BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LỊCH SỬo0oTIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài: Phân tích quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội khóa VIII Giảng viên hướng dẫn:Sinh viên thực hiệnHọ và tên:SHSV:Mã lớp:Trường:TS. Lương Thị Phương ThảoVũ Mạnh Cường19021582HIS1001 5Đại học Công nghệHà Nội 2021 LỜI CẢM ƠNTrong suốt quá trình học tập bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và quá trình thực hiện đề tài “Phân tích quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội khóa VIII” nói riêng, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của cô Lương Thị Phương Thảo – giảng viên môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành về sự giúp đỡ, hỗ trợ đó tới cô – cô giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho em hoàn thành đề tài này.Em xin chân thành cảm ơn cô nhiều ạ Phần mộtLỜI MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tàiCông nghiệp hóa là một giai đoạn tất yếu của mỗi quốc gia. Đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhất thiết phải trải qua công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa hiện đại hóa giúp phát triển lực lượng sản xuất, làm thay đổi căn bản công nghệ sản xuất, tăng năng suất lao động. Đồng thời, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là động lực phát triển kinh tếxã hội, tạo điều kiện tăng cường củng cố an ninh quốc phòng và là tiền đề cho việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc tế.Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta có thuận lợi cơ bản là nước đi sau, có thể học hỏi được kinh nghiệm thành công của những nước đi trước và có cơ hội rút ngắn thời gian thực hiện quá trình này. Việt Nam thực thực hiện quá trình này trong bối cảnh loài người đang bắt đầu chuyển sang phát triển kinh tế tri thức, với sự bùng nổ của tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ gen, công nghệ nano, công nghệ vật liệu mới... đúng như tiên đoán của C.Mác và Ph.Ăngghen từ giữa thế kỷ XIX: Tri thức sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Đây chính là cơ hội lịch sử hiếm hoi mà thời đại tạo ra để các nước đi sau như Việt Nam rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước đi trước. Việc chuyển nền kinh nước ta sang hướng phát triển dựa vào tri thức trở thành yêu cầu cấp thiết không thể trì hoãn.Công nghiệp hóa trước đổi mới diễn ra theo mô hình của Liên Xô, chỉ đến khi khởi đầu là đổi mới tư duy kinh tế và nhất là từ Đại hội VIII, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta mới được xác định một cách đầy đủ: là chìa khóa mở ra những cánh cửa, bước tiến nhảy vọt của đất nước. Chính vì vậy, để hiểu rõ và nắm chắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đó rút ra bài học, kinh nghiệm trong quá khứ và vận dụng vào hiện tại, đưa đất nước ngày một phát triển và tiến gần hơn tới thành công trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, em quyết định lựa chọn chủ đề 35: “Phân tích quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội VIII” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LỊCH SỬ
o0o TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài:
Phân tích quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội khóa VIII
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện
Họ và tên:
SHSV:
Mã lớp:
Trường:
TS Lương Thị Phương Thảo
Vũ Mạnh Cường 19021582
HIS1001 5 Đại học Công nghệ
Hà Nội 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung
và quá trình thực hiện đề tài “Phân tích quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội khóa VIII” nói riêng, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của cô Lương Thị Phương Thảo – giảng viên môn Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành về sự giúp đỡ, hỗ trợ đó tới cô – cô giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho em hoàn thành đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn cô nhiều ạ!
