1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Di tích lịch sử Đền thờ Quản Cơ Trần Văn Thành

9 3,2K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Di tích lịch sử đền thờ quản cơ trần văn thành
Trường học Trường Đại Học An Giang
Thể loại tiểu luận
Thành phố an giang
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di tích lịch sử Đền thờ Quản Cơ Trần Văn Thành

Trang 1

Cách thành phố Long Xuyên khoảng 50 km Di tích lịch sử Đền thờ Quản Cơ Trần Văn Thành nằm sâu trong con đường làng bên bờ kênh Xáng Vịnh Tre (Kênh Tri Tôn), thuộc khu vực cánh đồng Láng Linh, ấp Long Châu I (nay ấp Bờ Dâu), xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh

An Giang Di tích còn có tên là Bửu Hương tự, nhân dân thường gọi chùa Láng Linh, chùa Nhà Láng Di tích là nơi thờ, tưởng nhớ Chánh Quản Cơ Trần Văn Thành, người có công lớn trong việc khai phá vùng Láng Linh và lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp trong những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XIX

Trước khi tìm hiểu về di tích lịch sử này, chúng ta se cùng tìm hiểu về than thế và sự nghiệp của ông, cũng như cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa

1 Thân thế và sự nghiệp.

Trần Văn Thành sinh ra trong một gia đình trung nông ở ấp Bình Phú (Cồn Nhỏ), làng Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, huyện Đông Xuyên, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) Ông trưởng thành và hoạt động dưới triều đại Thiệu Trị và Tự Đức, từ khoảng năm 1841 đến 1873 Vợ của Quản Cơ Trần Văn là Nguyễn Thị Thạnh và có sáu người con: ba trai, ba gái Người con trưởng nam là Trần Văn Nhu (tục gọi Cậu Hai Nhu) và kế theo đó là Trần Thị Hè, Trần Văn Chái, Trần Thị Nên, Trần Thị Núi và Cậu Trạng Bảy Cậu này sở

dĩ có cái đặc danh Cậu Trạng Bảy là vì cậu thứ bảy chết hồi 7 tuổi (không ai được biết tên)

Năm 1840, khoảng ngoài 20 tuổi, ông gia nhập quân ngũ giữa lúc Nặc Ông Đôn, em vua Cao Miên, khởi quân chống lại cuộc bảo hộ của Việt Nam Nhờ có sức khỏe, giỏi võ nghệ, khá thông thạo chữ nghĩa, nên được làm suất đội, chỉ huy khoảng 50 lính, từng đóng quân ở Chân Lạp (Campuchia) Sau khi lập được nhiều công lao, ông được thăng Chánh quản cơ (1945), chỉ huy khoảng 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc, để gìn giữ biên giới phía Tây Nam

Năm 1846, Nặc Ông Đôn qui phục nhà Nguyễn Cuối năm Đinh Mùi (1847), xét thấy tình hình biên giới Tây Nam đã ổn định, thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", triều đình cho giải ngũ một số binh sĩ, trong đó có cơ biền của Trần Văn Thành Trước khi về lại quê nhà, ông được ban thưởng nhiều phẩm vật cùng một tờ chiếu khen là “Quản cơ tinh binh” Giải ngũ, Trần Văn Thành cùng gia đình đến cư ngụ tại khu vực chùa Huê Viên (còn gọi là chùa Vườn Bông, nay thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân)

Năm 1849, Trần Văn Thành gia nhập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương do Đoàn Minh Huyên (Phật Thầy Tây An) sáng lập năm 1849 Từ 1851, khi Đoàn Minh Huyên bị bắt buộc phải đến tu tại chùa Tây An (Châu Đốc), nghe lời thầy, ông mang vợ con rời Cồn Nhỏ (Bình Thạnh Đông) đến vùng Nhà Bàng sau này, rồi đến Láng Linh (Châu Phú) lập trại ruộng để lo việc khẩn hoang

