi tối hậu thư đòi ta tước vũ khí của tự vệ Hà Nội, để cho chúng kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô, ngày 19121946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh để hoạch định chủ trương đối phó. Hội nghị đã cử phái viên đi gặp phía Pháp để đàm phán, song không có kết quả. Hội nghị cho rằng, hành động của Pháp chứng tỏ chúng cố ý muốn cướp nước ta một lần nữa. Khả năng hòa hoãn không còn. Hòa hoãn nữa sẽ dẫn đến họa mất nước. Trong thời điểm lịch sử phải quyết đoán ngay, Hội nghị đã quyết định hạ quyết tâm phát động cuộc kháng chiến trong cả nước và chủ động tiến công trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch đảo chính quân sự ở Hà Nội. Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20 giờ ngày 19121946, tất cả các chiến trường trong cả nước đã đồng loạt nổ súng. Rạng sáng ngày 20121946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Câu 2 (5 điểm): Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) chỉ rõ:Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công nông, trí thức, do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và các nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn thể xã hội Hãy phân tích luận điểm trên. Nhận thức của anhchị về trách nhiệm của sinh viên và của bản thân trong việc xây dựng khối đại đoàn kết? I. Bối cảnh lịch sử: 1. Thuận lợi: Quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hoá và bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm, thiên tai và các đại dịch... Tình hình đất nước ta sau 15 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo thế và lực để thúc đẩy công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu. Cụ thể như sau: Kinh tế tăng trưởng khá Văn hoá, xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chú trọng; hệ thống chính trị được củng cố Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội (19912000) đã đạt những thành tựu to lớn và rất quan trọng Đánh giá về nước ta trong thế kỷ XX, Đại hội khẳng định: Thế kỷ XX là thế kỷ của những biến đổi to lớn, thế kỷ đấu tranh oanh liệt giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH, thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại. 2. Khó khăn Bên cạnh đó, phải đối mặt với những yếu kém, khuyết điểm sau đây: Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp Một số vấn đề văn hoá xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết Cơ chế, chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng

Trang 1

BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ

Môn học: Lịch sử Đảng Giảng viên: TS Lương Thị Phương Thảo Sinh viên: Vũ Mạnh Cường - 19021582

Câu 1 (5 điểm): Phân tích đường lỗi kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

1946-1954 Chỉ rõ tính cách mạng và khoa học của đường lối.

1 Bối cảnh lịch sử nước ta:

Đảng, Chính phủ và nhân dân ta muốn hoà bình nên đã nhân nhượng kí với Pháp Hiệp định Sơ

bộ 6/3 và Tạm ước 14/9 Chấp hành chủ trương của Chính phủ, nhân dân ta kiên trì đấu tranh giữ vững hoà bình, tranh thủ thời gian để chuẩn bị lực lượng, đề phòng khả năng bất trắc phải kháng chiến chống Pháp lâu dài Chính phủ Pháp không thành thật trong việc kí Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946

và Tạm ước 14/9/1946 với Việt Nam, nên kí xong lại tìm cách phá hoại, đẩy mạnh việc chuẩn bị xâm lược nước ta một lần nữa

Tháng 11-1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng cả thành phổ Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà Nẵng và gây nhiều cuộc khiêu khích, tàn sát đồng bào ta ở Hà Nội Trung ương Đảng đã chỉ đạo tìm cách liên lạc với phía Pháp để giải quyết vấn đề bằng biện pháp đàm phán, thương lượng

Trước việc Pháp gửi tối hậu thư đòi ta tước vũ khí của tự vệ Hà Nội, để cho chúng kiểm soát

an ninh trật tự ở Thủ đô, ngày 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh để hoạch định chủ trương đối phó Hội nghị đã cử phái viên đi gặp phía Pháp để đàm phán, song không có kết quả Hội nghị cho rằng, hành động của Pháp chứng tỏ chúng cố ý muốn cướp nước ta một lần nữa Khả năng hòa hoãn không còn Hòa hoãn nữa sẽ dẫn đến họa mất nước Trong thời điểm lịch sử phải quyết đoán ngay, Hội nghị đã quyết định hạ quyết tâm phát động cuộc kháng chiến trong cả nước và chủ động tiến công trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch đảo chính quân sự ở Hà Nội Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi Vào lúc 20 giờ ngày 19-12-1946, tất cả các chiến trường trong cả nước đã đồng loạt nổ súng Rạng sáng ngày 20-12-1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam

Trang 2

Thuận lợi của nhân dân ta khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là ta chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc và đánh địch trên đất nước mình nên có chính nghĩa, có "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" Ta cũng đã có sự chuẩn bị cần thiết về mọi mặt nên về lâu dài, ta sẽ có khả năng đánh thắng quân xâm lược Trong khi đó, thực dân Pháp cũng có nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, quân sự ở trong nước và tại Đông Dương không dễ gì có thể khắc phục được ngay

Khó khăn của ta là tương quan lực lượng quân sự yếu hơn địch Ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào công nhận, giúp đỡ Còn quân Pháp lại có vũ khí tối tân, đã chiếm đóng được hai nước Campuchia, Lào và một số nơi ở Nam Bộ Việt Nam, có quân đội đứng chân trong các thành thị lớn ở miền Bắc

Những đặc điểm của sự khởi đầu và các thuận lợi, khó khăn đó là cơ sở để Đảng xác định đường lối cho cuộc kháng chiến

2 Cở sở lí luận thực tiễn

Xuất phát từ những nguyên lý cơ bản về chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mac-Lenin; xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cách mạng, của bối cảnh lịch sử lúc bầy giờ; xuất phát từ truyền thống yêu nước của nhân dân ta và được kế thừa những kinh nghiệm đánh giặc ngoại xâm của cha ông Đường lối kháng chiến của Đảng đã được đề ra vô cùng đúng đắn, sang tạo và kịp thời Có tác dụng to lớn trong việc đưa cuộc kháng chiến nhanh chóng vào giai đoạn ổn định và phát triển đúng hướng

- Cơ sở khách quan:

+ Hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời

+ Phong trào cách mạng giải phóng trên thế giới được nâng cao

+ Phong trào giải phóng dân tộc ngày càng phát triển

- Cơ sở chủ quan

+ Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời

+ Nhân đan Việt Nam có truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng

+ Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo

3 Nội dung đường lối kháng chiến

Trang 3

Đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng được thể hiện tập trung trong ba văn kiện lớn được soạn thảo và công bố ngay trước và sau ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Đó là văn kiện “Toàn dân kháng chiến” của Trung ương Đảng (12-12-1946), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chi Minh (19-12-1946) và tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Trường Chinh

Mục đích kháng chiến: Kế tục và phát triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh phản động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập"

Tính chất kháng chiến: "Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài" "Là một cuộc chiến tranh tiến bộ Vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình" Đó là cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới

Kháng chiến toàn dân: toàn dân kháng chiến, toàn dân đánh giặc, trong đó lấy lực lượng

vũ trang nhân dân làm nòng cốt.

Đường lối này xuất phát từ truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta; từ mục đích của cuộc kháng chiến là vì độc lập dân tộc, vì tự do dân chủ của nhân dân; từ quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác – Lênin; từ tư tưởng “chiến tranh nhân dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và từ chủ trương “kháng chiến toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh” Muốn phát huy sức mạnh của toàn dân kháng chiến phải đánh lâu dài, muốn có lực lượng đánh lâu dài phải huy động lực lượng toàn dân Có lực lượng toàn dân tham gia mới thực hiện được kháng chiến toàn diện và tự lực cánh sinh.

Kháng chiến toàn diện: kháng chiến trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao.

Sở dĩ phải kháng chiến toàn diện vì địch đánh ta toàn diện, ta cũng phải chống chúng toàn diện Đồng thời, ta vừa “kháng chiến” vừa “kiến quốc”, tức là xây dựng chế độ mới nên phải xây dựng toàn diện Mặt khác, thông qua những hình thức của cuộc kháng chiến toàn diện mới tạo điều kiện cho toàn dân tham gia kháng chiến tuỳ theo khả năng của mình.

- Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình

Trang 4

- Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh chính quy, là "Triệt để dùng du kích, vận động chiến Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài Vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ"

- Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng

- Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới theo

ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng

- Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực "Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống pharn động thực dân Pháp", sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập

Kháng chiến trường kì: đánh lâu dài.

- Đây là một chủ trương sáng suốt của Đảng dựa trên sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh của nước ta một cách khoa học; đồng thời, kế thừa, phát huy truyền thống của dân tộc “lấy yếu chống mạnh”, “lấy chính nghĩa thắng hung tàn”.

- Mặt khác, lúc mở đầu chiến tranh, địch mạnh hơn ta rất nhiều về quân sự Chúng có cả một đội quân nhà nghề, trang bị hiện đại, vũ khí tối tân, lại có các đế quốc khác giúp đỡ Âm mưu của chúng là đánh nhanh thắng nhanh để kết thúc chiến tranh Ngược lại, quân đội ta còn non trẻ, vũ khí thô sơ Ta đánh lâu dài để vừa đánh, vừa tiêu hao dần lực lượng của địch, phát triển dần lực lượng của ta, đợi đến khi ta mạnh hơn địch mới đánh bại được chúng.

Tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế: kháng chiến dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ quốc tế.

- Đảng ta đề ra chủ trương này vì hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó yếu tố chủ quan giữ vai trò quyết định nhất “Tự lực cánh sinh” sẽ phát huy tiềm năng vốn có của cả dân tộc Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế nhưng ta không ỷ lại vào sự giúp đỡ đó.

- “Lấy sức ta mà giải phóng cho ta” là quan điểm xuyên suốt trong tiến trình cách mạng của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo Đây là con đường duy nhất đúng để phát huy tiềm năng vốn có của dân tộc: truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực tự cường… Sức mạnh nội sinh một khi được khơi dậy thì sự giúp đỡ của bên ngoài mới được phát huy Hơn nữa, chỉ khi biết dựa vào chính mình thì mới không trông chờ, ỷ lại.

4 Đánh giá

Trang 5

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta giành thắng lợi là điều tất yếu Đó là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, có hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân, có hậu phương rộng lớn, vững chắc; lực lượng vũ trang không ngừng lớn mạnh, mặt trận dân tộc thống nhất củng cố, mở rộng Bên cạnh đó có sự đoàn kết đấu tranh chiến đấu của ba dân tộc Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia); được sự giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các lục lượng dân chủ và tiến bộ trên thế giới

Đường lối kháng chiến trên của Đảng nhằm phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện của dân tộc, khắc phục những nhược điểm về vật chất, kỹ thuật, vừa đánh vừa bồi dưỡng sức dân, làm cho ta càng đánh càng mạnh để cuối cùng giành thắng lợi hoàn toàn

Đường lối kháng chiến của Đảng ngày càng phát triển hoàn chỉnh hơn trong quá trình kháng chiến, nhất là qua Đại hội lần thứ II (1951) và qua các Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng trong những năm cuối của cuộc kháng chiến

Đường lối kháng chiến đó được thể hiện một cách phong phú, sinh động trong thực tiễn kháng chiến của quân và dân ta trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá

Câu 2 (5 điểm): Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) chỉ rõ:"Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công- nông, trí thức,

do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và các nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn thể xã hội" Hãy phân tích luận điểm trên Nhận thức của anh/chị về trách nhiệm của sinh viên và của bản thân trong việc xây dựng khối đại đoàn kết?

I Bối cảnh lịch sử:

1 Thuận lợi:

- Quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hoá và bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm, thiên tai và các đại dịch Tình hình đất nước ta sau 15 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo thế và lực để thúc đẩy công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu Cụ thể như sau:

- Kinh tế tăng trưởng khá

Trang 6

- Văn hoá, xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện

- Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường

- Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chú trọng; hệ thống chính trị được củng cố

- Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt

- 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (1991-2000) đã đạt những thành tựu to lớn và rất quan trọng

- Đánh giá về nước ta trong thế kỷ XX, Đại hội khẳng định: Thế kỷ XX là thế kỷ của những biến đổi to lớn, thế kỷ đấu tranh oanh liệt giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH, thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại

2 Khó khăn

Bên cạnh đó, phải đối mặt với những yếu kém, khuyết điểm sau đây:

- Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp

- Một số vấn đề văn hoá - xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết

- Cơ chế, chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển

- Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng

II Phân tích, làm rõ luận điểm

Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Chúng ta một lần nữa khẳng định: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những

thập kỷ tới Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ

nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ðoàn kết là một truyền thống tốt đẹp, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển đất nước; điều này được thể hiện đậm nét trong lịch sử dân tộc ta, nhất là trong cuộc cách mạng giải phóng đất

Trang 7

nước Trong công cuộc đổi mới, Ðảng ta tiếp tục xác định xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực chủ yếu, nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) chỉ rõ:"Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết

toàn dân trên cơ sở liên minh công- nông, trí thức, do Đảng lãnh đạo…” Nhận định về chủ trương của Đảng hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, cho thấy tầm nhìn thấu suốt, có tính chân lý cho sự phát triển của đất nước và đời sống của nhân dân.