Trang 3Phần một LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Công nghiệp hóa là một giai đoạn tất yếu của mỗi quốc gia Đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhất thiết phải trải qua công nghiệp hóa Công nghiệp hóa - hiện đại hóa giúp phát triển lực lượng sản xuất, làm thay đổi căn bản công nghệ sản xuất, tăng năng suất lao động Đồng thời, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là động lực phát triển kinh tế-xã hội, tạo điều kiện tăng cường củng cố an ninh - quốc phòng và là tiền đề cho việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc tế
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta có thuận lợi cơ bản là nước đi sau, có thể học hỏi được kinh nghiệm thành công của những nước đi trước và
có cơ hội rút ngắn thời gian thực hiện quá trình này Việt Nam thực thực hiện quá trình này trong bối cảnh loài người đang bắt đầu chuyển sang phát triển kinh tế tri thức, với
sự bùng nổ của tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ gen, công nghệ nano, công nghệ vật liệu mới đúng như tiên đoán của C.Mác và Ph.Ăng-ghen từ giữa thế
kỷ XIX: ''Tri thức sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp'' Đây chính là cơ hội lịch
sử hiếm hoi mà thời đại tạo ra để các nước đi sau như Việt Nam rút ngắn khoảng cách
và đuổi kịp các nước đi trước Việc chuyển nền kinh nước ta sang hướng phát triển dựa vào tri thức trở thành yêu cầu cấp thiết không thể trì hoãn
Công nghiệp hóa trước đổi mới diễn ra theo mô hình của Liên Xô, chỉ đến khi khởi đầu là đổi mới tư duy kinh tế và nhất là từ Đại hội VIII, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta mới được xác định một cách đầy đủ: là chìa khóa mở ra những cánh cửa, bước tiến nhảy vọt của đất nước Chính vì vậy, để hiểu rõ và nắm chắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đó rút
ra bài học, kinh nghiệm trong quá khứ và vận dụng vào hiện tại, đưa đất nước ngày một phát triển và tiến gần hơn tới thành công trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, em quyết định lựa chọn chủ đề 35: “Phân tích quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội VIII” làm
đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan về đề tài
Trang 4Qua các kì đại hội quan điểm, chủ trương về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng ta có những thay đổi theo tình hình đất nước và tình hình chung của thế giới Đảng đã đặt ra một số vấn đề về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Theo đó, các nghiên cứu về đề tài công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa đất nước đã phân tích, đánh giá vấn đề ở nhiều mức độ khác nhau Tuy nhiên, các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu riêng nội dung về quan điểm, chủ trương công nghiệp hóa hoặc hiện đại hóa đất nước của Đảng mà chưa đi sâu phân tích, làm rõ 6 quan điểm về công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước của Đảng tại Đại hội VIII (7/1996) Đề tài “Phân tích quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội VIII”,
trên cơ sở tiếp thu chọn lọc những kiến thức, đóng góp giá trị của những đề tài nghiên cứu có liên quan đến nội dung trước đó, em phân tích, làm rõ hơn các quan điểm, chủ trương mà Đại hội VIII nêu ra về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích là phân tích, làm sáng tỏ các quan điểm, chủ trương
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được nêu ra tại Đại hội VIII, từ đó đưa ra kết luận, đánh giá về quá trình thực hiện cũng như tính đúng đắn trong thời điểm hiện tại, tính kế thừa trên con đường phát triển của đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Thứ nhất, đối tượng nghiên cứu: bao gồm toàn bộ 6 quan điểm, chủ trương về
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội VIII
- Thứ hai, phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu dựa trên cơ sở các nội dung, kiến thức được
ghi trong tư liệu văn kiện đại hội của Đảng đặc biệt là văn kiện đại hội VIII Ngoài ra, các nguồn tài liệu khác được nêu trong mục “Danh mục tài liệu tham khảo”
Phạm vi về thời gian: Các dữ liệu được thu thập, lấy dẫn chứng từ năm 2020 trở
về trước, chủ yếu tập trung vào các mốc thời gian trước và sau diễn ra đại hội VIII
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài, cùng với hai phương pháp cơ bản là phương pháp lịch sử, phương pháp logic, nghiên cứu cũng áp dụng phương pháp tổng kết thực tiễn lịch sử gắn với nghiên cứu lý luận để làm rõ kinh nghiệm, bài học, quy luật phát triển và những vấn đề
về nhận thức lý luận của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo Ngoài ra, đề tài cũng
Trang 5chú trọng phương pháp so sánh, so sánh giữa các giai đoạn, thời kỳ lịch sử, so sánh các
sự kiện, hiện tượng lịch sử, làm rõ các mối quan hệ, so sánh trong nước và thế giới…
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu sẽ trở thành một nguồn tư liệu để tham khảo, mở rộng vốn kiến thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đồng thời theo dõi, bám sát có nhận thức đúng đắn về chủ trương, quan điểm của Đảng qua các đại hội, trong đó nhấn mạnh đại hội VIII Những đóng góp cụ thể của đề tài:
Một là, xác định rõ tính đúng đắn của quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội VIII
Hai là, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò và sức mạnh của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Ba là, chỉ ra tầm quan trọng của chủ trương, quan điểm của Đại hội đối với quá
trình xây dựng và phát triển đất nước đồng thời phát huy và vận dụng sáng tạo những quan điểm đó trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
7 Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được chia làm 4 phần:
- Phần một: Lời mở đầu
- Phần hai: Quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đại hội VIII.