Trang 2

Tháng 2 năm 1861, Đại đồn Chí Hòa thất thủ, sau đó quân Pháp lần lượt đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Vua Tự Đức liền ra lời kêu gọi các sĩ dân nơi đây cùng hợp tác chống ngăn quân xâm lược Hưởng ứng lệnh vua, Trần Văn Thành trở lại đội ngũ Sau khi đi Pháp chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ thất bại, năm 1865, Phan Thanh Giản được cử làm Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Do sức ép của Pháp, triều đình lệnh cho ông Giản phải lùng bắt Võ Duy Dương (còn gọi là Thiên hộ Dương), và ông Giản đã phái Trần Văn Thành thực hiện nhiệm vụ này, nhưng ông chỉ làm cho lấy có

Ngày 20 tháng 6 năm 1867, quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long Sau đó, một đoàn tàu chiến do trung tá hải quân GaLey cầm đầu, tiến lên huy hiếp thành Châu Đốc, buộc Tổng đốc Phan Khắc Thận phải đầu hàng, tỉnh An Giang mất ngày 22 tháng 6 năm 1867 Để cứu nguy nước nhà, Trần Văn Thành tự tổ chức dân binh đắp cản ở quê nhà (Cồn Nhỏ) để ngăn quân Pháp, đồng thời mang quân qua phía Rạch Giá, hỗ trợ cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực Tháng 6 năm

1968, thủ lĩnh Trung Trực đánh chiếm được đồn Kiên Giang mấy ngày, thì bị quân Pháp tổ chức phản công Lập tức, Trần Văn Thành cho quân (có đông đảo đồng bào Núi Sập tiếp tay) đắp cản ở

Ba Bần, Trà Kên (nay đều thuộc huyện Thoại Sơn) để ngăn cản tàu chiến Pháp đi tái chiếm tỉnh lỵ Rạch Giá

Ngoài ra, ông còn can dự vào việc giết viên Chủ tỉnh Vĩnh Long là Salicetti ở Vũng Liêm Cuộc cản phá thất bại, Nguyễn Trung Trực bị đánh thua rút quân ra Hòn Chông (nay thuộc Kiên Lương), còn Trần Văn Thành thì dẫn lực lượng của mình vào Láng Linh dựng trại, khẩn hoang làm ruộng, luyện quân và rèn đúc vũ khí để chuẩn bị làm cuộc đánh đuổi ngoại xâm

2 Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa.

Thời bấy giờ, Lánh Linh - Bảy Thưa là một cánh đồng trũng phèn rộng bao la, không có kênh, rạch lớn ra vào, suốt năm chỉ gieo gặt một mùa lúa sạ Phía Bắc giáp vùng biên giới núi Sam, Tây dựa Thất Sơn, Đông cặp sông Hậu giang, Nam giáp núi Ba Thê và Long Xuyên

Ở đó, hằng năm vào những tháng nước lên (còn gọi là “mùa nước nổi” từ khoảng tháng 7 cho đến giữa tháng 10 âm lịch), là một biển nước mênh mông (vì thế có tên gọi Lánh Linh) Láng Linh tiếp giáp với một cánh đồng tương tự có tên là Bảy Thưa (vì nơi ấy mọc khá nhiều cây bảy thưa Giống cây này giờ đây đã dần mất bóng, ngay tại dinh Sơn Trung chỉ còn 3 bụi cây non nhỏ nhoi) Cả hai cánh đồng vào mùa khô, nước không cạn hẳn mà biến thành những ao đìa, mương rạch, những đầm lầy vô số đĩa vắt và cùng lau sậy, cỏ dại thi nhau chen chúc, trùm lấp Tất cả tạo nên những địa thế thật hiểm trở

Theo lời kể của nhân dân và tư liệu cũ thì căn cứ chính của khởi nghĩa Bảy Thưa là Hưng Trung doanh (nay thuộc ấp Hưng Trung, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú) Xung quanh có các

Trang 3

đồn làm tuyến ngăn cản đối phương, như: đồn Cái Môn, đồn Lương (đều thuộc Thạnh Mỹ Tây), đồn Giồng Nghệ (Vĩnh Hanh, (Châu Thành), trạm canh Ông Tà (Tà Đảnh, Tri Tôn), đồn Hờ ở vàm rạch Cái Dầu (Châu Phú), v.v (xem thêm bản đồ chiến khu Bảy Thưa) Mỗi đồn đều được trang

bị súng thần công, súng điểu thương, hỏa hổ, với khoảng 150 nghĩa quân phòng thủ

Trần Văn Thành phất cờ chống Pháp vào khoảng tháng 8 năm 1867, và lấy tên Binh Gia Nghị đặt cho đội quân của mình Nhà sử học Phạm Văn Sơn cho biết thêm: “ Số quân của ông Thành theo tờ trình của Pháp vào năm 1870 có khoảng 1200 quân (Sau khi càn quét “Hưng Trung doanh”, chủ tỉnh Long Xuyên Emile Puech ước lượng số nghĩa quân chỉ chừng 400 đến 500 người), đa số là tín đồ theo giáo phái Bửu Sơn kỳ hương Xin nhắc rằng Đức Phật thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên) lập ra đạo phái này và họ Trần là một cao đệ Đức Phật thầy mất đi thì họ Trần kế tiếp việc hương khói, họ Trần ra kháng chiến, tất nhiên phải sử dụng đến lực lượng này”(Việt sử tân biên , Sài Gòn, 1962, tr.211) Để củng cố thêm thế lực, Trần Văn Thành cho người đến liên hệ với Pu Kom Pô, thủ lĩnh kháng Pháp ở Campuchia, nhưng vì ông này cũng đang gặp khó khăn nên việc liên kết không mấy hiệu quả Ngoài ra, ông còn cho người sang Xiêm La và Cao Miên để mua súng đạn, nhưng không thành công, vì hai nước này không muốn nhúng tay vào việc Nam Kỳ e mất lòng Pháp

Cuối năm 1868, các phong trào kháng Pháp tại Nam Kỳ đã bị tan rã gần hết, lực lượng Trần Văn Thành lâm vào thế cô, và ông trở thành nhân vật bị Pháp truy nã, treo giải thưởng cao

Năm 1871, một cộng sự của Pháp là Trần Bá Lộc thử hành quân vào mật khu, nhưng chẳng thâu được kết quả do sình lầy, bốn phía lau sậy mù mịt, thỉnh thoảng bị phục kích

Nhà văn Sơn Nam kể: “Tháng 2 năm 1872, Pháp bắt được một nghĩa quân đi mộ lính ở Long Xuyên Và nhờ cai tổng Mun theo sát những người đặt lọp, giăng câu phía ngọn Mặc Cần Dưng (nay là Bình Hòa, Châu Thành, An Giang), nên đến gần mật khu Hắn hoảng hốt khi thấy nghĩa quân tích cực củng cố công sự, lò đúc súng đang hoạt động ngày đêm Chủ tỉnh Long Xuyên tên Emile Puech xin chi viện thêm 40 lính Mã tà (Người Mã Lai (Malais) gọi người lính cảnh sát là matamata Do đó đẻ ra danh từ "mã tà" (Vương Hồng Sển, Sàigòn năm xưa , NXB Xuân Thu, 1968, tr 229)) từ Cần Thơ để tăng cường cho 60 Mã tà dưới tay hắn, đồng thời thông báo chủ tỉnh Châu Đốc, tùy khả năng mà hiệp đồng Phó quản Hiếm trước kia từng ở hàng ngũ của Trần Văn Thành rồi đầu hàng, được cầm đầu toán lính nhỏ Cánh quân mạnh nhất do phủ Trần Bá Tường (em ruột Trần Bá Lộc) chỉ huy Viên chủ tỉnh Emile Puech là chỉ huy trưởng, đại úy Guyon làm trợ lý.( Sơn Nam, Lịch sử An Giang, NXB Tổng hợp An Giang, 1988, tr.68-71)

Ngày 19 tháng 3 năm 1873, tàu chiến Pháp đậu tại vàm rạch Mặc Cần Dưng, rồi cho quân

Trang 4

lính dùng xuồng nhỏ, tuyệt đối im lặng, tiến vào ngọn rạch Một hai ngày sau, biết được đối phương sắp tấn công, tiếng trống, tiếng kẻng của nghĩa quân bắt đầu khua và liên tục vang rền

Nhà văn Sơn Nam viết: “Tuy biết đang bị bao vây tứ phía và người Pháp có võ khí hữu hiệu, nhưng nghĩa quân và Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh, cương quyết đối phó Đứng sau phòng tuyến thách thức bọn Pháp Ông dùng loa chửi rủa thậm tệ, rồi day về phía nghĩa quân để động viên tinh thần Đến phút quyết liệt, ông mặc áo màu đỏ sậm (màu tấm trần điều mà giáo phái đang thờ phượng)và cắt từng lọn tóc của mình phân phát cho nghĩa quân (một kiểu giống như phù phép, cốt để thuộc hạ lên tinh thần).”(theo sách đã dẫn)

Phạm Văn Sơn ghi chuyện: “ Đầu tháng hai 1973, Pháp xua quân vào phá đồn Hờ ở Cái Dầu, uy hiếp đường giồng Nghệ rồi kéo dần vào rừng Họ nả đại bác lên phía trước và bắt dân chúng dọn đường sau Quân Bảy Thưa tuy tinh thần rất cao, nhưng chống giữ không nổi Qua 5 ngày chiến đấu, quân Bảy Thưa lui dần Pháp không dám tiến mau vì ngột nắng và sợ đĩa Ngày 20 tháng 2, quân Pháp từ Châu Đốc đánh vào đồn Cái Môn, súng quân Việt bắn không được xa, phát

nổ phát không nên chẳng bao lâu Pháp quân tràn vào được”

Cùng ngày, từ phía Vĩnh Thanh, cờ Pháp tiến vào đuổi quân Việt tới ngọn rạch Hang Tra là nơi Trần Văn Thành chỉ huy chiến cuộc Con thứ tư của ông Thành là Trần Văn Chái làm tiên phong, đề đốc Văn tức đội Văn giữ hậu tập Đến gần tối thì Chái bị thương ở đùi.( Sau khi bị thương, Trần Văn Chái bị bắt và sau đó tuẫn tiết trong nhà ngục Châu Đốc, năm ấy Chái mới 18 tuổi)

Trước hỏa lực mạnh mẽ của đối phương, dù cố gắng chống trả nhưng chỉ vài giờ sau thì quân Bảy Thưa cũng bị đánh tan Cũng theo Sơn Nam thì sau trận này, bên nghĩa quân có 10 người chết, 5 người bị thương, 15 người bị bắt sống Ngoài ra, họ còn bị đối phương chiếm đoạt 16 súng điểu thương, 70 cây đao, nhiều gạo cùng ghe xuồng, một số giấy tờ cho thấy ông Thành từng ở Rạch Giá với Nguyễn Trung Trực và can dự vào vụ đánh giết Salicetti (chủ tỉnh Vĩnh Long) ở Vũng Liêm

Xong trận, Pháp thu hết các súng nặng, nhẹ; hủy hết cả lò đúc đạn dược, rồi nổi lửa đốt hết doanh trại của nghĩa quân 3 ngày mới tắt…”(Việt sử tân biên, sách đã dẫn)

Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế cho biết: Sau khi “Bản doanh Hưng Trung bị tàn phá, thất bại nặng, ông Thành rút lui vào chiến khu và mất ngày 21 tháng 2 âm lịch năm 1873 (Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam , NXB KHXH, Hà Nội, 1992.)