Nói đến động lực phát triển xã hội là nói đến khả năng, nhất là khả năng trí tuệ của con người,

có thể tạo nên sức mạnh to lớn của toàn xã hội, làm chuyển động và thay đổi một cách toàn diện xã hội theo hướng phát triển, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của con người Nhưng để biến những khả năng đó thành hiện thực trong cuộc sống thì phải có một lực lượng xã hội to lớn, đó là khối đại đoàn kết toàn dân Động lực phát triển đất nước cũng có sự thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, trong đó có những yếu tố tồn tại một cách xuyên suốt, vĩnh hằng

Bất kỳ quốc gia, dân tộc nào muốn phát triển cũng phải tạo ra sức mạnh đoàn kết của quốc gia, dân tộc đó Đối với Việt Nam, sự hình thành khối đại đoàn kết toàn dân có tính đặc thù do phải trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách để chống lại thiên tai, dịch bệnh khắc nghiệt và các kẻ thù xâm lược hùng mạnh hơn từ bên ngoài Do đó, đoàn kết đã được hun đúc từ đời này qua đời khác và trở thành một truyền thống quý báu lâu đời, sức mạnh vô địch của dân tộc ta Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra những kết luận có tính chân lý: “Đoàn kết làm ra sức mạnh”, “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đã được kế thừa và phát triển đến cao độ; được thể hiện nhất quán và xuyên suốt quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định rõ những động lực phát triển đất nước, bao gồm: Đại đoàn kết toàn dân tộc; Dân chủ xã hội chủ nghĩa; kết hợp hài hòa lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, quan tâm lợi ích thiết thân của con người; Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Công bằng xã hội; Đổi mới, sáng tạo… Trong đó, đại đoàn kết toàn dân tộc được xem là động lực hàng đầu

Riêng nhận thức về đại đoàn kết dân tộc, động lực chủ yếu của sự phát triển trong 30 năm đổi mới, cũng có những thay đổi, phát triển phù hợp với điều kiện thực tế Đó là xây dựng đại đoàn kết gắn với đồng thuận xã hội, trong đó đồng thuận vừa là phương thức vừa là mục tiêu của đại đoàn

Trang 8

kết; đã hình thành những bộ phận mới trong khối đại đoàn kết và ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển đất nước như doanh nhân chẳng hạn; hình thành phương châm mới xây dựng đại đoàn kết là gắn với phát huy dân chủ, xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung…

Sở dĩ, đại đoàn kết toàn dân tộc được Đảng ta coi là động lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi của

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, khi được quy tụ, tổ chức, có sự lãnh đạo thống nhất, thì sẽ động viên đến mức cao nhất sức mạnh của tất

cả các giai tầng trong xã hội, đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước để hướng đến mục tiêu chung

là xây dựng và phát triển “Một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Do đó, đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển đất nước trong thời kỳ mới, khác với quan điểm tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp trước đây

Tuy nhiên, chỉ có sự đoàn kết thì chưa đủ, sức mạnh đoàn kết toàn dân chỉ thực sự phát huy

hết hiệu quả khi được xây dựng dựa trên nền tảng liên minh công- nông, trí thức, do Đảng lãnh đạo Điều này được chứng minh rất rõ qua lịch sử các cuộc đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất

nước của dân tộc Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám là kết quả của ba thời kỳ vận động cách mạng của Ðảng ta Thời kỳ Xô-viết Nghệ Tĩnh thể hiện tinh thần cách mạng rất kiên cường của công nhân, nông dân, song chưa xác định đúng vị trí của trí thức

Thời kỳ Mặt trận Dân chủ với hoạt động phong phú, năng động của lao động và trí thức chủ yếu ở các thành thị và có phối hợp với quốc tế

Ðến thời kỳ Mặt trận Việt Minh, kế thừa sức mạnh cách mạng của các thời kỳ trước và rút được những bài học kinh nghiệm quý, Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động và tổ chức lực lượng yêu nước của toàn dân tộc, tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, giành được chính quyền cách mạng trên cả nước, thể hiện sức mạnh tập trung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân, trí thức

Giai cấp công nhân là đội ngũ tiên phong, thông qua Ðảng Cộng sản lãnh đạo công cuộc cách mạng vĩ đại Công nhân liên minh với nông dân, hai giai cấp đó đã trở thành đội quân chủ lực

hùng hậu của cách mạng, sát cánh cùng trí thức tạo nên lực lượng chính trị rộng lớn, lực lượng vũ trang cách mạng kiên cường, làm nòng cốt cho khối đại đoàn kết dân tộc, phát triển chiến tranh nhân

Trang 9

dân ở cả nông thôn, rừng núi và thành thị, vừa dồn sức ra tiền tuyến vừa củng cố hậu phương, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa củng cố chính quyền cách mạng vừa phát huy dân chủ, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần

Công nhân, nông dân đã tạo ra sức mạnh quyết định để chiến thắng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, trụ vững trước mọi thử thách của chiến tranh lâu dài và sóng gió chính trị, là chỗ dựa để củng cố niềm tin vào thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ðội ngũ trí thức gắn bó với công nhân, nông dân, trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân

trí, phát triển khoa học, y tế, giáo dục, văn hóa, văn nghệ

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng công nhân, nông dân, trí thức, đã phát triển qua các thời kỳ: Mặt trận Việt Minh rồi Mặt trận Liên Việt đến Mặt trận Tổ quốc, đoàn kết, tập hợp mọi

tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, dân tộc, các nhân sĩ tiến bộ, trở thành một trong các nhân tố

thường xuyên quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Trong quá trình đó, Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công đào tạo, rèn luyện một đội ngũ đông đảo cán bộ mà phần lớn xuất thân từ công nhân, nông dân, trí thức, làm nòng cốt cho toàn

bộ hệ thống chính trị của đất nước, trung thành với sự nghiệp giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày, tiến lên Chủ nghĩa xã hội

Các thế hệ cán bộ kế tiếp nhau, được trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, đang đứng vững

ở vị trí của mình, hoàn thành mọi nhiệm vụ Có một bộ phận cán bộ trẻ, khó mà phân biệt xuất thân

từ công nhân, nông dân hay trí thức vì họ là con em cán bộ cách mạng, "cha truyền con nối", gắn bó máu thịt với cách mạng

Thực tiễn đấu tranh lâu dài đã chứng minh liên minh công, nông, trí là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì đây là cơ sở để tạo ra sức mạnh quyết định, bền vững trong kháng chiến cũng như kiến quốc, phát huy hiệu lực cao trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, thể hiện tập trung sức sống, sức vươn lên của dân tộc

Ngày nay, tình hình nước ta và thế giới đã có nhiều biến đổi quan trọng Nhân dân ta sau hơn

20 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Ðảng đã đạt được những thành tích lớn lao, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao

Nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Trang 10

theo hướng hiện đại vào năm 2020 Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra như vũ bão, sự giao lưu về kinh tế, văn hóa, khoa học mở rộng; song sự cạnh tranh càng quyết liệt trên quy mô toàn cầu Sự chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta diễn ra liên tục

Những vấn đề bảo vệ môi trường, gia tăng dân số, chống các dịch bệnh, thiên tai, nhu cầu về lương thực và năng lượng gia tăng đặt ra cho toàn cầu cả trước mắt và lâu dài

Trước tình hình thực tế đó, Ðảng ta đang lãnh đạo cả hệ thống chính trị của đất nước thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, nắm vững thời cơ thuận lợi, vượt qua mọi thử thách khó khăn, để thực hiện kỳ được mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam

Chúng ta huy động, tranh thủ tối đa ngoại lực, nhất là về vốn, kỹ thuật tiên tiến, mở rộng thị trường, song vấn đề quyết định là phải nâng cao hơn nữa và phát triển cao độ nội lực

Ðó là phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công, nông, trí Cụ thể hóa Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng, Trung ương Ðảng đã lần lượt xây dựng các nghị quyết về giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, vừa tăng cường được động lực cơ bản của cách mạng vừa giữ vững được ổn định chính trị, tạo ra bước phát triển nhanh và bền vững cho đất nước

Giai cấp công nhân đang phát triển mạnh mẽ, phát huy bản chất cách mạng, tính tiên phong, tiến quân vào các cơ sở công nghiệp trên cả nước, nhất là công nghiệp hiện đại, vươn lên làm chủ kỹ thuật công nghệ tiên tiến Một bộ phận công nhân mới vào nghề đang kế thừa truyền thống cách mạng của giai cấp, nâng cao tay nghề, giữ vững kỷ luật, lối sống văn minh

Giai cấp nông dân giữ vị trí trọng yếu trong sản xuất lương thực, bảo đảm nước ta trong tình huống nào cũng đủ lương thực và là một nước hàng đầu trong xuất khẩu gạo, có nhiều hàng hóa nông sản xuất khẩu Một bộ phận nông dân trở thành công nhân nông nghiệp và sáng tạo cách làm

ăn mới trong các hợp tác xã và trang trại kiểu mới

Ðội ngũ trí thức đang mở rộng và đi sâu vào nhiều chuyên ngành, phát huy tác dụng quan trọng trong các tổ chức của bộ máy Nhà nước, trong nghiên cứu khoa học và các lĩnh vực có trình

độ công nghệ cao, trong các ngành dịch vụ, quản lý kinh doanh, kinh tế tri thức, phát triển văn hóa, văn nghệ, y tế, giáo dục, làm chủ vũ khí công nghệ cao

Ngày đăng: 10/06/2023, 02:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w