- Phần ba: Kết luận
- Phần bốn: Danh mục tài liệu tham khảo
Phần hai QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Chương 1: Hoàn cảnh ra đời và 3 quan điểm đầu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đại hội khóa VIII
1.1 Hoàn cảnh diễn ra Đại hội khóa VIII
- Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại, loài người vẫn đang trong thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trang 6- Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi
- Cách mạng khoa học, công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao
- Khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động, nhưng cũng tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định
- Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt những thắng lợi nổi bật trên nhiều mặt Đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân được cải thiện Dân chủ được phát huy Lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ của đất nước, với Đảng và Nhà nước được khẳng định Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc
- Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đạt được thành tựu to lớn: bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (7/1995), gia nhập ASEAN (7/1995) góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
1.2 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Để hiểu rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tại Đại hội VIII (7/1996), trước hết, chúng ta cần nắm được khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kết hợp quan niệm truyền thống với quan niệm hiện đại và vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hội nghị lần thứ VII ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã đưa ra quan niệm mới về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đây cũng chính là quan niệm được sử dụng một cách phổ biến ở nước
ta hiện nay Theo tư tưởng này, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất xã hội cao
1.3 Những quan điểm mới về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.3.1 Giữ vững độc lập, tự chủ, đi đôi với mở rộng quan hệ quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồn lực trong nước chính
là đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài.
Trang 7Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”, hơn thế nữa: “Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy” Đồng thời, thực hiện phương châm: “Muốn người ta giúp cho thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cầu thị, học tập, hợp tác
quốc tế, nhưng nhấn mạnh phải giữ gìn “bản sắc”
Độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để chủ động, tích cực mở rộng quan
hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế Điều đó thể hiện:
Một là, độc lập, tự chủ không phải là biệt lập, cô lập với thế giới bên ngoài,
không đứng ngoài các sự kiện, sự việc của quốc tế Độc lập, tự chủ thể hiện chủ quyền, quyền tự quyết, tự lựa chọn con đường phát triển, tự quyết định mô hình phát triển của quốc gia, dân tộc Do đó, không có độc lập, tự chủ thì không thể nói tới mở rộng quan
hệ quốc tế
Hai là, độc lập, tự chủ là nhân tố đóng vai trò quyết định trong mối quan hệ quốc
tế Qua gần 35 năm đổi mới cho thấy, đường lối độc lập, tự chủ của Đảng đã định hướng đúng cho tiến trình hội nhập từ việc lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, xác định lộ trình phù hợp Do vậy, quan hệ đối ngoại của nước ta được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần tạo ra thế và lực mới của đất nước Quan điểm và chính sách kiên trì độc lập, tự chủ của Đảng ta luôn luôn được cụ thể hóa, bổ sung và phát triển theo sự chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế Điều đó đã mở đường cho quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, phục vụ thiết thực và hiệu quả cho
sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa
Ba là, độc lập, tự chủ sẽ là cơ sở, điều kiện để nước ta chủ động phát huy được
lợi thế so sánh của mình trong quá trình đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại nhằm từng bước phát triển Chẳng hạn, chúng ta có lợi thế về các sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, may mặc, giày da… Chúng ta chỉ có thể xuất khẩu được những mặt hàng có lợi thế so sánh này khi phát triển quan hệ quốc tế một cách đầy đủ và sâu rộng vào kinh tế quốc tế Có độc lập, tự chủ thì mới cân đối được, làm chủ được quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu, tránh nhập siêu quá giới hạn cho phép của nền kinh tế Có độc lập, tự chủ chúng ta mới thúc đẩy cho kinh tế du lịch phát triển, lôi cuốn, kêu gọi được khách quốc tế đến tham quan, du lịch, làm ăn tại nước ta Đây cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển
Trang 8Đến lượt mình, mở rộng quan hệ quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại góp phần tăng cường khả năng giữ vững độc lập, tự chủ của quốc gia, dân tộc Có thể nhận rõ điều đó như sau:
Một là, hợp tác quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội, tiền đề cho chúng ta giữ vững độc
lập, tự chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh Thực tiễn gần 35 năm mở cửa, hội nhập, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự điều hành, quản lý hiệu quả của Nhà nước, tăng cường hợp tác quốc tế
đã trở thành một trong các nguồn lực quan trọng để chúng ta củng cố độc lập, tự chủ
Hai là, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại sẽ tạo ra cho chúng ta
