1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển hành lang kinh tế quốc lộ 2 trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa

160 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HLKT là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ mang lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở các nước đang phát triển nói chung và ở Việt N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

- -

PHẠM NGỌC CHÂU

PHÁT TRIỂN HÀNH LANG KINH TẾ QUỐC LỘ 2 TRONG

THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

- -

PHẠM NGỌC CHÂU

PHÁT TRIỂN HÀNH LANG KINH TẾ QUỐC LỘ 2 TRONG

THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ

CHUYÊN NGÀNH : ĐỊA LÍ HỌC

MÃ SỐ : 60.31.95

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN MINH TUỆ

THÁI NGUYÊN, NĂM 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác

Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đó đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đó đƣợc chỉ rừ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Phạm Ngọc Châu

Trang 4

Sau hai năm nghiên cứu và học tập tại Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đến nay tôi đã hoàn thành chương trình học tập và luận văn tốt nghiệp của mình

Trong thời gian thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu

từ phía các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp, các tập thể trong và ngoài nhà trường

Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, khoa Địa lí cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới UBND, Sở kế hoạch & đầu tư, Sở công thương, Sở tài nguyên & môi trường, Sở nông nghiệp, Sở giao thông vận tải, Cục thống kê của các tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tìm kiếm số liệu cho luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn những đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ, chia sẻ với tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tuy bản thân tôi đã cố gắng rất nhiều, song do những hạn chế về mặt thời gian, khả năng và kinh nghiệm của bản thân nên chắc chắn luận văn cũng không tránh khỏi những thiếu sót Qua đây, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn và mang tính thực tiễn cao hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 07 năm 2010

Tác giả

Phạm Ngọc Châu

Trang 5

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

Tên bảng Trang

BẢNG 2.1: Diện tích, dân số của các huyện, thị xã, thành phố dọc

QL 2 thuộc hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ năm 2008

34 BẢNG 2.2: HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT DỌC HLKT QL 2 NĂM

BẢNG 2.4: Đặc điểm lưu lượng nước của các con sông dọc hành

lang kinh tế QL 2 năm 2008

BẢNG 3.2: Giá trị sản xuất trên địa bàn 2 tỉnh có HLKT QL 2 và cơ

cấu GTSX, giai đoạn 2000 – 2008

BẢNG 3.8: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần

kinh tế của hai tỉnh dọc HLKT QL 2, giai đoạn 2002 –

BẢNG 3.11: Tình hình phát triển du lịch của HLKT QL 2 trên địa

bàn hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ giai đoạn 2001 –

103

Trang 7

BẢNG 3.13: Tình hình xuất nhập khẩu của hai tỉnh trên địa bàn

HLKT QL 2

109

BẢNG 3.14: Tình hình sản xuất lương thực trên hành lang kinh tế

quốc lộ 2, giai đoạn 2004 – 2008

113

B DANH MỤC HÌNH HÌNH 2.1: Quy mô dân số của HLKT QL 2, giai đoạn 2000 – 2008 53 HÌNH 2.2: Cơ cấu sử dụng lao động phân theo ngành kinh tế của hai

tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc năm 2002 và 2008

55

HÌNH 2.3: Toàn cảnh và mối quan hệ QL 2 với các tuyến QL khác ở

Vùng Trung du miền núi phía Bắc

58

HÌNH 3.1: Sự chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất theo nhóm ngành

kinh tế của HLKT QL 2 năm 2004 và 2008

78

HÌNH 3.2: Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng nông – lâm – ngư

nghiệp của 2 tỉnh dọc hành lang kinh tế quốc lộ 2 giai đoạn 2002 – 2008

112

Trang 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 5

5 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Quan điểm nghiên cứu 5

5.2 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp của đề tài 8

7 Cấu trúc luận văn 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH LANG KINH TẾ QL 2 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Khái niệm và bản chất của Tổ chức lãnh thổ kinh tế 9

1.1.2 Các hình thức TCLT ở Việt Nam 11

1.1.3 Hành lang kinh tế 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Sự phát triển HLKT trên thế giới 28

1.2.2 Thực tiễn phát triển HLKT Việt Nam 30

1.2.3 Tiểu kết 32

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN HÀNH LANG KINH TẾ QUỐC LỘ 2 34

2.1 Khái quát về HLKT QL 2 và địa bàn nghiên cứu 34

2.2 Tiềm năng phát triển HLKT QL 2 36

2.2.1 Vị trí địa lí 36

2.2.2 Tự nhiên 38

2.2.3 Kinh tế - xã hội 55

2.3 Đánh giá chung 74

2.3.1 Thuận lợi 74

2.3.2 Khó khăn 75

Trang 9

3.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế 77

3.1.2 Cơ cấu kinh tế 82

3.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 84

3.2.1 Công nghiệp 84

3.2.2 Dịch vụ 100

3.2.3 Ngành nông – lâm – ngư nghiệp 112

3.3 Phân hoá lãnh thổ 116

3.4 Tiểu kết 119

CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HÀNH LANG KINH TẾ QUỐC LỘ 2 122

4.1 Các quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế 122

4.1.1 Các quan điểm 122

4.1.2 Các mục tiêu phát triển 123

4.1.3 Định hướng phát triển 124

4.2 giải pháp phát triển 133

4.2.1 Huy động vốn đầu tư 133

4.2.2 Hoàn thiện kết cấu hạ tầng 134

4.2.3 Xây dựng chương trình hành động chung ở các cấp địa phương cho 2 tỉnh trong vùng HLKT QL 2 chạy qua 135

4.2.4 Thiết lập mạng lưới thông tin và các kênh liên lạc trong HLKT 136

4.2.6 Bảo vệ môi trường sinh thái 137

4.3 Tiểu kết 137

PHẦN KẾT LUẬN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

PHỤ LỤC

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, cùng với quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là sự phong phú về các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế – xã hội để phù hợp với

xu hướng phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới Do đó, ngoài những hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội truyền thống, còn xuất hiện nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội mới, thể hiện những mối liên kết kinh tế –

xã hội giữa các lãnh thổ và phù hợp với xu hướng hội nhập chung của nền kinh tế thế giới Một trong những hình thức tổ chức kinh tế – xã hội mới đó là

HLKT HLKT là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ mang lại hiệu

quả kinh tế cao và phù hợp với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở các

nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng HLKT được hình

thành dựa trên một tuyến giao thông huyết mạch và sự tập trung của các cơ sở

công nghiệp và dịch vụ dọc tuyến trục mà nó chạy qua Sự ra đời của HLKT

góp phần thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá, giao lưu kinh tế, tăng cường mối liên

kết trên toàn hành lang và các khu vực xung quanh HLKT tạo ra sự liên kết

giữa các hạt nhân tăng trưởng, từ đó lan toả ảnh hưởng, tạo ra lực kéo các vùng lân cận phát triển

Trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, muốn phát triển kinh tế của một vùng không phải chỉ dựa trên những nguồn lực sẵn

có của vùng đó mà cần phải tranh thủ những thuận lợi từ những vùng lân cận thông qua quá trình hợp tác, trao đổi; có như vậy thì mới tận dụng được lợi thế, khắc phục những khó khăn, tạo ra thế và lực mới cho vùng phát triển

Chính khi đó, HLKT lại đảm nhận được nhiệm vụ quan trọng ấy, trong đó HLKT QL 2 là một ví dụ tiêu biểu

HLKT QL 2 có tổng chiều dài 313,56 km, bắt nguồn từ huyện Sóc Sơn -

thủ đô Hà Nội, chạy qua các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang và kết thúc tại cửa khẩu Thanh Thuỷ, tỉnh Hà Giang Đây là tuyến Hành lang quan

Trang 12

trọng của Việt Nam nằm trong dự án hợp tác “hai hành lang một vành đai” giữa Việt Nam - Trung Quốc và nằm trên tuyến dự án hợp tác HLKT Côn Minh –

Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng Tuyến hành lang này có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra mối quan hệ giao lưu kinh tế - xã hội giữa Đồng bằng sông Hồng với Trung du miền núi phía Bắc, góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch vùng và tạo động lực cho Trung du miền núi phía Bắc phát triển

Vì vậy, đánh giá đúng tiềm năng cũng như hiện trạng phát triển kinh tế

trên tuyến HLKT QL 2 có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở cho việc hoạch định

các chiến lược khai thác thế mạnh lãnh thổ, tận dụng cơ hội, phát huy thành tựu đạt được, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức để phát triển kinh tế nhanh và bền vững

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Phát triển hành lang

kinh tế quốc lộ 2 trong thời kì công nghiệp hoá - hiện đại hoá”

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trong xu thế hội nhập và liên kết kinh tế trên bình diện khu vực và thế

giới, việc phát triển hình thức HLKT đã và đang thu hút không chỉ một quốc

gia mà là rất nhiều chính phủ các nước tiến đến các bàn đàm phán song phương nhằm đạt được các thoả thuận có hiệu quả trong việc phát triển kinh

tế khu vực và toàn cầu

Bắt đầu khởi thuỷ từ các nghiên cứu đầu tiên của các nhà địa lý về tổ chức lãnh thổ, về vai trò của các cực tăng trưởng và sức lan toả của chúng đối với nền kinh tế như các lí thuyết cực phát triển của Francois Perroux, lí thuyết trung tâm của W.Christaller và A.Losch, cho đến các lí thuyết về cơ chế hợp tác

khu vực hiện đại bao gồm cả HLKT Hiện tại, các nghiên cứu về HLKT đã thu

hút được sự quan tâm chú ý của các nhà khoa học, cũng như các nhà kinh tế

Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu liên quan và có giá trị trong vấn đề này của các tác giả Việt Nam như:

Trang 13

1) “Hợp tác kinh tế trên Hành lang Đông - Tây” Bộ ngoại giao – 2001, Nhà xuất bản khoa học – xã hội, Hà Nội

2) “Một số giải pháp phát triển thương mại trên HLKT Hải Phòng – Lào

Cai – Côn Minh”, Viện nghiên cứu thương mại – 2002

3) “Nghiên cứu phát triển thương mại khu vực HLKT Hải Phòng – Lào

Cai – Côn Minh”, Viện nghiên cứu thương mại – 2004

4) HLKT Nam Ninh – Hà Nội – Hải Phòng”, Viện quản lí kinh tế trung

ương – 2003”

Một số công trình nghiên cứu về vấn đề Tổ chức lãnh thổ kinh tế chung

cũng đã đề cập về lí thuyết của HLKT như: Địa lý kinh tế – xã hội đại cương

(Nguyễn Minh Tuệ chủ biên, NXB ĐHSP, H 2004), Địa lý kinh tế – xã hội Việt Nam (GS.TS Lê Thông chủ biên, NXB ĐHSP, Hà Nội năm 2005), Bàn về phát triển kinh tế (PGS.TS Ngô Doãn Vịnh chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, H 2003)…

Trong những năm gần đây cùng với xu hướng hội nhập khu vực, Việt Nam và các nước láng giềng trong khu vực đã liên tục có những hướng đi thiết thực nhằm đạt đến sự phát triển trong các lĩnh vực hợp tác Tháng

10/1998, tại Manila, lần đầu tiên khái niệm HLKT Đông – Tây được đưa ra

xem xét và thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên thuộc “Tiểu

vùng sông Mê Công và tiểu vùng sông Mê Công mở rộng” Từ đó, HLKT trở

thành một hình thức tổ chức kinh tế – xã hội phát triển rất nhanh ở nhiều vùng

trên khắp lãnh thổ Việt Nam, trong đó có HLKT QL 2

Trong chương trình đào tạo Thạc sĩ của Khoa Địa lý trường Đại học Sư

phạm Hà Nội, tổ chức lãnh thổ kinh tế nói chung và HLKT nói riêng là những

hướng nghiên cứu và triển khai đề tài luận văn Một số luận văn Thạc sĩ tiêu biểu nghiên cứu về HLKT, Hành lang du lịch bao gồm:

+ Phân tích nguồn lực và thực trạng phát triển HLKT Đông – Tây vùng

Bắc Trung Bộ, tác giả: Vũ Anh Tú, 2006

Trang 14

+ Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển HLKT ven biển Móng Cái – Hạ

Long – Hải Phòng – Đồ Sơn, tác giả: Nguyễn Thị Quế Phương, 2007

+ Khai thác tài nguyên du lịch dọc Hành lang đường 18, tác giả: Nguyễn Xuân Năng, 2006

+ Phân tích tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch theo QL 10, tác giả: Phan Thị Thanh Nga, 2005

Còn HLKT QL 2 cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn về HLKT, đề tài nhằm vận dụng vào

nghiên cứu HLKT QL 2 trên lãnh thổ Việt Nam, nhằm làm sáng tỏ tiềm năng,

đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trên địa bàn nghiên cứu và đề xuất một

số giải pháp cho phát triển có hiệu quả và bền vững trong tương lai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đúc kết cơ sở lí luận và thực tiễn về việc phát triển HLKT

- Đánh giá tiềm năng phát triển HLKT QL 2

- Phân tích hiện trạng phát triển kinh tế – xã hội ở địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp phát triển cho HLKT QL 2

trong thời gian tới

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt không gian: Phạm vi HLKT QL 2 chạy qua địa bàn 5 tỉnh –

thành phố là: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang Tuy nhiên, để phù hợp với yêu cầu của một luận văn thạc sĩ, do giới hạn bởi thời gian nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu địa bàn 2 tỉnh mà Hành lang

QL 2 chạy qua là Vĩnh Phúc và Phú Thọ; trong đó tập trung vào các thành phố, thị xã, huyện trực thuộc 2 tỉnh nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của HLKT, cụ thể là: 2 thành phố: Vĩnh Yên, Việt Trì; 2 thị xã: TX Phúc Yên, TX Phú Thọ và 7 huyện: Bình Xuyên, Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh

Trang 15

Tường, Phù Ninh, Thanh Ba, Đoan Hùng ở một số chỉ tiêu đánh giá, do không thể bóc tách được phải lấy số liệu cho phạm vi toàn tỉnh

- Về mặt thời gian: Nguồn số liệu được điều tra, thu thập và xử lí từ năm

2000 đến năm 2008

- Về mặt nội dung: Đề tài tập trung phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển HLKT QL 2 (đoạn chạy qua 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ với

tổng chiều dài 97 km) Điểm bắt đầu tại km 15 thuộc địa phận xã Phúc Thắng

- TX Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc và kết thúc tại km 112 tại địa phận Xã Chi Đám – Huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ

5 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

- Sự phối kết hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng bộ

và toàn diện các yếu tố hợp phần của thể tổng hợp lãnh thổ kinh tế, phát hiện

và xác định những đặc điểm đặc thù của các thể tổng hợp lãnh thổ địa lí

5.1.2 Quan điểm hệ thống và lãnh thổ

Phát triển HLKT mà cụ thể là HLKT QL 2 không những là sự phát triển

kinh tế trên các phương diện ngành, vùng kinh tế mà còn là sự phát triển toàn diện của cả vùng theo một hệ thống bao gồm các phương diện khác nhau về chính sách mở cửa, thu hút đầu tư, thông thương trên các địa bàn, tạo điều kiện thu hút sự trao đổi, vận chuyển hàng hoá từ các vùng nằm sâu trong nội địa với các vùng khác trong cả nước và thế giới

Trang 16

5.1.3 Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững vừa được coi là quan điểm vừa được coi là mục tiêu nghiên cứu trong các nghiên cứu địa lí kinh tế – xã hội Đây cũng là mục tiêu

phát triển HLKT ở các vùng lãnh thổ đặc biệt khó khăn, nhằm hướng tới mục

tiêu rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế, khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng còn lại trong cả nước Khi nghiên cứu vấn

đề phát triển HLKT QL 2, cùng với các ưu thế về tài nguyên thì các mối quan hệ

vùng cũng được chú trọng và được coi như là một trong những nhân tố quyết định đến sự hình thành và phát triển của loại hình tổ chức lãnh thổ này

5.1.4 Quan điểm lịch sử – viễn cảnh

Khu vực HLKT QL 2 có bề dày về lịch sử dựng nước, giữ nước và có

nền văn hoá lâu đời Trải qua lịch sử phát triển hàng ngàn năm với bao thăng trầm, đến nay vùng đất này còn giữ được những đặc điểm riêng biệt, đặc sắc về

tự nhiên, văn hóa và con người Những đặc điểm này là điều kiện cho việc phát triển du lịch nói riêng và kinh tế nói chung trên địa bàn Sử dụng quan điểm lịch

sử để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, quá trình hình thành và phát triển của các loại tài nguyên tự nhiên, nhân văn, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để có được những nhận định, những phương án, những dự báo chính xác và giúp cho việc hoạch định, tổ chức các hoạt động kinh tế trên địa bàn có hiệu quả và bền vững

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu làm đề tài Các tài liệu được tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: các giáo trình, số liệu thống kê, công trình nghiên cứu có liên quan, thông tin từ báo chí, Intrernet,…

Trang 17

5.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Các tài liệu sau khi thu thập cần được xử lí qua các bước: phân tích, tổng hợp, so sánh để trở thành những tài liệu, dẫn chứng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài

5.2.3 Phương pháp bản đồ

Phương pháp này được sử dụng nhằm khai thác một cách đầy đủ nhất các thông tin trên hệ thống bản đồ hiện có, đặc biệt là các thông tin về lãnh thổ nghiên cứu Các thông tin trên bản đồ thường gắn với lãnh thổ nhất định,

do đó phản ánh chính xác những tiềm năng và hiện trạng phát triển kinh tế của mỗi lãnh thổ Bên cạnh đó, các thông tin trên bản đồ cho phép ta đặt lãnh thổ nghiên cứu trong mối quan hệ với các lãnh thổ lân cận, thấy được sự liên kết giữa các lãnh thổ trong việc phát triển kinh tế Đồng thời, phương pháp này cũng được sử dụng trong việc thể hiện các kết quả nghiên cứu của đề tài trên bản đồ Trong nghiên cứu khoa học địa lí, phương pháp bản đồ là một phương pháp đặc trưng nhất không thể thiếu

5.2.4 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng, đưa ra các kết luận, các quyết định trong việc lựa chọn phương án phát triển với những thông tin lượng hoá chính xác

5.2.5 Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin

Trong quá trình thực hiện đề tài, máy tính và các phần mềm tin học được coi như là một công cụ hỗ trợ đắc lực Các phần mềm không thể thiếu trong việc hoàn thành luận văn là Mapinfo, Microsoft Office Những phần mềm này góp phần hỗ trợ và xử lí có hiệu quả đối với các thông tin, số liệu, từ đó có được các phân tích, đánh giá xác thực nhằm phân tích và tổng hợp chính xác các ngồn

Trang 18

thông tin từ đó đưa ra những nhận định chính xác và khoa học nhất Ngoài ra, các phần mềm tin học còn đưa ra cơ sở dữ liệu để xây dựng nên hệ thống bản đồ

6 Những đóng góp của đề tài

- Bổ sung và làm rõ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về HLKT

- Kiểm kê được các điều kiện ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển

HLKT QL 2

- Đưa ra bức tranh phát triển của HLKT QL 2

- Đề xuất được một số giải pháp cho sự phát triển có hiệu quả và bền

vững của HLKT QL 2 trong tương lai

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được bố cục thành 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế và HLKT QL 2

Chương 2: Tiềm năng phát triển HLKT QL 2

Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế Hành lang QL 2

Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế Hành lang QL 2 đến năm 2020

Trang 19

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ

KINH TẾ VÀ HÀNH LANG KINH TẾ QUỐC LỘ 2

Trong đó “tổ chức” chính là việc sắp xếp các đối tượng bao gồm các xí

nghiệp, các ngành, các lĩnh vực, các điểm dân cư, kết cấu hạ tầng,…trên một

lãnh thổ nhất định “Lãnh thổ” được hiểu là địa bàn để tổ chức, sắp xếp và nó

có ranh giới xác định Việc tổ chức được tiến hành trên một lãnh thổ xác định theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Tổ chức lãnh thổ không chỉ có vai trò phát huy hết nguồn lực của một lãnh thổ nhất định, khắc phục tình trạng chồng chéo, quá tải về sức chứa lãnh thổ mà còn kết nối các ngành trong cùng một lãnh thổ, kết nối sự phát triển của một lãnh thổ với nhau Điều đó càng

chứng tỏ, tổ chức lãnh thổ đóng vai trò hết sức to lớn trong phát triển kinh tế -

xã hội Đây là một vấn đề được nghiên cứu từ lâu trên thế giới với rất nhiều quan điểm khác nhau

Theo quan điểm của các nhà khoa học Liên Xô (cũ): TCLT kinh tế là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp giữa các đối tượng có mối liên hệ qua lại giữa các

hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế - xã hội và môi trường

Với quan điểm này, TCLT theo nghĩa rộng bao gồm các vấn đề có liên quan tới phân công lao động theo lãnh thổ, phân bố lực lượng sản xuất, các sự khác biệt về vùng trong quan hệ trương hỗ giữa xã hội và tự nhiên cũng như vấn đề chính sách phát triển của từng vùng Theo nghĩa hẹp, TCLT bao gồm các phạm trù như: TCLT về hành chính Nhà nước, quản lí vùng về sản xuất,

Trang 20

sự hình thành các thành tạo lãnh thổ về tổ chức kinh tế, sự xác định các khách thể vùng của quản lí, sự phân vùng về kinh tế - xã hội

Ở phương Tây, từ đầu thế kỉ XIX, một số nước đã sớm bước vào nền kinh tế thị trường, TCLT trở thành khoa học quản lí của họ Theo tác giả Jean

Paul De Gaudeman (1992), TCLT được hiểu là nghệ thuật sử dụng lãnh thổ

một tỉ lệ và quan hệ hợp lí về phát triển kinh tế giữa các ngành trong một vùng, giữa các vùng trong một quốc gia và trên mức độ nhất định có xét đến mối liên kết giữa quốc gia với nhau, tạo ra một giá trị mới nhờ có sự sắp xếp trật tự và hài hoà giữa các đơn vị lãnh thổ khác nhau trong cùng một tỉnh, một vùng và một nước trong những điều kiện của nền kinh tế thị trường và hệ thống kinh tế mở Mục đích của việc sắp xếp này là sử dụng hợp lí các nguồn lực - lợi thế so sánh của lãnh thổ trong xu thế hội nhập và cạnh tranh để tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững

Ở Việt Nam, gần đây các nhà kinh tế cũng đi sâu nghiên cứu về vấn đề

này Theo PGS.TS Ngô Doãn Vịnh, TCLT kinh tế là sự “sắp xếp” và “phối

hợp” các đối tượng trong cùng một mối liên hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử

dụng hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí kinh tế, chính trị và cơ

sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của một lãnh thổ

Có thể thấy, đây là ý kiến tổng hợp dựa trên sự đúc kết hệ thống quan điểm về TCLT trên thế giới, vận dụng linh hoạt để phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong những năm gần đây, nhiều quan điểm về TCLT kinh tế đã được vận dụng vào việc thực hiện quy hoạch lãnh thổ nước ta và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các vùng trong cả nước đặc biệt là các vùng đặc biệt khó khăn, góp phần quan trọng trong công tác xoá đói giảm nghèo và làm giảm chênh lệch giữa các vùng trên cả nước

Trang 21

Việc quy hoạch tổ chức lãnh thổ kinh tế không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế mà còn tác động tới sự phát triển các mặt xã hội của vùng

1.1.1.2 Bản chất của TCLTKT

Chúng ta biết rằng, xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển được thì đều phải thực hiện quá trình lao động sản xuất Nền sản xuất của xã hội bao gồm các ngành, các thành phần kinh tế khác nhau và được tổ chức trên những không gian nhất định của bề mặt trái đất Mỗi địa phương (hay lãnh thổ) thường dựa vào những thế mạnh riêng của mình về tự nhiên và xã hội để tiến hành chuyên môn hoá sản xuất theo những lĩnh vực khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao về kinh tế Khi mỗi địa phương đi sâu vào sản xuất một hay một số sản phẩm nhất định để trao đổi với các địa phương khác tạo nên nhiều ngành kinh tế khác nhau cho xã hội Đó chính là sự phân công lao động xã hội theo ngành Tuy nhiên, mỗi ngành sản xuất chuyên môn hoá lại gắn liền với một lãnh thổ nhất định để phù hợp với những đặc điểm về kinh tế và công nghệ hiện

có, tạo ra sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ Như vậy, phân công lao động theo ngành kéo theo phân công lao động xã hội theo lãnh thổ Hai hiện tượng kinh tế - xã hội này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Tóm lại, phân công lao động xã hội là cơ sở nền tảng của tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội

Về bản chất, TCLT chính là việc tìm ra phương án hợp lí nhất về kiến thiết lãnh thổ làm sao cho trong quá trình phát triển của các ngành, lĩnh vực theo cùng hướng và liên hệ mật thiết với nhau tạo ra tính nhất quán cần thiết nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao và có được sự phát triển bền vững cho lãnh thổ và cho cả hệ thống lớn hơn

1.1.2 Các hình thức TCLT ở Việt Nam

Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, các hình thức TCLT kinh tế đều dựa trên cơ sở bối cảnh trong nước và quốc tế để phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước Các hình thức TCLT của mỗi địa phương dựa trên cơ sở

Trang 22

lợi thế so sánh và những đặc trưng về dân cư, dân tộc, văn hoá riêng biệt nhằm tạo ra sự phát triển phù hợp cho mỗi vùng

Các hình thức TCLT bao gồm hai nhóm chính: Các hình thức TCLTKT theo vùng kinh tế lớn, các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện) và các hình thức TCLTKT theo các khu vực đặc biệt bao gồm: Vùng trọng điểm, HLKT, khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, khu du lịch,

a Vùng kinh tế trọng điểm

Sự chênh lệch trong phát triển vùng là điều kiện tất yếu không thể tránh khỏi trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Thông thường, những khu vực đô thị tập trung đông dân cư, cơ sở hạ tầng hoàn thiện sẽ có sự phát triển kinh tế – xã hội nhanh hơn Những khu vực có điều kiện ngược lại thì dân cư thưa thớt, cơ sở hạ tầng kém phát triển, kinh tế trì trệ, chậm phát triển Vì vậy, những khu vực có sự phát triển kinh tế nhanh thường là những lãnh thổ có ý nghĩa trung tâm, có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy sự phát triển ở các vùng khác Những vùng kinh tế trọng điểm thường mang những đặc điểm sau:

- Chiếm tỉ trọng lớn trong tổng GDP của quốc gia và trên cơ sở đó, nếu được đầu tư tích cực sẽ có khả năng tạo ra tốc độ phát triển nhanh cho cả nước

- Hội tụ các điều kiện thuận lợi và ở mức độ nhất định đã tập trung tiềm lực kinh tế (kết cấu hạ tầng, lao động kĩ thuật, các trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học cấp quốc gia và cấp vùng, có vị thế hấp dẫn các nhà đầu

tư, có tỉ trọng lớn trong cơ cấu GDP của cả nước, )

- Có khả năng tạo tích luỹ đầu tư để tái sản xuất mở rộng; đồng thời có thể tạo ra nguồn ngân sách lớn Vì vậy, vùng không chỉ tự đảm bảo cho mình

mà còn có khả năng hỗ trợ các vùng khác khó khăn hơn

- Có khả năng thu hút những ngành công nghiệp mới và các ngành dịch

vụ then chốt để rút kinh nghiệm về mọi mặt cho các vùng trong phạm vi cả nước Từ đây, tác động của nó lan truyền sự phân bố công nghiệp ra các vùng xung quanh với chức năng là trung tâm của một lãnh thổ rộng lớn

Trang 23

Từ những năm 90 của thế kỉ XX, Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm Nguyên nhân do trình độ phát triển kinh tế nước ta còn thấp, nguồn vốn còn thiếu, Trong khi đó, chúng ta đang tham gia vào cuộc chơi hội nhập với nền kinh tế thế giới, chúng ta cần phải tìm mọi cách để phát triển, tránh tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới Mặt khác, gắn với thực tế đặc điểm hình dạng lãnh thổ trải dài và hẹp ngang, điều kiện kinh tế - xã hội đều phân bố theo vùng rõ rệt,

sự chênh lệch vùng lớn nên việc phát triển các vùng kinh tế trọng điểm là phù hợp Bên cạnh đó, với thực tế nội lực có hạn, chúng ta phải thu hút đầu tư nước ngoài, do vậy phát triển vùng kinh tế trọng điểm là một chiến lược nhằm thu hút đầu tư quốc tế

Hiện nay, nước ta có ba vùng kinh tế trọng điểm Vùng KTTĐ phía Bắc

gồm: TP Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh

và Quảng Ninh Vùng KTTĐ miền trung gồm các tỉnh, thành phố sau: Thừa Thiên- Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định Vùng KTTĐ miền Nam gồm: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Long An, Tây Ninh, Bình Phước và Tiền Giang Ba vùng KTTĐ này đều có những đặc điểm chung về sự phát triển như sau:

- Ba vùng đều có nhịp độ phát triển nhanh và đã có đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế chung của cả nước So với mức tăng trưởng trung bình của cả nước, các vùng KTTĐ thường có tốc độ tăng trưởng cao hơn

- Ba vùng KTTĐ là địa bàn tập trung phần lớn các khu công nghiệp và các ngành công nghiệp chủ chốt của cả nước

- Ba vùng KTTĐ đóng góp tới 80% giá trị xuất khẩu và thu hút phần lớn các dự án, số vốn FDI của cả nước

- Tóm lại, việc hình thành và phát triển các vùng KTTĐ có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình thực tế của nước ta hiện nay Đây là hình thức TCLT dạng đặc biệt có quy mô lớn nhất và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 24

b Hành lang kinh tế

HLKT là một hình thức TCLT đặc biệt hình thành dựa trên một trục

tuyến giao thông huyết mạch và sự tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ dọc theo hai tuyến trục đó Do việc vận chuyển thuận lợi nên các hoạt động kinh tế đem lại hiệu quả cao hơn Ở nước ta, hình thức TCLT này ra đời dựa trên việc xây dựng và thực hiện một chiến lược kinh tế nhằm phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh của khu vực về kinh tế, vị trí địa lí và lịch sử

HLKT bao gồm các yếu tố sau:

- Tuyến giao thông huyết mạch nối các cực phát triển

- Các cơ sở kinh tế, nhất là các doanh nghiệp công nghiệp, du lịch, thương mại, dịch vụ khác Các doanh nghiệp đó được lợi do có được điều kiện vận tải dễ dàng

- Các điểm dân cư và những khu vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bổ trợ Các hành lang kinh tế là trục động lực mang ý nghĩa đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của toàn vùng rộng lớn Trên thực tế Việt Nam, những vùng

có cơ sở hạ tầng khó khăn thường là những khu vực trì trệ, kém phát triển Vì vậy, khi trục hành lang giao thông ra đời sẽ là điểm hút mạnh mẽ lôi kéo được

sự đầu tư của người dân trong các hoạt động thương mại, công nghiệp

Mỗi HLKT thường có độ dài hàng trăm km, chạy qua nhiều tỉnh Trên địa

bàn mỗi tỉnh có thể hình thành và phát triển một đoạn thuộc tuyến HLKT Các

tuyến HLKT tiêu biểu của Việt Nam hiện nay là: Hà Nội – Hải Phòng; TP Hồ

Chí Minh – Biên Hoà - Vũng Tàu; Huế - Đà Nẵng – Dung Quất, Trên phạm

vi quốc tế, nước ta cũng nằm trong tuyến HLKT quan trọng: Côn Minh – Lào

Cai – Hà Nội – Hải Phòng; Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng

c Khu kinh tế

Khu kinh tế là một lãnh thổ xác định được hưởng ưu đãi đặc biệt để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Khu kinh tế mang tính tổng hợp cao, vừa có hoạt động công nghiệp vừa có hoạt động thương mại, du lịch, nhà ở và

Trang 25

các công trình công cộng trên cơ sở đó hỗ trợ nhau giữa các hoạt loại hình TCLT

Đặc trưng của khu kinh tế gồm:

- Là khu vực có vị trí địa lí thuận lợi cho giao lưu với các khu vực khác Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc thành lập các khu kinh tế

- Khu kinh tế có môi trường đầu tư, kinh doanh buôn bán phù hợp với cơ chế thị trường, được ưu đãi hơn các vùng khác Đặc trưng này có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển thương mại quốc tế của khu kinh tế so với các khu vực khác trong nước

- Khu kinh tế giao lưu kinh tế với nước ngoài thông thoáng, không bị hạn chế, ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài (vốn FDI)

- Mặc dù được hưởng các chính sách ưu đãi, ưu tiên hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài song sự phát triển của các khu kinh tế cũng yêu cầu không được gây ảnh hưởng xấu tới an ninh quốc gia, không xâm hại đến các công trình văn hoá, di tích của đất nước

Trong điều kiện hội nhập hiện nay, khu kinh tế là hình thức TCLT phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước có chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tính đến năm 2007, nước ta có 10 khu kinh tế bao gồm: Vân Đồn, Nghi Sơn, Vũng Áng, Đông Bắc Nghệ An, Chân Mây – Lăng

Cô, Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội, Vân Phong và Phú Quốc Các khu kinh

tế có tác dụng tích cực trong việc phát triển đất nước Hiện nay, đây là những địa bàn thu hút đầu tư trong và ngoài nước, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng mạnh các khu công nghiệp và các bến cảng phục vụ giao thông thông quốc tế

d Khu công nghiệp tập trung

Phát triển công nghiệp là một trong những hướng chiến lược của các nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hoa – hiện đại hoá Để phát triển công nghiệp hiệu quả cần tận dụng tối đa các lợi thế so sánh lãnh thổ Tuỳ theo điều kiện của từng lãnh thổ mà có các hình thức tổ chức công

Trang 26

nghiệp khác nhau, mỗi hình thức tổ chức công nghiệp phù hợp với từng lợi thế của mỗi lãnh thổ

Quan niệm về KCN đã được các nhà địa lí Liên Xô đưa ra cách đây nhiều thập kỉ, tuy nhiên chưa được thống nhất về nội dung và những đặc trưng chủ yếu Có nhiều nghĩa khác nhau, về đại thể KCN được hiểu là sự kết hợp theo lãnh thổ của những điểm công nghiệp ở gần nhau được quy tụ về một hay một vài trung tâm công nghiệp phân bố gần nhau và kết hợp với nhau bằng việc cùng chung chuyên môn hoá, mạng lưới vận tải thống nhất và những mối liên hệ sản xuất chặt chẽ Như vậy, mặc dù KCN được tạo ra bởi nhiều điểm công nghiệp khác nhau những giữa chúng phải có mối liên hệ lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất

Ở Việt Nam, năm 1994, Chính phủ đã đưa ra Nghị định 192/CP về KCN hoàn toàn khác với các quan điểm của các nhà địa lí Xô Viết: KCN quy định trong quy chế này là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lí xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống Như vậy, khái niệm KCN của Việt Nam thể hiện rõ vai trò quan trọng của loại hình TCLT công nghiệp này trong quá trình CNH, HĐH đất nước Theo đó, KCN có các vai trò chính sau: + Tăng cường năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế

+ Góp phần quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự chuyển dịch thể hiện ở cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ Các KCN sẽ tập trung sản xuất các sản phẩm công nghiệp ưu thế của Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế dựa trên những thế mạnh của từng vùng + Góp phần thúc đẩy năng lực khoa học và công nghệ Việc phát triển các KCN là động lực thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong thực tiễn đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước + Góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động Việt Nam Với một nước mà lao động nông

Trang 27

nghiệp chiếm hơn 70%, năng suất lao động thấp như nước ta thì chỉ có phát triển công nghiệp mới có thể nâng cao được năng suất lao động đồng thời tăng thu nhập cho người dân

+ Các KCN thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương, đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội qua “lăng kính FDI” + Góp phần giải quyết các vấn đề về môi trường

- Đặc điểm chính của KCN ở nước ta:

+ Tập trung tương đối nhiều xí nghiệp công nghiệp trên một khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng sản xuất xã hội

+ Các xí nghiệp nằm trong KCN được hưởng quy chế ưu đãi riêng

+ Có ban quản lí thống nhất để thực hiện quy chế quản lí

+ Có phân cấp về quản lí và tổ chức sản xuất

e Khu du lịch

Hiện nay, cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, du lịch là một ngành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở tất cả các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Việc quy hoạch trong phát triển rất cần thiết nhằm mục đích sử dụng lãnh thổ có hiệu quả cao nhất Đối với du lịch, hình thức TCLT đặc thù của ngành du lịch là khu du lịch, tiêu biểu và rộng khắp các quốc gia trên thế giới Khu du lịch thường gắn với một vài điểm du lịch nổi tiếng và là điểm dừng quan trọng của các tour hay các tuyến du lịch Hiện nay, khu du lịch phát triển mạnh trên phạm vi cả nước Đến năm 2006, cả nước sẽ có 24 khu du lịch phân bố trên 23 tỉnh, thành phố

1.1.3 Hành lang kinh tế

1.1.3.1 Khái niệm

Trước khi Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đưa ra khái niệm HLKT

như một sáng kiến thúc đẩy hợp tác kinh tế ở Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), thì khái niệm này đã được biết đến ở Hoa Kì và các nước Châu Âu và

được xem như là một cách tiếp cận phát triển ở những khu vực địa lí liền kề,

Trang 28

lấy các trục tuyến giao thông làm cơ sở để kết nối các vùng nhằm xây dựng các khuôn khổ hợp tác về kinh tế - xã hội

Khái niệm HLKT cũng đã được Viện chiến lược và phát triển (Bộ kế

hoạch và Đầu tư) đưa ra, theo đó HLKT là tuyến trục giao thông gắn với

sự phân bố tập trung các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển toàn tuyến, làm cho các hoạt động kinh tế của tuyến trở thành động lực lôi kéo sự phát triển chung[33]

Trên thực tế HLKT hình thành dựa trên một tuyến trục giao thông huyết

mạch (thường là đường bộ) và sự tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ gắn với các đô thị dọc hai bên trục đó Tuyến trục này cho phép giao thông diễn ra thuận lợi từ các điểm đầu đến các điểm cuối đồng thời giữ được vai trò cực kì quan trọng để liên kết toàn khu vực và thúc đẩy hành lang phát triển Lợi ích từ việc tăng trưởng ở các cực sẽ được lan toả dọc hành lang một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn nhờ các mối liên kết trên tuyến trục Sự lan toả này có ý nghĩa to lớn cả về mặt kinh tế lẫn xã hội Về kinh tế, điều này cần thiết cho việc tạo ra các điều kiện để bản thân hành lang có khả năng phát triển bền vững Về mặt xã hội, sự lan toả sẽ góp phần đảm bảo cho sự phân phối thu nhập theo lãnh thổ trở nên công bằng hơn

Một điểm cần lưu ý là ranh giới của HLKT được xác định như là ranh giới

mềm, nghĩa là nó có thể thay đổi theo không gian và thời gian tuỳ thuộc lãnh thổ

và các mối liên hệ kinh tế của nó với lãnh thổ có hành lang chạy qua

1.1.2.2 Đặc điểm của HLKT

Đặc điểm của HLKT được thể hiện trên cơ sở các mối quan hệ, liên kết

kinh tế được thiết lập nhằm làm cho lợi ích và sự phát triển có thể lan toả dọc hành lang một cách nhanh chóng và hiệu quả Các mối liên hệ này nhằm đảm bảo cho sự phân phối thu nhập theo lãnh thổ trở nên công bằng hơn và tạo ra

các điều kiện để bản thân HLKT có khả năng phát triển bền vững Vì vậy, HLKT bao gồm các đặc điểm sau:

Trang 29

- Đặc điểm đầu tiên và cũng là quan trọng nhất của HLKT là các trọng

điểm phát triển Vị trí, số lượng các trọng điểm này được xác định trên hành lang thông qua các nhân tố sau:

+ Chính sách và ý tưởng chiến lược của Nhà nước

+ Cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực

+ Vị trí và lợi thế so sánh của các đô thị

+ Các nguồn lực tài chính và kinh tế

Với ý nghĩa là một tuyến liên kết, trục giao thông huyết mạch thì các

trọng điểm phát triển trên HLKT là những điểm phát triển nhất, thu hút được

sự quan tâm đầu tư của cả vùng, cả nước và quốc tế Chính các trọng điểm phát triển này cùng với các cực ở hai đầu hành lang sẽ tạo ra sự phát triển cho toàn bộ vùng và là bộ khung phát triển về mặt lãnh thổ

- Sự có mặt của các ngành kinh tế chủ đạo, đó là các ngành kinh tế tạo tăng trưởng, có thể là các ngành công nghiệp chủ đạo hoặc các ngành có tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu ngành công nghiệp, hay nói cách khác đây

là các ngành “đang phát triển”, đó cũng có thể là các ngành công nghệ cao,

hiện đại hoặc các ngành dịch vụ,…

- Sự hình thành của các ngành bổ trợ hay xúc tác Đó là các ngành phục vụ cho nhu cầu sản xuất của các khu công nghiệp và các ngành kinh tế tạo tăng trưởng

- Sự hình thành và phát triển của các tuyến truyền tải là các tuyến nối giữa các cực phát triển (các ngành kinh tế chủ đạo) với các ngành xúc tác trên các trọng điểm của hành lang Những trục giao thông huyết mạch này không chỉ có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành và phát triển các cơ sở công nghiệp

1.1.3.3 Vai trò của HLKT đối với sự phát triển kinh tế – xã hội

HLKT được xây dựng nhằm phát triển một số lĩnh vực kinh tế - xã hội nhất

định Do vậy, căn cứ vào mục đích xây dựng hành lang mà vai trò của chúng đối với các hoạt động kinh tế có thể khác nhau Tuy nhiên, dù mục đích phát triển

Trang 30

HLKT có tập trung vào lĩnh vực nào đi nữa thì vai trò của nó vẫn là tao ra một

tuyến huyết mạch để liên kết các vùng nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế

+ HLKT có vai trò thúc đẩy sự phát triển của các vùng nhất định về một

số lĩnh vực kinh tế, thường về công nghiệp, thương mại hay du lịch,… Tuy

tập trung vào lĩnh vực nào thì vai trò của HLKT vẫn là tạo điều kiện để phát

triển toàn diện kinh tế của các vùng trên cùng một trục huyết mạch dựa trên

cơ sở hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tăng khả năng lưu thông Chính vì vậy,

HLKT có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trao đổi hàng hoá, giao lưu

kinh tế giữa các địa bàn trên hành lang và với các địa bàn lân cận cũng như với các vùng, các nước láng giềng xung quanh nó

+ Việc xây dựng Hành lang tạo ra các tuyến giao thông huyết mạch trên cơ

sở đó hình thành các cụm dân cư, cơ sở hình thành các vùng đô thị trao đổi hàng

hoá, là động lực cho phát triển kinh tế Như vậy, HLKT đã tạo ra hệ thống thị

trường tiêu thụ để thúc đẩy sản xuất nội vùng và các vùng xung quanh

+ HLKT tạo ra mối liên kết nội vùng, lãnh thổ nhất định với các vùng, lãnh thổ khác xung quanh, do vậy vai trò của HLKT không chỉ có ý nghĩa thúc đẩy sự

phát triển trên địa bàn mà nó đi qua mà còn thúc đẩy sự phát triển của các vùng xung quanh trên cơ sở đẩy mạnh giao lưu, trao đổi hàng hoá, mở rộng thị trường + Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải là nhiệm vụ quan trọng của HLKT Do vậy, chi phí vận chuyển sẽ giảm, khả năng lưu thông tăng lên,

từ đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá - dịch vụ và hiệu quả trao đổi thương mại

+ HLKT tạo đựng môi trường thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, phát

triển sản xuất và dịch vụ, đẩy mạnh phân công lao động xã hội Sự phát triển trên Hành lang giúp rút ngắn chênh lệch về trình độ phát triển giữa các địa bàn trên hành lang và các vùng lân cận Điều này sẽ thúc đẩy khả năng trao đổi hàng hoá, tăng sức sản xuất trên một lãnh thổ ngày càng lớn hơn

Những biểu hiện cụ thể của lợi ích khi HLKT phát triển là:

Trang 31

Thứ nhất, giảm được chi phí lưu thông hàng hoá, dịch vụ; hoàn thiện cơ

sở hạ tầng, tạo điều kiện hình thành các điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp nhờ vào nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngành sản xuất

từ khâu cung cấp nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ

Thứ hai, hình thành, nâng cấp và hoàn thiện mạng lưới cơ sở hạ tầng, thu

hút đầu tư, tăng hiệu quả sử dụng vốn đất

Thứ ba, tạo việc làm thông qua chuyển dịch năng động lao động giữa các

vùng cho cơ hội chuyên môn hoá và đào tạo kĩ năng lao động

Thứ tư, tạo ra các liên kết về kinh tế - xã hội giữa các địa bàn trên hành

lang và địa bàn xung quanh, phát triển kinh tế - xã hội theo một mục tiêu chung

mà vẫn giữ nguyên bản sắc văn hoá dân tộc, phong tục truyền thống của vùng, miền

Thứ năm, góp phần giữ vững trật tự an ninh quốc gia, tạo tầm nhìn dài

hạn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở phát triển bền vững

1.1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của HLKT

Tổ chức không gian kinh tế - xã hội nói chung và HLKT nói riêng chịu

tác động tổng hợp và đồng thời của nhiều yếu tố như: vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội,… Các yếu tố này tác

động đến sự hình thành và phát triển của HLKT với mức độ khác nhau ở

những vị trí khác nhau, vào những thời kì khác nhau

a Vị trí địa lí

Phần lớn các nhà khoa học đều thừa nhận vai trò quan trọng của vị trí địa lí

lãnh thổ và coi đó như là một nhân tố “cá biệt hoá” đối với quá trình hình

thành và phát triển của HLKT Vai trò đó ngày càng được biểu hiện rõ hơn trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu khi lựa chọn các trọng điểm phát triển, các cực phát triển và tăng trưởng kinh tế

b Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Trang 32

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là yếu tố nền tảng đối với sự phát triển của HLKT Những đặc trưng về điều kiện tự nhiên, sự phân bố tài nguyên thiên nhiên, quy mô, chất lượng tài nguyên của lãnh thổ quy định đặc điểm cơ cấu lãnh thổ, cường độ và hướng di chuyển các mối liên

hệ thông qua lịch sử và truyền thống khai thác lãnh thổ Ở mỗi vùng lãnh thổ

có một tập hợp tài nguyên riêng, nguồn lực tự nhiên riêng biệt là cơ sở ban đầu để hình thành cơ cấu kinh tế lãnh nói chung và HLKT nói riêng

Tài nguyên thiên nhiên là điều kiện cần thiết để phát triển sản xuất trên lãnh thổ Không có tài nguyên tự nhiên cần thiết nhất định không thể xuất hiện các hoạt động sản xuất, các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, một loại tài nguyên nào đó tại một vùng không nhất quyết sẽ có thể phát triển một hoạt động sản xuất nào đó Bởi vì, việc phát triển một hoạt động sản xuất không chịu sự quyết định của một nhân tố tài nguyên thiên nhiên mà còn chịu sự quyết định bởi cơ sở kinh tế, điều kiện kĩ thuật và điều kiện cung - cầu của thị trường Do vậy, tài nguyên thiên nhiên là điều kiện tất yếu để phát triển sản xuất của vùng

Cùng với tiến bộ khoa học công nghệ và trình độ sản xuất, phạm trù của tài nguyên thiên nhiên cũng được mở rộng không ngừng, nhưng tài nguyên vẫn là cơ sở vật chất tự nhiên phát triển sức sản xuất của vùng Sự tiến bộ của khoa học công nghệ và trình độ sức sản xuất làm cho con người không ngừng khai thác theo chiều rộng và theo chiều sâu đối với tài nguyên - tư liệu lao động và đối tượng lao động trực tiếp

c Kinh tế - xã hội

- Dân số và nguồn nhân lực:Nguồn lao động là một dạng nguồn lực của sản xuất và không thể thiếu được trong tất cả các lĩnh vực kinh tế Với vai trò

đó, nguồn lao động được xem xét ở cả hai khía cạnh: chi phí và lợi ích

Nguồn lao động bao hàm những lợi ích tiềm tàng, góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống và giảm đói nghèo thông qua các chính sách việc làm, tổ chức lao động hiệu quả, áp dụng công nghệ phù hợp,

Trang 33

Vai trò của lao động còn được thể hiện ở khía cạnh khác, đó là một bộ phận của dân số – là người hưởng thụ lợi ích của quá trình phát triển Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia hầu hết các nước phải đặt nó trong tâm và coi trọng hàng đầu chiến lược phát triển con người Con người là chủ thể tiến hành sản xuất, các hoạt động xã hội cải tạo và sử dụng tự nhiên Số lượng, chất lượng dân cư, sự hợp thành, di chuyển và phân bố của dân số đều ảnh hưởng tới sự phát triển sản xuất, sự phân bố cơ cấu kinh tế của lãnh thổ

