1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhóm 8 Kinh Tế Công Cộng 2.Docx

21 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Sự Thay Đổi Trong Phân Phối Thu Nhập Của Việt Nam Trong Giai Đoạn 2010 Đến 2020 Và So Sánh Với Một Số Nước Trên Thế Giới
Tác giả Nhóm 8 Kinh Tế Công Cộng 2
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh Tế Công Cộng
Thể loại Bài thảo luận học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 259,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ ~~~~~~*~~~~~~ BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ CÔNG CỘNG ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI TRONG PHÂN PHỐI THU NHẬP CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN 2020 VÀ SO SÁN[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI TRONG PHÂN PHỐI THU NHẬP CỦA

VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN 2020 VÀ

SO SÁNH VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thu Hiền

Hà Nội, 2023

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU:

Việt Nam là một quốc gia năng động đang trong quá trình chuyển đổi và đã đạtđược những tiến triển vượt bậc trong vòng nửa thế kỷ kể từ sau khi kết thúc chiến tranh.Nhưng đồng thời, Việt Nam hiện vẫn đang là quốc gia có mức thu nhập trung bình ởngưỡng thấp và đang phải đối mặt với những thách thức nhằm đạt đến mục tiêu tăngtrưởng, đưa thu nhập của người dân lên ngưỡng trung bình cao Và dưới tác động của bốicảnh nền kinh tế toàn cầu đang có nhiều thay đổi, vấn đề phân phối thu nhập hiện nayđược xem là một khía cạnh quan trọng nhằm đo lường sự bình đẳng trong xã hội Mức độthay đổi trong phân phối thu nhập sẽ phản ánh sự khác biệt về điều kiện sống, năng lực,trình độ, thể chất của các nhóm dân cư khác nhau Đặc biệt, đây cũng là cơ sở để Chínhphủ đưa ra các quyết sách nhằm giải quyết vấn đề việc làm, trợ cấp, xóa đói giảm nghèohay sử dụng các công cụ phân phối lại thu nhập cho người lao động

Vậy trên cơ sở đó, nhóm chúng em đã quyết định lựa chọn vấn đề nghiên cứu làphân tích sự thay đổi về phân phối thu nhập trong giai đoạn 2010 đến 2020 với đối tượngnghiên cứu là tình trạng phân phối thu nhập tại Việt Nam và một số nước trên thế giới

trong đề tài thảo luận “Phân tích sự thay đổi trong phân phối thu nhập của Việt Nam

trong giai đoạn 2010 đến 2020 và so sánh với một số nước trên thế giới” Đề tài được

chia làm 2 chương chính với chương 1 nhóm sẽ giới thiệu các khái niệm cơ bản, một số

lý thuyết về phân phối thu nhập và các thước đo mức độ công bằng trong phân phối thunhập; và với chương 2 nhóm sẽ tập trung phân tích thực trạng thay đổi trong phân phốitheo năm nhóm nhu thập tại Việt Nam và một số nước trên thế giới trong giai đoạn từnăm 2010 đến năm 2020, từ đó đưa ra những nhận xét về mức độ công bằng và bình đẳngtại Việt Nam và trên thế giới

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1.1 Một số khái niệm cơ bản:

● Thu nhập:

Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, mộtdoanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từcông việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó

Thu nhập có thể gồm các khoản như tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản, lợinhuận kinh doanh Thu nhập có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau, có thể từ laođộng, từ việc sở hữu những giấy tờ có giá trị, từ thừa kế, được tặng cho

Thu nhập quốc dân là toàn bộ những của cải và lợi nhuận do nền kinh tế của mộtnước tạo ra trong một thời gian nhất định, thường là một năm, giá trị mới được tạo ratrong phạm vi một nền kinh tế quốc dân của một nước nhất định

● Phân phối thu nhập:

Phân phối thu nhập (income distribution) là sự phân chia thu nhập quốc dân cho

các đầu vào nhân tố khác nhau (phân phối thu nhập theo chức năng, phân phối lần đầu)

hoặc giữa người nhận được thu nhập từ các nhân tố sản xuất và những người khác (phânphối lại, tái phân phối thu nhập) Chính phủ thường tái phân phối thu nhập bằng cáchđánh thuế vào người có thu nhập cao và trợ cấp cho người có thu nhập thấp

Các hình thức phân phối thu nhập có thể kể đến là:

- Phân phối thu nhập theo lao động

- Phân phối thu nhập thông qua phúc lợi xã hội

- Phân phối thu nhập theo vốn và tài sản

Phân phối lại thu nhập có tác dụng động viên, giúp đỡ người nghèo vượt quanhững thời điểm khó khăn, nguy khốn, giúp họ vươn lên trong cuộc sống Nghèo đóithường đi liền với các tệ nạn xã hội, do đó khi người nghèo được hỗ trợ tốt thì cũng gópphần giảm bớt tệ nạn xã hội và giữ vững ổn định chính trị

● Công bằng và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập:

- Quan niệm về công bằng:

+ Công bằng ngang: sự đối xử như nhau đối với những người có tình trạng ban

đầu (kinh tế, tôn giáo, dân tộc) giống nhau

+ Công bằng dọc: sự đối xử khác nhau đối với những người có tình trạng ban

đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có đó

+ Công bằng về cơ hội: Các cá nhân phải có được cơ hội như nhau trong việc

tiếp cận các nguồn lực (giáo dục, y tế, lựa chọn ngành nghề, ) để từ đó cóđược cuộc sống và mức thu nhập ổn định

Trang 4

+ Phân phối thu nhập công bằng: Mỗi cá nhân được đánh giá (hưởng thụ) đúng

mức với công sức họ đã bỏ ra

- Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập: thu nhập được phân phối không đều giữa

các cá nhân hoặc các hộ gia đình trong nền kinh tế

1.2 Thước đo mức độ công bằng trong phân phối thu nhập:

● Đường cong Lorenz:

Đường cong Lorenz chỉ ra tỷ lệ phần trăm của tổng thu nhập cộng dồn theo tỷ lệphần trăm dân số cộng dồn, do vậy còn được gọi là đường phân phối thu nhập

Ưu điểm của thước đo này đó là giúp chúng ta xác định mức độ bất bình đẳngtrong phân phối thu nhập thông qua việc quan sát hình dạng đường cong Bên cạnh đó, nócũng cho phép so sánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các quốc giahay giữa các thời kỳ phát triển

Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là chỉ cho phép thấy được sự bất bìnhđẳng một cách định tính thông qua nhận định chủ quan của người đánh giá; Không thểđưa ra kết luận chính xác về mức độ bất bình đẳng khi các đường Lorenz giao nhau và rấtphức tạp khi so sánh nhiều quốc gia cùng một lúc Vì vậy, cần có một thước đo kháchoàn thiện hơn để khắc phục hạn chế này của đường cong Lorenz

● Hệ số Gini (G):

Hệ số Gini là thước đo mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được sử dụng phổ biến nhất Hệ số Gini được xác định dựa trên đường cong Lorenz, thông qua công thức sau:

Hệ số Gini (G) = A +B A

Trong đó, A là phần diện tích được giới hạn bởi đường cong Lorenz và đường 450;

B là phần diện tích được giới hạn bởi đường cong Lorenz, cạnh đáy và cạnh bên phảihình vuông

Ưu điểm của hệ số Gini: giúp khắc phục được những hạn chế của đường Lorenz là

nó lượng hóa được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập bằng một con số cụthể

Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp này cũng có những hạn chế như: (1) Hệ số

Gini bằng nhau thể hiện ở diện tích phần A như nhau nhưng độ phân bố các nhóm dân cư

có mức độ thu nhập khác nhau là không giống nhau, do đó hình dạng đường Lorenz làkhác nhau Điều này đặc biệt đúng khi các đường Lorenz giao nhau, làm cho hệ số Ginitrở thành thước đo không hoàn toàn nhất quán (2) Không cho phép phân tách hệ số Ginitheo phân nhóm (Chẳng hạn nông thôn, thành thị hay các vùng trong một nước) rồi sau

đó tổng hợp lại để rút ra hệ số Gini quốc gia

● Một số thước đo khác về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập:

Trang 5

- Chỉ số Theil L là đại lượng xác định sự bất bình đẳng dựa trên lý thuyết thông tin/

xác suất

- Tỷ số Kuznets: là tỷ số giữa tỷ trọng thu nhập của x% người giàu nhất và y%

người nghèo nhất

- Tỷ trọng thu nhập (hoặc tiêu dùng) của x% dân số nghèo nhất: Nếu quan tâm

nhiều đến tỷ trọng thu nhập của những người sống dưới đáy thì có thể dùng mộtthước đo trực tiếp, như tỷ trọng thu nhập của 10% hay 20% người nghèo nhất

1.3 Các lý thuyết về phân phối thu nhập:

● Thuyết vị lợi:

Thuyết vị lợi được xây dựng dựa trên quan điểm triết học về phúc lợi do JeremyBentham đề xướng đầu thế kỷ XIX Thuyết này được nghiên cứu dựa trên một số giảđịnh sau:

Thứ nhất, lợi ích của người giàu và người nghèo có trọng số như nhau.

Thứ hai, các hàm thỏa dụng biên tuân theo quy luật độ thỏa dụng biên giảm dần Thứ ba, hàm thỏa dụng của các cá nhân là như nhau.

Thứ tư, tổng mức thu nhập sẵn có là cố định và không thay đổi trong quá trình

phân phối lại

Về nội dung, thuyết vị lợi cho rằng phúc lợi xã hội chỉ phụ thuộc vào độ thỏa dụngcủa các cá nhân trong xã hội Theo đó, phúc lợi xã hội là tổng đại số độ thỏa dụng của tất

cả thành viên trong xã hội để tăng phúc lợi xã hội chỉ cần tăng độ thỏa dụng của bất kỳmột thành viên nào trong xã hội đó

Nếu biểu diễn phúc lợi xã hội dưới dạng hàm toán học thì ta có:

W= U1 + U2 + … + Un = ∑niUi

● Quan điểm bình quân đồng đều:

Quan điểm này cho rằng xã hội cần phấn đấu cho sự ngang bằng phúc lợi của tất

cả các thành viên trong xã hội như vậy, với một lượng thu nhập quốc dân quốc dân cốđịnh, quan điểm này cho rằng phải phân phối lượng thu nhập đó sao cho độ thỏa dụngcủa tất cả các cá nhân trong xã hội phải bằng nhau Do đó, hàm phúc lợi xã hội theo quanđiểm này có dạng:

W = U1 = U2 = … = Un

● Thuyết cực đại thấp nhất:

PLXH chỉ phụ thuộc vào lợi ích của người nghèo nhất Vì vậy, muốn tối đa hóaPLXH, phân phối lại cần tối đa hóa lợi ích của những người có thu nhập thấp nhất (nghèonhất)

Hàm PLXH: W = minimum {U1, U2, …, Un}

Trang 6

● Quan điểm phân phối dựa trên độ thỏa dụng cá nhân:

Các lý thuyết phân phối lại thu nhập đã xem xét ở trên đều được đưa ra dựa trên sởthích của các cá nhân Một số nhà kinh tế học cho rằng, phân phối thu nhập không nênphụ thuộc vào sở thích đó, vì vậy những quan điểm này được gọi là quan điểm không dựatrên độ thỏa dụng cá nhân

Họ cho rằng cần quan tâm đến mức độ sống tối thiểu mà tất cả mọi cá nhân trong

xã hội có quyền được hưởng Mức sống đó không được xác định trực tiếp bằng thu nhập

mà được xác định thông qua những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu như: Lương thực thựcphẩm, quần áo, nhà ở, giáo dục, …

Chi phí cho những khoản tiêu dùng tối thiểu này sẽ được tập hợp lại rồi tính ramức thu nhập tối thiểu Chính phủ giúp đỡ những cá nhân có thu nhập dưới mức tối thiểuthông qua các chương trình trợ cấp và an sinh xã hội

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THAY ĐỔI TRONG PHÂN PHỐI THU NHẬP CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG GIAI ĐOẠN TỪ

NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020 2.1 Thực trạng phân phối thu nhập tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2010 đến 2020:

2.1.1 Thực trạng phân phối thu nhập tại Việt Nam theo 5 nhóm thu nhập:

ẩn nhiều nguy cơ và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của quốc gia

Hiện nay ở Việt Nam đang có sự chênh lệch lớn về tăng trưởng kinh tế, sự pháttriển không đồng đều giữa các vùng kinh tế cũng như giữa khu vực nông thôn, miền núi

xa xôi với các khu vực thành thị Trong năm 2020, kinh tế thế giới cũng như kinh tế ViệtNam đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19 vào năm cuối của chu kỳ quan sát

10 năm, là năm 2020 Cú sốc dịch bệnh này không chỉ tác động xấu tới tăng trưởng kinh

tế, mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống, có ảnh hưởng lớn đến mọi

xu hướng kinh tế - xã hội

Trang 7

Theo đó, thực trạng phân phối thu nhập tại Việt Nam thường được đo lường theonăm nhóm từ nhóm 1 đến nhóm 5 tương ứng với các nhóm nghèo, cận nghèo, trung bình,khá, và giàu Số liệu điều tra cho thấy sự chênh lệch thu nhập bình quân đầu người 1tháng giữa các nhóm này khá rõ nét

Trang 8

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

Khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5

và nhóm 1

Mức độ chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5

và nhóm 1

Bảng 2 Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam

giai đoạn 2010 – 2020 (Đơn vị: Nghìn đồng).

(Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo hàng quý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã

hội)

Bảng 2 cho thấy thu nhập bình quân/tháng của cả 5 nhóm đều tăng qua các năm,trong đó thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2020 gấp 3,04 lần so với năm

2010 Bên cạnh đó, số lần chênh lệch thu nhập giữa Nhóm 5 và Nhóm 1 giai đoạn

2010-2020 luôn ở mức khá cao Cụ thể, từ năm 2010-2018, chênh lệch thu nhập giữa Nhóm 5

và Nhóm 1 có xu hướng tăng liên tục Năm 2010, thu nhập Nhóm 5 gấp 9,24 lần so vớiNhóm 1, đến năm 2018 thu nhập Nhóm 5 gấp 9,86 lần so với Nhóm 1 Điều đó có nghĩa

là khoảng cách thu nhập giữa nhóm người có thu nhập thấp nhất và nhóm người có thunhập cao nhất ngày càng gia tăng, chứng tỏ Việt Nam đàn dần trở thành nước có chênhlệch giàu nghèo cao kéo theo sự bất bình đẳng về thu nhập tăng nhanh

Năm 2010, thu nhập bình quân 1 người/1 tháng của nhóm hộ nghèo nhất (Nhóm1) đạt 369 nghìn đồng, tăng bình quân 9,7% trong giai đoạn 2010-2018 và của nhóm hộgiàu nhất (Nhóm 5) đạt 3.410 nghìn đồng tăng bình quân 10,7% Tốc độ tăng thu nhậpcủa Nhóm 1 chậm hơn nhóm 5 làm cho khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng

Việc làm của người thuộc nhóm 1,2 chủ yếu là lao động nông nghiệp, có thể nói

đa số lao động thuộc hai nhóm thu nhập thấp nhất đều là lao động đơn thuần, thiếu kiếnthức, ngành nghề phát triển chậm Trong khi đó, việc làm của người thuộc nhóm 4,5 đa

số là lao động làm công ăn lương phi nông nghiệp Điều đó nói lên việc khoảng cách giàu

Trang 9

nghèo tiếp tục có nguy cơ gia tăng khi người nông dân bị mất đất, không có việc làm phùhợp rơi vào thất nghiệp do trình độ người lao động thuộc nhóm 1,2 không thích nghiđược với yêu cầu công việc mới Ngược lại, lao động thuộc nhóm 4,5 là người có trình độngày càng có thu nhập tăng lên do nhanh chóng tiếp cận công nghệ tiên tiến.

Tuy nhiên, đến năm 2020, do tác động tiêu cực của dịch Covid-19 và hiệu quả củacác chính sách an sinh xã hội tới các đối tượng là người nghèo, gia đình chính sách nênnhóm thu nhập thấp có tốc độ tăng thu nhập 7,6%, nhanh hơn mức tăng 3,3% của nhómthu nhập cao nhất Điều đó đã kéo theo sự chênh lệch thu nhập giữa 2 nhóm này chỉ còn7,99 lần làm chênh lệch giàu nghèo năm 2020 được cải thiện đáng kể Sau khi đại dịch đãđược kiểm soát, nguy cơ bất bình đẳng về thu nhập giữa các Nhóm sẽ quay trở lại khidoanh nghiệp tiếp tục hoạt động và không còn những chính sách hỗ trợ cho người nghèo

và thu nhập thấp Sự chênh lệch tuyệt đối giữa những người nghèo nhất và những ngườigiàu nhất sẽ là thách thức của mục tiêu phát triển theo hướng đảm bảo công bằng xã hội

Trong giai đoạn 2010-2020, nền kinh tế Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể.Tuy nhiên, cơ cấu phân phối thu nhập thay đổi khá nhỏ Cụ thể:

- Tỷ trọng thu nhập của Nhóm 5 có xu hướng giảm và năm 2020 đạt mức thấp nhấttrong cả giai đoạn, tỷ trọng thu nhập của nhóm này đã giảm 6,1 điểm phần trăm;

- Tỷ trọng thu nhập của Nhóm 4 có xu hướng tăng và năm 2020 đạt mức cao trong cảgiai đoạn, so với mức thấp nhất đạt tại năm 2010 tỷ trọng thu nhập của nhóm này đãtăng 1,6 điểm phần trăm;

- Tỷ trọng thu nhập của Nhóm 3 có xu hướng tăng và sơ bộ năm 2018 đạt mức cao nhấttrong cả giai đoạn, so với mức thấp nhất đạt tại năm 2010, tỷ trọng thu nhập của nhómnày đã tăng 2,1 điểm phần trăm;