những cơ hội thuận lợi để huy động nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội trong nước Để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững độc lập, tự chủ, chúng ta phải phát huy cao độ nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển đất nước Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy phải coi trọng, huy động các nguồn lực bên ngoài Muốn phát huy được các nguồn lực bên ngoài như nguồn lực vốn, nguồn lực kỹ thuật, nguồn lực quản lý thì phải thông qua hợp tác quốc tế Tất cả những thuận lợi này cũng như các nguồn lực bên ngoài chỉ được phát huy có hiệu quả thông qua nội lực Do vậy, phải chủ động, tích cực trong mở rộng quan hệ quốc tế
Ba là, đa phương hóa, hợp tác quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, môi trường hòa bình, ổn
định để chúng ta phát triển đất nước, trên cơ sở đó góp phần giữ vững độc lập, tự chủ
Là một dân tộc đã trải qua nhiều năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam hiểu rõ và khát khao hơn bất cứ quốc gia, dân tộc nào sự hòa bình, ổn định để chấn hưng đất nước Chúng ta đều ý thức rõ, hiện nay trên bình diện an ninh, đang nổi lên nhiều vấn
đề an ninh đáng lo ngại như chủ nghĩa khủng bố, xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc, chủ nghĩa ly khai, nguy cơ bất ổn chính trị… đe dọa trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của từng quốc gia cũng như từng khu vực và cả thế giới Điều này đòi hỏi phải có
sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng cùng một cơ chế thống nhất có hiệu quả trên cơ sở hợp tác giữa các nước, giữa các khu vực cũng như toàn thế giới Muốn vậy các nước phải cùng nhau hợp tác
1.3.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Tin dân, dựa vào dân để tiến hành công nghiệp hoá là một nguyên tắc cơ bản trong đường lối chính trị của Hồ Chí Minh - Nguyên tắc cơ bản này của Chủ tịch Hồ
Trang 9Chí Minh là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin: “Cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng” Vì vậy, đây không phải là công việc riêng của một bộ
phận, một giai cấp nào mà là sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải huy động cao đọ sức mạnh của toàn dân về mọi mặt: sức lao động, tiền vốn, trí tuệ, tài năng, kinh nghiệm, kĩ thuật… Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã từng nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Cũng như các sự nghiệp cách mạng khác, nhân dân là người quyết định sự
thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất, các tiềm năng và nguồn lực của đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, mỗi thành phần kinh tế có lợi thế
so sánh riêng về kỹ thuật, vốn, lực lượng lao động, kinh nghiệm quản lý… trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Kinh tế nhà nước được hiểu bao gồm các cấu thành sau: 1- Bộ phận doanh nghiệp gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp
mà Nhà nước nắm cổ phần hoặc phần vốn chi phối; 2- Bộ phận phi doanh, ngoài các tài sản thuộc sở hữu nhà nước còn bao gồm cả đất đai, rừng, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia
Kinh tế nhà nước có phạm vi, vai trò rộng lớn, là tập hợp sức mạnh kinh tế thể hiện trên các ngành, lĩnh vực trọng yếu từ các định chế tài chính, pháp luật, sức mạnh quản lí đến điều hành của hệ thống chính trị Với trọng trách của mình, các doanh nghiệp nhà nước sẽ tiên phong trong các lĩnh vực, ngành mũi nhọn, cần vốn lớn, đòi hỏi công nghệ tiên tiến, hiện đại, những lĩnh vực mà tư nhân không thể làm được hoặc không muốn làm, những ngành, lĩnh vực trọng yếu, liên quan đến an ninh - quốc phòng…
Như vậy về cơ bản, “vai trò chủ đạo” của kinh tế nhà nước thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước được thể hiện ở trình độ
công nghệ, trình độ quản lý, hiệu quả kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh
Trang 10Thứ hai, kinh tế nhà nước đóng vai trò hàng đầu trong việc khắc phục, hạn chế
những bất cập của cơ chế thị trường
Thứ ba, kinh tế nhà nước độc quyền những lĩnh vực có quan hệ trực tiếp đến an
ninh quốc gia
Thứ tư, kinh tế nhà nước là “công cụ” để thúc đẩy các thành phần kinh tế khác
trong nền kinh tế quốc dân cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.3.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững.
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong tiến trình xây dựng xã hội mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam Đối với một nước chủ động lựa chọn và kiên trì con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng cũng là vì con người, hướng đến con người Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Đảng ta xác định một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ tận dụng thành công những thuận lợi, cơ hội và vượt qua thách thức, khó khăn mà quá trình đó đặt ra hay không phụ thuộc đáng kể vào con người
Vấn đề con người được đề cập đầu tiên tại Đại hội lần thứ IV của Đảng và được
đề cập cụ thể, trực tiếp trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thông qua tại Đại hội VII (năm 1991) Trong Cương lĩnh, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội con người được giải phóng, nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao và nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển cá nhân, công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo” Vì vậy,
phương hướng, mục tiêu lớn của chính sách xã hội được đề cập trong Cương lĩnh,
Đảng ta chỉ rõ: “Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” Tại Đại hội
VIII, Đảng chủ trương động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống