Lạm phát và mức giá trong và ngoài nước có ảnh hưởng gì đến xuất-nhập khẩu hay không?Tác động của xuất nhập khẩu đến tổng cầu và các chính sách khác như thế nào?Tại sao trong năm 2011, c
Trang 1DANH SÁCH SINH VIÊN
• Ảnh hưởng của nhập khẩu đến tổng cẩu và các chính sách khác…… 14
Phần 3 Hoạt động xuất khẩu
• Số liệu các hoạt động nhập khẩu……… 15
• Tác động của chính phủ đến nhập khẩu………17
• Phân tích về tình trạng nhập khẩu và tác động………19
• Ảnh hưởng của xuất khẩu đến tổng cầu và các chính sách khác………21
Phần 4 Nhận xét hoạt động Xuất-Nhập khẩu và các chính sách hiện nay.
• Hiệu quả của các chính sách 22
Trương Trung
Vũ Hoàng Nguyễn Hoàng Lương SĩTrần Đình Nguyễn HoàngTrần Đức Nguyễn Quốc TấnLâm Quốc
ÂnAnhDiệu HậuMinhNamNhânPhúThôngThịnhTrungYến
Trang 2• Kiến nghị các chích sách hỗ trợ dài hạn………24
TỔNG QUAN
Năm 2011 tình hình kinh tế- xã hội nước ta phát triển trong bối cảnh cónhiều khó khăn, thách thức Đầu năm, giá các hàng hóa và vật tư chủ yếu trên thịtrường thế giới biến động theo chiều hướng tăng Một số nền kinh tế lớn mặc dùvừa phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng vẫn đang tiềm ẩn nhiềuyếu tố rủi ro và bất ổn Tình trạng vỡ nợ công ở Hy Lạp và một số nước khu vựcđồng Euro, bất ổn ở Bắc Phi, Trung Đông đã tác động trực tiếp đến tình hìnhkinh tế-xã hội Việt Nam ở các mức độ khác nhau Ở trong nước, trong giai đoạn
2010, kết quả của việc chi tiêu công quá mức trong đầu tư cơ bản, mua sắm chocác cơ quan chính phủ và thậm chí là các lễ hội quốc gia (1000 năm Thăng Long)
đã dẫn hệ quả lạm phát bùng nổ mạnh; thất thu thuế, tỷ lệ nợ xấu, bong bong nhàđất tăng cao càng khiến cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng
Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24-2-2011 của Chính phủ về những giảipháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm ansinh xã hội
Trong đó, kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu được xem là một trongnhững mấu chốt Với nguồn thu USD và tỷ lệ EX/GDP gần 80%; các chính sáchliên quan đến xuất nhập khẩu sẽ đóng vai trò khá quan trọng trong việc ổn địnhkinh tế vĩ mô
Tuy nhiên, bản chất các chính sách ta áp dụng hiện nay còn nhiều mâu thuẫn Một mặt đánh giá tình hình lạm phát do cầu kéo, phải hy sinh các mục tiêu tăng trưởng nhằm giảm giảm lạm phát bằng việc tăng lãi suất cho vay, kiểm soát nguồn cung USD và sau này có thể độc quyền cả thị trường vàng; một mặc lại đưa ra hàng loạt các quyết định tăng giá, tăng lương tối thiểu; và đặc biệt là
có các yếu tố kích cung đối với hoạt động xuất khẩu Điều này gây ra sự rối loạn
lý thuyết khi áp dụng vào thực tiễn kinh tế Việt Nam và tạo những khó khăn để đánh giá hiệu quả, phân tích những tác động thật sự của các chính sách này.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 ước tính đạt 96,3 tỷ USD, tăng 33,3% sovới năm 2010, trong đó có 14 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD
Trang 3Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 105,8 tỷ USD, tăng 24,7% so với năm trước.
Tốc độ tăng cao của kim ngạch hàng hóa xuất, nhập khẩu năm nay có phần đónggóp khá lớn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với mức tăng xuất khẩu là39,3% chiếm 56,6% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và mức nhập khẩu là29,2%, chiếm 45,2%
Vậy tại sao với môi trường kinh tế khó khăn trong năm 2011, xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng mạnh và nhập khẩu được hạn chế? Hiệu quả của các chính sách sử dụng đến đâu? Lạm phát và mức giá trong và ngoài nước có ảnh hưởng gì đến xuất-nhập khẩu hay không?Tác động của xuất nhập khẩu đến tổng cầu và các chính sách khác như thế nào?Tại sao trong năm 2011, chúng ta liên tục phá giá tiền tệ (được thực hiện khi Y<Yb) khi mà các chính sách khác lại phục vụ cho nhận định Y>Yb?
Bài tiểu luận này sẽ góp phần giải đáp các câu hỏi trên.
HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU 1) Số liệu các hoạt động nhập khẩu:
Số liệu về hoạt động xuất khẩu sẽ cho ta cái nhìn tổng quan về số lượng nhậpkhẩu, tỷ lệ tương quan giữa các nhóm hàng; từ đó có cái nhìn toàn thể về hoạt độngnhập khẩu Từ đó:
Thứ nhất, là cơ sở để phân tích sự thay đổi của hoạt động nhập khẩu tronggia đoạn 201
Thứ hai, tạo nền tảng để chứng minh tính hiệu quả của các chính sách
Thứ ba, xem xét tính hiệu quả của hoạt động xuất - nhập khẩu
• Một số nhóm hàng nhập khẩu chính
+ Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng là nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu
hàng hoá của Việt Nam với kim ngạch năm 2011 đạt 15,34 tỷ USD, tăng 13% so với năm
2010 Trong đó, khu vực FDI nhập khẩu 6,59 tỷ USD, tăng 28,1% và các doanh nghiệptrong nước nhập khẩu 8,75 tỷ USD, tăng 2,4% so với một năm trước đó
Nhóm hàng máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng nhập khẩu chủ yếu có xuất xứ từTrung Quốc với 5,18 tỷ USD, tăng 15,7% so với năm 2010; tiếp đến là Nhật Bản: 2,8 tỷUSD, tăng 9,9%; EU: 2,42 tỷ USD, tăng 10,8%; Hàn Quốc: 1,26 tỷ USD; tăng 13,8%; ĐàiLoan: 899 triệu USD, tăng 10,9%; Hoa Kỳ: 848 triệu USD, tăng 4,1%;…
+ Xăng dầu các loại: tính đến hết năm 2011, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước
là gần 10,7 triệu tấn, tăng 11,4% so với năm 2010 với trị giá gần 9,9 tỷ USD, tăng 61,6%
Trang 4Đơn giá nhập khẩu bình quân trong năm 2011 tăng 45% so với năm 2010 nên kim ngạchtăng do yếu tố giá là 3,07 tỷ USD và tăng do yếu tố lượng là 698 triệu USD.
Biểu đồ 7: Đơn giá nhập khẩu xăng dầu các loại theo tháng năm 2010 - 2011
Lượng xăng dầu nhập khẩu theo loại hình tạm nhập tái xuất trong năm 2011 là 715 nghìntấn, giảm 60,6% so với năm 2010 Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong năm
2011 chủ yếu có xuất xứ từ: Singapore với gần 4,4 triệu tấn, tăng 26,7%; tiếp theo là ĐàiLoan: 1,39 triệu tấn, tăng 31,6%; Trung Quốc: 1,32 triệu tấn, giảm 13%; Hàn Quốc: 1,12triệu tấn, tăng 1,36%; Cô oét: 796 nghìn tấn, tăng 62,4%;… so với năm 2010
+ Sắt thép các loại: tính đến hết năm 2011, tổng lượng nhập khẩu sắt thép của Việt Nam là
7,39 triệu tấn, giảm 18,7%, kim ngạch nhập khẩu là 6,43 tỷ USD, tăng 4,5% Trong đó,lượng phôi thép nhập khẩu là 878 nghìn tấn, trị giá đạt 576 triệu USD, giảm 55,8% vềlượng và giảm 46,4% về trị giá so với năm 2010
Biểu đồ 8: Lượng sắt thép các loại nhập khẩu năm 2005- 2011
Trang 5+ Nhóm hàng nguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may, da, giày: trong tháng này kim
ngạch nhập khẩu đạt 939 triệu USD, giảm 12,5% so với tháng trước, nâng tổng kimngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 lên 12,27 tỷ USD, tăng 24,7% so vớinăm 2010 Trong đó trị giá nhập khẩu vải là 6,73 tỷ USD, tăng 25,5%; nguyên phụ liệudệt may da giày 2,95 tỷ USD, tăng 12,5%; xơ sợi dệt là 1,53 tỷ USD, tăng 30,4% vàbông là hơn 1 tỷ USD, tăng 56,1%
Trong năm 2011, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhập khẩu 7,88
tỷ USD, tăng 26,3% và các doanh nghiệp trong nước là 4,39 tỷ USD, tăng 22% so vớinăm 2010
+ Phân bón các loại: trong cả năm 2011, lượng phân bón nhập khẩu của Việt Nam là
hơn 4,25 triệu tấn, tăng 21,1%, trị giá là 1,78 tỷ USD, tăng 46,1% so với năm 2010.Trong đó nhập khẩu nhiều nhất là phân Urê với hơn 1,13 triệu tấn, tăng 14,5%; phânKali là 947 nghìn tấn, tăng 44,2% và phân SA là 891 nghìn tấn, tăng 30,5% so với năm2010
+ Ô tô nguyên chiếc: trong tháng lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu là 3,6 nghìn chiếc,
tăng 31,3%, nâng tổng lượng xe nhập khẩu trong năm 2011 lên 54,6 nghìn chiếc, trị giá
là hơn 1 tỷ USD, tăng 1,4% về lượng và tăng 5,1% về trị giá so với năm 2010
Tính đến hết năm 2011, các doanh nghiệp Việt Nam đã nhập khẩu xe dưới 9 chỗ là 34,9nghìn chiếc, giảm 0,3%; ô tô tải là 16 nghìn chiếc, tăng 13,3%; ô tô loại khác là 3,69nghìn chiếc, giảm 32,5% so với năm 2010
Trang 6Biểu đồ 9: Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại trong năm 2011
2 Tác động của chính phủ đến nhập khẩu của Việt Nam
Chúng ta đã biết, Việt Nam đang trong tình trạng là nước nhập siêu từ nhiều năm qua,đồng thời cũng là một trong những nước có tỉ lệ lạm phát cao trên thế giới , do đó Chínhphủ phải thi hành một số chính sách vừa để kiềm chế lạm phát, vừa nhằm giảm trị giánhập khẩu ở nước ta Chúng ta biết hàng hóa nhập khẩu đồng biến với tổng sản lượngquốc gia trong nước và nghịch biến với tỷ giá hối đoái vì vậy nhóm sẽ phân tích nhữngtác động của chính sách của Chính Phủ trong năm 2011đã tác động đến mức sản lượngcũng như tỷ gia hối đoái trong nước như thế nào để có thể thực hiện mục tiêu kiềm chếnhập siêu
• Chính sách tiền tệ chặt chẽ và chính sách tài khóa thắt chặt
Theo Nghị quyết 11/NQ-CP ban hành ngày 24/2/2011 để đảm bảo thực hiện mục tiêukiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã thi hành các chính sách tiền
tệ chặt chẽ để giảm lượng cung tiền bằng cách sử dụng các công cụ như : Ngày
1/6/2011 Ngân hàng Nhà nước tiếp tục có quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng theo Quyết định số 1209/QĐ-NHNN ; hay thông
qua Quyết định số 679/QĐ-NHNN đã tăng một số lãi suất chủ chốt như lãi suất tái cấpvốn lên 14%/năm , lãi suất tái chiết khấu lên 13%/năm có hiệu lực vào ngày 1/5/2011
Trang 7( Đồ thị biểu thị tác động của chính sách tiền tệ )
Như vậy, về mặt lý thuyết, dưới sự tác động của chính sách tiền tệ thu hẹp thì NHNN
đã làm cho lượng cung tiền giảm đi và theo đồ thị thì đường LM1 sẽ di chuyển sang tráithành đường LM, làm cho điểm cân bằng trên thị trường sẽ di chuyển từ E1(Y1,r1) sangE’(Y’,r’) Tại mức cân bằng mới thì ta có sản lượng giảm ( Y’ < Y1) và lãi suất tăng( r’> r1) Từ việc lãi suất tăng sẽ dẫn đến đầu tư giảm, sản lượng quốc gia giảm
Lượng nhập khẩu giảm
Giải thích rõ hơn: (Y là thể hiện của tổng sản lượng hoặc tổng chi tiêu hoặc cũng
là tổng thu nhập của các doanh nghiệp trong nền kinh tế; tại mức lãi suất được nhà nước điều chỉnh cao hơn; Y sẽ giảm, trước tiên do khả năng đầu tư của doanh nghiệp hạn chế hơn; doanh nghiệp gặp vấn đề trong vay vốn cộng với việc lãi suất huy động tăng theo lãi suất cho vay sẽ khiến cho cầu tiền giảm, khả năng thanh toán và nhu cầu chi tiêu trong thị trường cũng thấp đi => quy mô và khả năng chi trả của nền kinh tế hạn chế => thị trường không còn cần nhiều hàng nhập khẩu)
Cũng trong Nghị quyết 11/NQ-CP để đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ đề ra, songsong với việc thi hành các chính sách tiền tệ thu hẹp thì Chính phủ cũng thi hành các
Trang 8chính sách tài khóa thắt chặt với mục đích nhằm giảm tổng cầu bằng các biện phápnhư : rà soát, sắp xếp, cắt giảm đầu tư công, tập trung vốn cho các công trình quantrọng, cấp bách, hiệu quả; giảm bội chi ngân sách Nhà nước năm 2011 xuống dưới 5%,tăng cường quản lý nợ Chính phủ, nợ quốc gia.
( Đồ thị biểu thị sự tác động của chính sách tài khóa )
Dưới sự tác động của chính sách ngoại khóa thắt chặt qua việc giảm đầu tư công củaChính phủ cũng như tăng một số lãi suất chủ chốt làm cho lượng đầu tư giảm dẫn đếntổng sản lượng giảm, thể hiện qua được IS1 dịch chuyển sang trái thành đường IS’, làmcho điểm cân bằng dịch chuyển từ E1( Y1,r1) xuống E’(Y’,r’) Vậy tại mức cân bằngmới thì ta có tổng sản lượng giảm Nhập khẩu giảm
Kết luận : Thông qua việc thi hành chính sách tiền tệ thu hẹp và chính sách tài khóa thắt
chặt đã làm cho tổng sản lượng giảm xuống đã làm cho sản lượng nhập khẩu ở một sốmặt trong năm 2011 vừa qua đã giảm về mặt số lượng so với cùng thời điểm ở năm trước
đó
• Các chính sách ngoại thương :
Phá giá đồng nội tệ :
Trang 9Ngày 11/02/2011, Ngân hàng nhà nước (SBV) đã chính thức tăng tỷ giá bình quân liênngân hàng từ 18.932 đồng/USD lên 20.693 đồng/USD, tương đương tăng 9,3% Đồngthời thu hẹp biên độ giao dịch từ +/-3% xuống +/-1% Điều này đã gây tác động lớn
đối với hoạt động nhập khẩu vì trước khi có sự điều chỉnh này, việc tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu dựa theo tỷ giá giao ngay của SBV công bố là 19.000VND/USD Bây giờ, tỷ giá được dùng đối với thuế nhập khẩu là 20.693 VND/USD Điều này dẫn đến giá hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên đắt hơn đối với người dân trong nước, giảm sự cạnh tranh của mặt hàng nhập khẩu đối với thị trường hàng hóa nội địa, quá đó sẽ làm hạn chế nhập khẩu Do đó động thái điều chỉnh tỉ giá bình quân lên cao và thu hẹp biên độ giao dịch đánh khá mạnh vào các nhà nhập khẩu
Tuy nhiên, nếu nhìn một cách tổng quan thì việc tăng tỉ giá đồng nội tệ chỉ có thểhạn chế được việc nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng, hàng hóa xa xỉ vì giá cao sẽ làm
cho người dân sẽ cân nhắc hơn trước khi mua, trong khi tổng kim ngạch hàng nhập
khẩu thì chỉ 10% là hàng tiêu dùng, 20% là trang thiết bị, máy móc và tới 70% là nguyên vật liệu đầu vào cho hoạt động kinh tế Như vậy, trừ 10% hàng tiêu dùng là
cần hạn chế còn lại 90% kim ngạch nhập khẩu là không thể hạn chế Vì những mặt
hàng như trang thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu là những mặt hàng nhập khẩu thiếtyếu đối với nền kinh tế sản xuất của Việt Nam hiện nay, cho nên có thể nói việc tăng tỉgiá đồng nội tệ như vậy chỉ tác động rất ít đến việc hạn chế nhập khẩu hiện nay
Bên cạnh đó, biện pháp tăng tỉ giá đồng nội tệ cũng gây ra không ít những tác động xấuđến nền kinh tế hiện nay khi cơ cấu đầu vào sản xuất theo nguồn của nước ta cho thấynhập khẩu có tác động không nhỏ đến giá cả sản xuất Vì việc phá giá đồng nội tệ sẽlàm cho giá các mặt hàng nhập khẩu tăng cao lên, trong khi các mặt hàng nhập khẩunguyên vật liệu, máy móc lại chiếm tỉ trọng tới hơn 80% tổng kim ngạch hàng nhậpkhẩu, điều này dẫn đến việc gia tăng cái chi phí yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp,kéo theo đó sẽ làm tăng giá các sản phẩm khác, điều này có thể dẫn đến việc tạo ra mộtmặt bằng giá mới Chẳng hạn giá nhập xăng dầu tăng theo tỉ giá và khi được sử dụnglàm nhiên liệu thì sẽ làm tăng chi phí vận tải Nếu như giá xăng dầu phải điều chỉnhtheo giá thế giới thì trong nước giá xăng dầu sẽ tăng "kép" vì vừa tăng giá, vừa tăngtheo tỉ giá và tác động đến lạm phát sẽ lớn hơn
Trang 10Điều chỉnh mức thuế, hạn ngạch :
Để thực hiện mục tiêu đảm bảo nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu, thìChính phủ đã thay đổi sắc thuế đối với một số mặt hàng nhập khẩu như : giảm thuế đốivới các mặt hàng đầu vào cho sản xuất mà trong nước chưa thực hiện được như xăngdầu, máy móc thiết bị,… Từ giữa tháng 1/2011 Bộ Tài chính đã thực hiện điều chỉnhgiảm thuế nhập khẩu xăng, diesel xuống 0% và đến ngày 24/2/2011 tiếp tục giảm thuếnhập khẩu xuống 0% đối với dầu ma dút và dầu hỏa Mức thuế nhập khẩu xăng dầugiảm xuống 0% tiếp tục được giữ cho đến nay và.ngày 09/6/2011 thông báo của Liên
bộ cho biết thông qua thông tư 82/2011/TT-BTC sẽ tăng mức thuế nhập khẩu đối vớidầu diesel và dầu hỏa theo đó mức tăng vẫn thấp hơn 10% ( đối với dầu diesel) và thấphơn 15%( đối với dầu hỏa) theo quy định của Biểu thuế hiện hành Điều này lý giải choviệc trong khoảng 4 tháng đầu năm 2011, sản lượng nhập khẩu xăng dầu có xu hướngtăng cho đến khoảng tháng 5/2011 thì giảm nhẹ cho đến cuối năm 2011 Bên cạnh đó,Chính phủ cũng bắt đầu tập trung đánh thuế vào các mặt hàng xa xỉ, các mặt hàng tiêudùng không thiết yếu như từ ngày 15/8/2011 quyết định 36/2011/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ ban hành mức thuế nhập khẩu ôtô cũ chở người từ 15 chổ ngồi trởxuống có hiệu lực qua đó với cách tính thuế mới, các loại xe đã qua sử dụng hạng sang
và siêu sang sẽ có thuế suất thuế nhập khẩu mới thậm chí vượt mức 100% và cao hơnnhiều so với xe chưa qua sử dụng cùng loại Từ đó, ta thấy sản lượng ôtô 9 chỗ ngồi trởxuống nhập khẩu từ khoảng 4 tháng cuối năm có xu hướng giảm rõ rệt