- Tỷ trọng thu nhập của Nhóm 2 lúc tăng lúc giảm nhưng biên độ khá nhỏ, khá ổn định

và không có xu hướng rõ rệt giai đoạn 2010-2018 So với năm 2010, tỷ trọng thu nhậpcủa nhóm này năm 2020 tăng mạnh 2,3 điểm phần trăm;

- Tỷ trọng thu nhập của Nhóm 1 giảm dần nhưng nhẹ qua các năm từ 5.3% xuống4,9%, năm sau thấp hơn năm trước giai đoạn 2010-2018, nhưng sơ bộ năm 2020 lạităng lên 5,4% đạt mức cao nhất trong cả giai đoạn 2018-2020, nhưng so với mức tạinăm 2010, tỷ trọng thu nhập của nhóm này chỉ tăng 0,1 điểm phần trăm

Trang 10

Hình 1 Tỷ trọng thu nhập của các nhóm (%) (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Vì vậy, có thể nhận thấy rằng, việc giảm tỷ trọng thu nhập của Nhóm 5 và tăng tỷ

trọng thu nhập của Nhóm 3 là dấu hiệu tích cực nhưng việc giảm tỷ trọng của 2 nhómnghèo nhất lại là dấu hiệu tiêu cực Kết quả tăng trưởng kinh tế đã được phân bổ lại, chủyếu nhóm 3 và 4 được hưởng lợi (đặc biệt là Nhóm 4) nhưng 2 nhóm dân cư nghèo nhấtgần như không được hưởng lợi nhiều Nếu đứng ở vị trí của 60% dân cư giàu nhất, dườngnhư mức độ bất bình đẳng về thu nhập đã giảm, nhưng nếu đứng ở vị trí của 40% ngườinghèo nhất còn lại, rõ ràng, bất bình đẳng về thu nhập lại tăng lên

2.1.2 Các chính sách phân phối thu nhập và chương trình phúc lợi xã hội tại Việt Nam:

2.1.2.1 Chính sách tiền lương:

Đối với người dân có thu nhập thấp, ngoài tiền công, tiền lương hàng tháng họkhông có nguồn thu nhập từ tài sản nào khác Chính vì vậy, chính sách tiền lương là mộttrong những công cụ điều tiết hiệu quả của Nhà nước nhằm hỗ trợ đời sống của ngườinghèo và người có thu nhập thấp trong xã hội Trong thời gian vừa qua, nước ta đã từngbước hoàn thiện cơ chế quy định mức lương tối thiểu vùng và chế độ tiền lương của khuvực doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước;thực hiện nguyên tắc chỉ điều chỉnh mức lương cơ sở và ban hành chính sách, chế độ mớiđối với khu vực công khi đã bố trí đủ nguồn lực; không ban hành mới các chế độ phụ cấptheo nghề, triển khai xây dựng danh mục vị trí việc làm tạo cơ sở cho việc trả lương

Đồng thời từ năm 2013, tiền lương tối thiểu để tính lương cho người lao động ởkhu vực công được đổi thành mức lương cơ sở Ngày 9/11/2016, Quốc hội đã ban hànhNghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm, trong đó có nội dung tăng mức lương cơ sở tối

Ngày đăng: 25/05/2023, 17:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam - Nhóm 8 Kinh Tế Công Cộng 2.Docx
Bảng 2. Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam (Trang 8)
Hình 1. Tỷ trọng thu nhập của các nhóm (%)                                                                              (Nguồn: Tổng cục Thống kê) - Nhóm 8 Kinh Tế Công Cộng 2.Docx
Hình 1. Tỷ trọng thu nhập của các nhóm (%) (Nguồn: Tổng cục Thống kê) (Trang 10)
Bảng 2.2.1: Số liệu về thu nhập của các nhóm của nước Thái Lan trong năm 2010- 2015- - Nhóm 8 Kinh Tế Công Cộng 2.Docx
Bảng 2.2.1 Số liệu về thu nhập của các nhóm của nước Thái Lan trong năm 2010- 2015- (Trang 14)
Hình 2.2.2: Tỷ trọng phân phối thu nhập theo 5 nhóm thu nhập của Indonesia trong năm - Nhóm 8 Kinh Tế Công Cộng 2.Docx
Hình 2.2.2 Tỷ trọng phân phối thu nhập theo 5 nhóm thu nhập của Indonesia trong năm (Trang 16)
Bảng 2.2.2.2: Phân phối thu nhập theo 5 nhóm thu nhập của Indonesia giai đoạn 2010- - Nhóm 8 Kinh Tế Công Cộng 2.Docx
Bảng 2.2.2.2 Phân phối thu nhập theo 5 nhóm thu nhập của Indonesia giai đoạn 2010- (Trang 16)
w