Có người lại cho rằng: Ngày 20 tháng 3 năm 1873 (21 tháng 2 âm lịch), quân Pháp tấn công vào đồn Hưng Trung là tổng hành dinh của nghĩa quân do Trần Văn Thành chỉ huy Ông và

Trang 5

các nghĩa quân của mình đã xả thân chiến đấu, nhưng chỉ cầm cự được đến tối thì thất thủ Giặc Pháp không tìm được thi thể ông, nhưng có lẽ ông đã hi sinh trong trận chiến này

Nhà văn Sơn Nam không nói Trần Văn Thành chết lúc nào, lý do gì; ông chỉ cho biết: Pháp

“ đem xác Trần Văn Thành chưng bày tại chợ Cái Dầu (Châu Phú, Châu Đốc), thêm xác của đội Văn (Pháp ghi là Vang) để nhằm ngăn chận những tin đồn thất thiệt cho rằng ông còn sống, đi lánh mặt và tiếp tục kháng chiến Về cái chết của ông, đến nay vẫn chưa được làm rõ Để tưởng nhớ công lao của ông, nho sĩ Cao Văn Cảo, người cùng thời, có làm bài thơ chữ Hán tưởng niệm ông

Vô danh dịch như sau:

Non sông Hồng Lạc, giặc xâm lăng Thẳng thắng, Trần công cố sức ngăn

Trời đất biết cho lòng sốt sắng, Kiếp đời ghi mãi chí thù hằn

Đền thờ tỏ dấu dân trong nước, Thơ vịnh nêu tình khách viết văn

Những đứa phản thần qua đến cửa, Gục đầu, run mật, cặp mày nhăn

Năm 1909, một tu sĩ trong giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương tên là Vương Thông có viết tập văn Nôm “Trần Quản Cơ dữ Gia Nghị Binh” Tập sách này kể về cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, trong

đó có nhiều câu nói đến lòng quả cảm và tiết tháo của ông, trích 2 câu:

“Thà thua xuống láng xuống bưng, Kéo ra đầu giặc lỗi chưng quân thần”

3 Đền thờ Quản Cơ Trần Văn Thành.

Trải qua một thời gian dài hơn 20 năm, kể từ ngày Quản Cơ Trần Văn Thành hy sinh, năm

1897, ông Trần Văn Nhu (con trai trưởng của Quản Cơ Trần Văn Thành) giao cho đại đệ tử Trần Văn Thành tập hợp dân chúng - tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, tiến hành công việc khẩn hoang lập nghiệp Từ những năm trước khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ ông Nhu dựng lên ngôi đền với mục đích ghi lại dấu tích người xưa, thờ tự tưởng nhớ Quản Cơ Trần Văn Thành và nghĩa binh Gia Nghị đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu quyết liệt chống kẻ thù xâm lược Đồng thời làm nơi tập hợp nhân dân, qui tụ tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương và lực lượng nghĩa quân năm xưa kế tục sự nghiệp mở rộng khẩn hoang, chờ thời cơ khởi nghĩa chống Pháp Để che mắt địch ông Nhu đặt tên ngôi đền là Bửu Hương tự

Năm 1938, ông Nguyễn Văn Tịnh, tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương vận động nhân dân xây dựng lại đến thờ trên nền cũ Trong kháng chiến chống Pháp nơi đây là cơ sở cách mạng của xã Thạnh

Trang 6

Mỹ Tây và quanh vùng, năm 1947 lực lượng cách mạng tập kết tại chùa, kéo ra đánh tiêu diệt đồn Long Châu Pháp tại xã Chính vì vậy, năm 1948, thực dân pháp huy động lực lượng tiến hành khủng bố và đốt chùa lần nữa Song ngọn lửa yêu nước vẫn luôn âm ỉ cháy, trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây vẫn tiếp tục là cơ sở cách mạng vững chắc của địa phương, là nơi đùm bọc nuôi chứa, tiếp tế, hội họp, liên lạc của cán bộ hoạt động cách mạng

Năm 1952, nhân dân và tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương chung góp công sức tiền của xây dựng lại ngôi chùa lần thứ 3 qui mô hơn và tồn tại cho đến ngày nay Đền thờ được xây dựng theo phong cách kiến trúc triều Nguyễn đậm dấu ấn truyền thống dân tộc, là một tổng thể kết hợp hài hòa, bố cục liền nhau, các công trình kiến trúc qui mô, đăng đối hài hòa, đường nét tinh xảo, tạo nên một vẻ đặt sắc riêng Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành, kiến trúc dạng chữ “tam”, kiểu cổ lầu, mái hai cấp lợp ngói đại ống, cột gỗ căm xe và bê tông, tường gạch, nền lát gạch bông Về nghệ thuật thì khá đơn giản so với các đình chùa ở trong vùng

Trong nội thất, các hương án, bài vị, hoành phi, liễn đối đều được chạm khắc công phu sắc nét, và sơn son thiếp vàng Các bàn thờ đều trang trí các tranh sơn thủy về cảnh làng quê sông nước Trung tâm là ngôi thờ đặt Long đình chạm lộng tứ linh, hoa cỏ Hai bên có đặt bộ lỗ bộ Bên trong Chính điện, ngay giữ đặt hương án thờ Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên) Hai bên thờ Trần Văn Chái, Đội nhất Năng Vách hậu thờ Trần Văn Nhu, Đội chín Văn, Đề đốc Nguyễn Kế Trung Hậu tổ thờ Chánh Quản Cơ Trần Văn Thành Hai bên thờ ông từ Ba, Đinh Văn Sang, Phạm Văn Khuê Trong cùng thờ Đội tư Đinh Văn Hiệp, Đội nhất Cảm, cùng các hương án phối tự thờ các tín đồ vị quốc vong thân khác

Mặt chính đền thờ hướng ra hồ sen đón nhận ngọn gió mát dịu êm hòa quyện cùng hương sen ngọt ngào, xa hơn một chút là cánh đồng lúa xanh tươi ngút ngàn Đền thờ là loại hình kiến trúc nghệ thuật đẹp đậm dấu ấn truyền thống dân tộc có giá trị cao về lịch sử văn hóa thời Nguyễn,

là di sản văn hóa dân tộc phản ánh giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của cư dân người Việt trong buổi đầu khai hoang lập làng, nơi thờ tưởng niệm các danh nhân, anh hùng có công với dân với nước Bên cạnh lịch sử hình thành, đền thời còn là nơi chứng kiến những thăng trầm lịch sử, gắn liền với quá trình lịch sử lập làng, nơi ghi dấu ấn oanh liệt cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp kiên cường của đoàn quân Gia Nghị do Chánh Quản Cơ Trần Văn Thành lãnh đạo, nơi nuôi chứa tiếp tế lực lượng cách mạng, góp thêm sức mạnh cho các cuộc kháng chiến giành độc lập kế tiếp thắng lợi hoàn toàn, rất xứng đáng để nhân dân các thế hệ tôn kính giữ gìn và tự hào Từ những giá trị lịch sử qúi báu đó, Đền thờ Quản Cơ Trần Văn Thành vinh dự được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 235/VH-QĐ, ngày 12/12/1986 Từ đó đến nay đền thờ không ngừng được chính quyền địa phương, các ngành chức

Trang 7

năng và nhân dân quan tâm đầu tư đóng góp nâng cấp sửa chữa, tạo nên một tổng thể di tích khang trang bề thế, đậm nét uy nghiêm cổ kính, xứng đáng với công lao của vị anh hùng dân tộc, xứng tầm với một di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