Dân số được xem xét ở hai khía cạnh, vừa là lực lượng sản xuất đồng thời cũng là đối tượng tiêu dùng

+ Dưới góc độ là người tham gia sản xuất, số lượng và chất lượng nguồn lao động đóng vai trò chủ chốt Số lượng lao động ảnh hưởng đến quy mô khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, quy mô sản xuất của lãnh thổ Ngoài ra, số lượng lao động, cụ thể là tỉ lệ lao động trong tổng số dân cũng có ảnh hưởng đến thu nhập, mức sống và mức độ tích luỹ, đầu tư cho sản xuất Chất lượng nguồn lao động ảnh hưởng lớn đến trình độ phát triển kinh tế và

đa dạng hoá ngành nghề của hành lang, đặc biệt trong thời kì công nghiệp hoá

- hiện đại hoá đất nước

+ Dưới góc độ là người tiêu dùng, những đặc điểm về số lượng, cơ cấu tuổi, giới tính, phong tục, thói quen tiêu dùng, của dân cư có ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng, chủng loại hàng hoá Thị trường tại chỗ phát triển sẽ góp phần không nhỏ thúc đẩy các ngành sản xuất trong HLKT

Ngoài ra, sự phân bố dân cư cũng ảnh hưởng đến phân bố sản xuất lãnh thổ Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thường tập trung ở những nơi có dân số đông, nguồn lao động dồi dào trước rồi mới lan rộng ra lãnh thổ xung quanh Việc mở rộng phạm vi khai thác tài nguyên sẽ dẫn đến sự di chuyển của một bộ phận dân cư để mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất đồng thời mở

Trang 34

rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, qua đó thúc đẩy sản xuất ở những vùng sâu, vùng xa kém phát triển, giảm sự chênh lệch vùng

- Khoa học - công nghệ:

Khi phân tích về vai trò của các yếu tố đến phát triển kinh tế – xã hội thời kì công nghiệp hoá, các nhà khoa học đã phải thừa nhận vai trò quan

trọng của khoa học – công nghệ và coi đó là biến số quan trọng nhất Điều đó

được minh chứng ở tỉ trọng đóng góp của khoa học – công nghệ vào GDP ở các nước trên thế giới, trong đó ở các nước phát triển chiếm tới 2/3 thu nhập còn ở các nước đang phát triển thì tỉ lệ này cũng là 1/3 Không những thế, khoa học – công nghệ còn được coi như là công cụ góp phần làm biến đổi sâu sắc bộ mặt văn hoá, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường sinh thái của các

vùng lãnh thổ trong đó có hành lang kinh tế

Mặt khác, dưới tác động của khoa học – công nghệ danh mục các loại tài nguyên thiên nhiên mới không ngừng được mở rộng, trong đó có cả cách thức chế tác ra những loại tài nguyên tái sinh (nhân tạo) điều đó đã giảm được sức

ép của các dạng tài nguyên truyền thống tới sản xuất và đời sống của con người Cũng nhờ đó, cơ cấu lao động xã hội cũng có xu hướng chuyển từ lao động giản đơn sang lao động máy móc qua đó nâng cao năng suất lao động được nâng lên, nền kinh tế cũng gián tiếp chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu Từ đó tác động đến chuyển dịch cơ nền kinh tế từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp – dịch vụ

Vì vậy sẽ không còn nghi ngờ gì khi xác định vai trò của công nghệ là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và thúc đẩy sự phát triển nền kinh

tế của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trong đó có HLKT phát triển theo chiều

sâu

Khoa học – công nghệ có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của HLKT Công nghệ là yếu tố có tác dụng biến các lợi thế, tiềm năng phát triển thành hiện thực ở hầu hết các ngành, các lãnh thổ sản xuất Những tiến

Trang 35

bộ về công nghệ cho phép con người khai thác tốt hơn các tài nguyên thiên nhiên, nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần làm thay đổi cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ

Tiến bộ công nghệ giúp con người mở rộng phạm vi sử dụng tài nguyên thiên nhiên và khai thác theo chiều sâu, trên nhiều góc độ để phục vụ sản xuất Công nghệ càng tiến bộ thì nguồn tài nguyên thiên nhiên càng có giá trị cao Tiến bộ công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tiết kiệm lao động, tiết kiệm vốn, làm giảm nhẹ sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên khác Vì lí do đó, tiến bộ khoa học - công nghệ giúp nâng cao tính ổn định trong quá trình phát triển của HLKT, tăng cường sức cạnh tranh giữa các bộ phận lãnh thổ

Tiến bộ khoa học - công nghệ còn mở ra lối thoát lớn cho lao động – việc làm, giúp mở rộng sản xuất các ngành công nghiệp từ đó chuyển biến một lực lượng lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, dẫn tới sự thay đổi cơ cấu ngành nghề của HLKT Như vậy, tiến bộ khoa học -công nghệ đã làm đa dạng hoá ngành nghề của lãnh thổ Từ đó có thể thấy, tiến bộ khoa học - công nghệ là con đường để loài người tiến công vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau đồng thời tiết kiệm lao động cho một lĩnh vực và tăng việc làm cho xã hội

Mặt khác, tiến bộ khoa học - công nghệ đã làm đa dạng hoá cơ cấu kinh

tế của HLKT Tiến bộ khoa học - công nghệ không chỉ làm tăng trưởng quy

mô nền kinh tế mà còn xúc tiến việc thay đổi cơ cấu kinh tế, hoạt động sản xuất theo hướng thích hợp hơn trong mỗi giai đoạn Một mặt, góp phần nâng cao mức sống và làm cho cơ cấu tiêu dùng của con người thay đổi, đồng thời tạo ra nhiều hàng hoá để kích cầu, làm đa dạng nhu cầu của con người

- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật

Đây là yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng, được quan tâm hàng đầu

trong quá trình hình thành và phát triển của HLKT HLKT phát triển chủ yếu

Trang 36

dựa vào các tuyến, trục giao thông nối giữa các lãnh thổ trên hành lang vì thế

cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng (đặc biệt là giao thông) có vai trò quyết định đến việc hình thành và phát triển cũng như việc phát huy được lợi ích và hiệu quả của hành lang Cơ sở vật chất kĩ thuật – hạ tầng tốt và đồng bộ là một điều kiện hết sức quan trọng để hành lang thu hút đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác lãnh thổ theo chiều sâu Tuy vậy, đây cũng là yếu tố “bảo thủ”, khó thay đổi các dạng phân bố vì vậy trong quá trình phát triển các hoạt động phải lưu ý đến lịch sử hình thành và phân bố của nhân tố này

- Trình độ phát triển kinh tế

Trình độ phát triển của nền kinh tế là nhân tố có tính chất quyết định đến

cơ cấu kinh tế lãnh thổ bởi nó luôn tạo ra nhu cầu mới lớn hơn, kích thích sản xuất phát triển Bên cạnh đó, trình độ phát triển kinh tế cũng là cơ sở, tiền đề

để tái tổ chức không gian kinh tế - xã hội

để lợi thế, tiềm năng và nguồn lực của từng vùng, tạo nên các hạt nhân, các

vùng động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các vùng lân cận HLKT QL

2 nằm trong chiến lược phát triển tổ chức lãnh thổ ấy

Hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới là một trong những định hướng chiến lược quan trọng của nước ta nhằm tận dụng những cơ hội toàn cầu hoá, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế – xã hội với các nước trên thế giới Chính sách phát triển hành lang, chủ trương liên kết với các nước trong khu vực trong việc phát triển hành lang, liên kết kinh tế nhằm

Trang 37

khai thác tối đa lợi thế trong nước và khu vực, giúp đỡ nhau cùng phát triển

đã được khẳng định và thực hiện; nhiều HLKT được thành lập ở nước ta và

các chương trình hợp tác phát triển “hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt

Nam – Trung Quốc” được triển khai HLKT QL 2 cũng nằm trong chiến lược

phát triển của hành lang, tăng cường liên kết kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực Chạy qua vùng KTTĐ phía bắc, là 1 đoạn trong dự án

HLKT Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong hợp tác kinh tế – xã hội giữa Việt Nam – Trung Quốc nên khu vực HLKT QL 2 còn nhận được sự

quan tâm đầu tư của Nhà nước nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế – xã hội

- HLKT QL 2 đoạn chạy qua 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ dài trên 100

km, thuộc một đoạn của QL 2 từ Hà Nội đi Hà Giang, đồng thời là một đoạn

chạy qua địa bàn phát triển kinh tế năng động nhất trong toàn HLKT QL 2 Là một đoạn nằm trong dự án HLKT Côn Minh - Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng,

đoạn chạy qua tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong dự án vành đai III, IV với Hà Nội

- Vốn đầu tư

Vốn đầu tư (cả trong và ngoài nước) đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự hình thành và phát triển của HLKT Trong điều kiện của nước ta hiện nay thì đầu tư nước ngoài (bao gồm cả vốn, khoa học và công nghệ, kinh nghiệm quản lí, ) giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có thể làm thay đổi bộ mặt, tăng nhanh tốc độ dịch chuyển cơ cấu lãnh thổ

- Tác động của các hoạt động kinh tế – chính trị – xã hội trong khu vực

và quốc tế:

Hiện nay với xu hướng hội nhập, mỗi lãnh thổ trong một quốc gia cũng chịu sự tác động của các hoạt động giao lưu kinh tế trên phạm vi quốc tế Các tác động từ hoạt động kinh tế – chính trị – xã hội trên bình diện khu vực hay quốc tế có thể tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi lãnh thổ mở rộng thị trường, thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút nguồn vốn đầu tư Ngược lại, các tác

Trang 38

động tiêu cực cũng có thể dẫn đến suy giảm hiệu quả sản xuất, gây khó khăn, kìm hãm quá trình phát triển của lãnh thổ

Ngoài ra, còn một số các nhân tố khác cũng có tác động nhất định đến sự hình thành và phát triển các HLKT: như thị trường bên ngoài, thực trạng và

xu thế phát triển của đất nước,

1.2 Cơ sở thực tiễn

Ý tưởng xây dựng HLKT được nêu ra trong Hội nghị các Bộ trưởng các

nước tiểu vùng sông Mê Công lần thứ 8 họp tại Manila tháng 9 năm 1998 do Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) chủ trì Tại hội nghị này, khái niệm

HLKT được đưa ra với nội dung là lấy xây dựng giao thông làm cơ sở kết hợp

với các cơ chế hợp tác hữu cơ về mặt sản xuất, thương mại, đầu tư Nút đầu mối

của HLKT làm trung tâm cho sự vận chuyển hàng hoá tới các trung tâm khác từ

đó phát triển các hoạt động kinh tế trên một trục hành lang giao thông Cùng với việc đưa ra mô hình HLKT, hội nghị đã tập trung bàn luận để đưa ra các phương thức thực hiện cụ thể ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia khác nhau

Hội nhập kinh tế quốc tế với khu vực và thế giới là một trong những định hướng chiến lược của Việt Nam Qua đây, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế với các nước trên thế giới Việt Nam đã thành công trong việc gia nhập WTO, tham gia vào khu vực mậu dịch

tự do Asean, kí kết Hiệp định thương mại với Hoa Kì, Đặc biệt, những năm gần đây Việt Nam coi trọng việc mở rộng sự liên kết kinh tế với các nước

trong khu vực Và HLKT chính là một trong những chiến lược để mở rộng sự

hợp tác phát triển trên lãnh thổ, tạo đà cho cả lãnh thổ lớn hơn cùng phát triển

1.2.1 Sự phát triển HLKT trên thế giới

Trước khi Ngân hàng Châu Á (ADB) đưa ra khái niệm HLKT để phát triển Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, người ta đã biết nhiều đến các HLKT

ở Hoa Kì, Châu Âu, Châu Phi, như là một sự tiếp cận phát triển ở những khu vực địa lí liền kề, lấy các trục tuyến giao thông làm cơ sở để kết nối với

Trang 39

các vùng nhằm xây dựng các khuôn khổ hợp tác về phát triển kinh tế - xã hội Chẳng hạn, theo hệ thống phát triển đường cao tốc Appalachian ở West

Virgina (Hoa Kì), người ta đã xây dựng 26 HLKT nhằm cải thiện vị trí của khu vực Appalachian hoặc HLKT Nigier trong phát triển kinh tế – xã hội ở Nigieria, Đặc biệt, hiện nay HLKT Á - Âu dựa trên cơ sở “con đường tơ

lụa” huyền thoại đang được hình thành là động lực phát triển kinh tế Á - Âu Hành lang này dự kiến sẽ nằm trên trục giao thông kéo dài 140.000 km nối liền Châu Á và Châu Âu, bao gồm cả hệ thống đường sắt xuyên á, chạy qua một vùng lãnh thổ rộng lớn với hơn 1 tỉ dân sinh sống

Trong hợp tác phát triển Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, người ta đưa

ra việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông qua đó phát triển kinh tế trên các hành lang sau:

+ HLKT Đông – Tây: Kéo dài từ Mawlamynie (Myanmar) đi qua Thái Lan, Lào và kéo dài tới Việt Nam (tại Đà Nẵng) HLKT này tập trung phát

triển trước các dự án như: hành lang giao thông Đông – Tây, phát triển giao thông thuỷ, phát triển đường sắt, đường hàng không, tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển hàng hoá qua biên giới, phát triển nguồn nhân lực

+ HLKT phía Nam từ Băng Cốc (Thái Lan) tới Vũng Tàu (Việt Nam)

được tập trung phát triển các tuyến giao thông thuỷ, đường bộ, hàng không trên trục giao thông xuyên suốt 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia

+ HLKT Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng tạo thành động lực

kinh tế nối liền Vân Nam (Trung Quốc) với các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam trong đó có hai hạt nhân là Hà Nội và Hải Phòng Hành lang này đang được kết nối với các hành lang: Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Nam Ninh và

Hà Nội – Lạng Sơn – Nam Ninh tạo thành một hệ thống “hai hành lang một

vành đai” Mô hình liên kết các trung tâm này dựa trên sự liên kết các vùng kinh

tế cửa khẩu với các trung tâm kinh tế lớn và các cảng biển của Việt Nam

Trang 40

Việc phát triển các HLKT trên thế giới và khu vực có tác động mạnh mẽ tới hình thành và phát triển các HLKT ở Việt Nam qua việc cung cấp những

kinh nghiệm thực tiễn và những bài học quý giá

1.2.2 Thực tiễn phát triển HLKT Việt Nam

Phát triển HLKT như là một phương thức đẩy nhanh tiến trình hội nhập

kinh tế thế giới và khu vực, là bộ phận cấu thành trong chiến lược kinh tế đối ngoại của đất nước theo xu hướng tăng cường hợp tác kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế Ở trong nước, việc tăng cường giao lưu kinh tế thông qua hành lang tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

và cải thiện đời sống dân cư của các lãnh thổ dọc hành lang nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi Nhận thức được ý nghĩa, vai trò quan trọng của việc phát triển hành lang nên trong thời gian gần đây ở nước ta đã hình thành và phát

triển một số HLKT nội địa như:

- HLKT QL 18: Tuyến HLKT QL 18 bắt nguồn từ sân bay Nội Bài (Hà

Nội) chạy qua Bắc Ninh, Chí Linh (Hải Dương), TP Hạ Long và kết thúc tại cửa khẩu Đông Hưng thuộc TP Móng Cái Đây là tuyến hành lang kinh tế mới song đang phát triển nhanh chóng và ngày càng giữ vai trò quan trọng đối

với việc phát triển kinh tế trong vùng HLKT QL 5 cùng với HLKT QL 18 đã tạo thành bộ khung phát triển cho toàn miền bắc Dọc HLKT tập trung nhiều

ngành công nghiệp nặng (CN vật liệu xây dựng và CN năng lượng, ) và các khu công nghiệp tập trung có sự đầu tư của nhiều tập đoàn kinh tế mạnh trên thế giới, có tác dụng xoay chuyển hẳn sự phân bố công nghiệp của toàn vùng

và kéo theo sự phát triển đô thị

- Tuyến HLKT QL 10

QL 10 là tuyến đường quan trọng nối liền các tỉnh duyên hải Bắc Bộ

Tuy nhiên, HLKT QL 10 mới phát triển chủ yếu ở phạm vi các tỉnh Hải

Phòng, Thái Bình, Nam Định Trước đây, việc đi lại trên tuyến đường này còn

Ngày đăng: 24/03/2021, 21:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w