3 Phân tích về tình trạng nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2011.
Nhìn vào diễn biến nền kinh tế trong năm 2011 vừa qua, mặc dù những chỉ đạo, chínhsách của Chính phủ đặc biệt là Nghị quyết 11 đã đạt được không ít những thành quảnhư sản lượng xuất khẩu tăng mạnh, nhập siêu đạt mức 9,8 USD, đạt tỉ lê 10,4% kimngạch xuất khẩu, được xem là một thành công lớn của nghị định 11 với tỷ lệ nhập siêuthấp nhất trong suốt một thập niên qua; song nếu xét tương quan với 2010, các chínhsách quyết liệt này lại mang lại hiệu quả không đáng kể
Như chúng ta đã bàn ở đầu bài, tình trạng nhập khẩu của Việt Nam 2011diễn biến phức tạp, do vừa phải chịu tác động từ các chính sách của chính phủ,
vừa do các yếu tố khách quan Tựu chung, có thể nhận xét nhập khẩu năm 2011 vẫn tăng, nhưng tốc độ tăng lại giảm Tại sao lại có những biến động như vậy?
1)Yếu tố ảnh hưởng đến mức tăng
• Nhu cầu của một quốc gia đang phát triển:
Trang 11Nhìn vào tổng thể, từ nhiều năm qua, Việt Nam cơ bản là một nước nhậpsiêu vì đất nước đang trong giai đoạn phát triển theo hướng công nghiệp hóa,vì vậytrong những năm qua, nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu để thực hiện các
dự án sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng và các dự án không xuất khẩu chiếm tỷ trọngkhá lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu, trong khi việc đầu tư vào những ngành nàyhay hàng hóa xuất khẩu chưa đạt giá trị đủ lớn đã dẫn tới tình trạng nhập siêu hiện nay
• Thị hiếu tiêu dùng:
Bên cạnh đó, mặc dù thị hiếu người tiêu dùng trong những năm gầy đây đã có xuhướng sử dụng hàng nội nhiều hơn nhưng nhìn chung thì thói quen lựa chọn những mặthàng ngoại nhập vẫn còn cao khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân càng
cao, và với việc gia nhập WTO cùng lộ trình xóa giảm thuế quan đã làm cho hàng hóa trong nước chưa đủ sức cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài Ngoài ra, việc nhu cầu
hàng tiêu dùng xa xỉ, chủ yếu là hàng hóa nhập khẩu của nước ta là khá lớn so với trình
độ phát triển kinh tế, đây cũng là một nhóm mặt hàng gây ra tình trạng nhập siêu hiệnnay
• Mối liên hệ xuất nhập khẩu:
Các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, công nghiệp chế biến cơ khí,các ngành tận dụng những nguồn nguyên vật liệu có sẵn trong nước vẫn chưa được chútrọng; nền công nghiệp vẫn còn nặng về công nghiệp gia công, sử dụng nhiều lao động
và đặc biệt hơn, hầu hết các loại sản phẩm xuất khẩu chủ lực, lại phụ thuộc 80% - 90% nguyên liệu sản xuất đều từ nhập khẩu như da giày hay may mặc; hay đối với phân bón trong sản xuất nông nghiệp…Vì vậy, nhận xét ở Việt Nam nếu xuất khẩu tăng thì nhập khẩu sẽ tăng không phải là không có sơ sở
• Mức giá sản xuất trong nước
Ngoài ra, tình trạng lạm phát ở mức cao + những chính sách tiền tệ thiếu tính thị trường (như phá giá đồng tiền tệ) cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình
trạng nhập khẩu cao ở nước ta hiện nay (Ở đây có mâu thuẫn, vì nếu tỷ giá cao sẽ giúp
giảm nhập khẩu, song tỷ giá cao trong tình trạng hiện nay không giúp tình hình khảquan hơn)
Chúng ta có thể giải thích như sau:
Khả năng cung của các doanh nghiệp sản xuất trong nước khá yếu kém khi các loại chi phí trong nước (xăng, điện ); các loại nguyên liệu đầu vào nhập khẩu