Hằng năm, ngoài các ngày lễ khác, quan trọng nhất là lễ giỗ Chánh Quản Cơ Trần Văn Thành, rất đông nhân dân trong khu vực đến thăm viếng Lễ hội được chính thức tiến hành vào ngày 21 và 22 tháng 2 âm lịch, nhưng bắt đầu từ rằm tháng 2, mỗi ngày đã có hàng ngàn lượt người đến chiêm bái cúng viếng Đến nay, di tích đã tồn tại hơn thế kỷ, du khách đến với di tích thường xuyên, khách hành hương ngày một đông Từ khi được Nhà nước công nhận di tích đến nay, việc tổ chức lễ hội hàng năm được chính quyền địa phương trực tiếp tổ chức tham gia, lễ hội

có qui mô lớn hơn theo nghi thức mittinh địa phương, nghi thức tế lễ được Ban Bảo vệ, Ban Tế tự tuân thủ khá nghiêm ngặt theo nghi thức tế lễ truyền thống, các hoạt động lễ hội ngày càng đi vào

nề nếp Đặc biệt từ năm 2003 đến nay lễ hội kỷ niệm hàng năm không còn thu hẹp trong phạm vi địa phương đơn thuần, mà được Nhà nước nâng cấp lên trở thành lễ hội truyền thống lịch sử văn hóa hàng năm của huyện Châu Phú, lễ hội được tổ chức long trọng hơn, trong chương trình lễ nêu

ý nghĩa lễ hội, ôn lại công lao to lớn sự hy sinh dũng cảm của Quản Cơ Trần Văn Thành và nghĩa

sĩ Về phần hội được mở rộng, địa phương tổ chức hình thức sân khấu hóa, loại hình mới sinh động và hấp dẫn, ngoài ra còn tổ chức triển lãm chuyên đề, các hoạt động hội thi hội diễn, văn hóa thể dục thể thao sôi nổi hào hứng, các trò chơi dân gian theo phong tục truyền thống, văn nghệ phong phú hấp dẫn phục vụ khách tham quan, thu hút hàng vạn lượt người trong và ngoài tỉnh đến tham quan, lễ bái Thông qua các lễ kỷ niệm ngày mất của Quản Cơ Trần Văn Thành, tuyên truyền hành động yêu nước, tấm gương chiến đấu của nghĩa Binh Gia Nghị, giúp các tầng lớp nhân dân hiểu biết thêm về lịch sử địa phương và truyền thống đấu tranh của cha ông thuở trước

Ngoài ra, từ Lộ tẻ Bình Hòa đi Tri Tôn, qua cầu sắt "chợ Cầu số 5", rẽ phải đi khoảng 4 cây số lộ đất nữa sẽ đến dinh Sơn Trung (thuộc xã Vĩnh An, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang) Theo lời kể của Ban Quản lý di tích thì trước năm 2003, nơi đây có một ngôi chùa xây dựng sơ sài bằng cây lá (nên được gọi là Chùa Lá) trên một nền đất rất ẩm thấp, ngay địa điểmđặt bản doanh Sơn Trung khi xưa Sau đó, người dân vì tôn kính, tưởng nhớ ông nên đã tự nguyện quyên góp tiền của, công sức tạo dựng mới một nơi lễ bái rộng lớn, khang trang và đẹp đẽ như ngày nay (hoàn thành năm 2007)

Trang 8

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐỀN THỜ QUẢN CƠ TRẦN VĂN THÀNH

Cổng Đền thờ Trần Văn Thành nhìn từ ngoài và bên trong

Con đường từ cổng đi vào Đền thờ Đền thờ

Quang cảnh trước sân đền thờ Hồ sen trước đền thờ

Trang 9

Bàn thờ Ông Bà Cố Linh sàng của Đức Ông Cố

Súng Thần công lớn nhỏ của Binh Gia Nghị Thương Kích kiếm của Binh Gia Nghị

Bia công nhận di tích đặt trước đền thờ Tượng đài Trần Văn Thành (Châu Phú)

Ngày đăng: 23/01/2013, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w