1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

bài tập lớn môn kinh tế , khoa kinh tế biển

43 753 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Lớn Kinh Tế Vĩ Mô
Tác giả Lương Thị Loan
Trường học Khoa Kinh Tế Biển
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 669 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất cả các biến số kinh tế vĩ mô đều đụng chạm đến cuộc sống của chúng ta.Khi dự báo nhu cầu sản phẩm của chính mình, hội đồng quản trị ở các doanhnghiệp phải đoán xem thu nhập của người

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 2

PHẦN II NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: Nền kinh tế Việt Nam hiện nay với đầu tư nước ngoài 3

1 Giới thiệu môn học, vị trí của môn học trong chương trình Đại học 3

2 Giới thiệu chung về nền kinh tế Việt Nam sau thời kì đổi mới đến nay 5

3 Giới thiệu về FDI, nêu rõ vai trò và tầm quan trọng của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam 15

CHƯƠNG 2: Đánh giá vai trò của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1987 đến nay 18

1.Tìm hiểu và phân tích số liệu về FDI, nêu rõ lợi ích của FDI đối với nền kinh tế nước ta 18

2.Thống kê số liệu về FDI từ năm 1987 đến nay, lập bảng và vẽ biểu đồ về sự thay đổi của FDI 23

3 Thống kê đầy đủ các nước đầu tư vào nước ta và phân tích số liệu 30

4.Thống kê đầy đủ các ngành chủ yếu được đầu tư trực tiếp nước ngoài 36

5 Cơ hội thu hút FDI khi ra nhập WTO 38 6.Các biện pháp mà chính phủ sử dụng để thu hút nhiều hơn FDI 40 PHẦN III KẾT LUẬN 43

Kết luận 43

Trang 2

Lời mở đầu

Để đánh giá đúng tầm quan trọng của kinh tế vĩ mô, bạn chỉ cần đọc báo vànghe đài Các phương tiện truyền thông đại chúng hàng ngày thông tin về chiềuhướng phát triển của nền kinh tế Những tiêu đề in đậm trên trang nhất như THUNHẬP CÁ NHÂN TĂNG BỐN PHẦN TRĂM, QUỸ DỰ TRỮ LIÊN BANGCHUYỂN SANG CHỐNG LẠM PHÁT, hoặc CỔ PHIẾU GIẢM DO MỌINGƯỜI LO SỢ TÌNH TRẠNG SUY THOÁI hầu như không ngày nào khôngxuất hiện trên báo chí

Tất cả các biến số kinh tế vĩ mô đều đụng chạm đến cuộc sống của chúng ta.Khi dự báo nhu cầu sản phẩm của chính mình, hội đồng quản trị ở các doanhnghiệp phải đoán xem thu nhập của người tiêu dùng tăng nhanh đến mức nào.Người già sống bằng thu nhập cố định thường băn khoăn về tốc độ tăng giá.Những công nhân thất nghiệp đang tìm kiếm việc làm hi vọng nền kinh tế phụchồi và các doanh nghiệp tuyển thêm người Tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng bởithực trạng của nền kinh tế.Thực trạng nền kinh tế ra sao thì lại đòi hỏi chúng taquản lý nguồn nhân lực hiện có ra sao? Và phát triển nó ra thế nào…?

Việc quản lí nguồn lực của xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có tính

khan hiếm Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức sử dụng các nguồn lực

khan hiếm nhằm thỏa mãn các nhu cầu không có giới hạn của chúng ta một cáchtốt nhất có thể

Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học, nghiên cứu về cách

ứng xử nói chung của mọi thành phần kinh tế, cùng với kết quả cộng hưởng của

các quyết định cá nhân trong nền kinh tế đó Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứu bao gồm mức sản xuất, lạm phát, thất nghiệp, mức

giá chung và cán cân thương mại của một nền kinh tế…

Đặc biệt, sau một thời gian bị lãng quên, vấn đề lạm phát ở Việt Nam lạiđực quan tâm chặt chẽ và kiềm chế lạm phát hiện đang là nhiệm vụ ưu tiên hàngđầu.Trong bối cảnh nền kinh tế chung bị khủng hoảng trầm trọng,cả thế giới đangchống chọi với sự khủng hoảng tài chính chưa từng có trong lịch sử, đặc biệt làcuộc khủng hoảng năm 2008 thì vấn đề đầu tư nước ngoài vào Việt Nam diễn biếnthế nào? Việt Nam đã làm gì để thu hút FDI sau khi hội nhập?

Trang 3

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: Nền kinh tế Việt Nam hiện nay với đầu tư nước ngoài.

1 Giới thiệu về môn học, vị trí của môn học trong chương trình đại học.

1.1 Giới thiệu môn học:

Kinh tế học

-Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nàonguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất hàng hoá và dịch vụ thoả mãn nhu cầucủa cá nhân và toàn xã hội

Kinh tế học vĩ mô

-Kinh tế học vĩ mô - một phân nghành của kinh tế học - nghiên cứu sự vận

động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn

bộ nền kinh tế quốc dân

Trong kinh tế học vĩ mô chúng ta tìm cách giải quyết hai vấn đề Thứ nhất,chúng ta tìm cách nắm bắt phương thức hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Thứhai, chúng ta tìm cách giải đáp câu hỏi là liệu chính phủ có thể làm điều gì để cảithiện thành tựu chung của toàn bộ nền kinh tế Tức là chúng ta quan tâm đến cảgiải thích và khuyến nghị về chính sách

Giải thích liên quan đến nỗ lực để hiểu hành vi của nền kinh tế trên bốnphương diện cơ bản: sản lượng và tăng trưởng kinh tế; việc làm và thất nghiệp; sựbiến động của mức giá chung; và thu nhập ròng nhận được từ thương mại và tàichính quốc tế Kinh tế học vĩ mô tìm cách giải thích điều gì quyết định đến các biến

số đó, tại sao chúng lại biến động theo thời gian và mối quan hệ giữa chúng

Trong kinh tế học vĩ mô chúng ta tìm hiểu phương thức hoạt động của toàn

bộ nền kinh tế Tuy nhiên chúng ta không thể xem xét mọi giao dịch cá nhân trêntất cả các thị trường trong nền kinh tế Trái lại chúng ta cần phải đơn giản hóa,trừu tượng hóa thế giới hiện thực Chúng ta sử dụng phương pháp trừu tượng hóa

để giảm bớt các chi tiết phức tạp của nền kinh tế, nhằm tập trung phân tích nhữngmối quan hệ kinh tế then chốt, qua đó dễ dàng phân tích, đánh giá và dự báo hành

vi của các biến số quan trọng Quyết định nghiên cứu các biến số tổng hợp, chứkhông phải nghiên cứu các biến số đơn lẻ cũng là một sự trừu tượng hóa Đặc biệttrong những năm gần đây và dự đoán trong nhiều năm tới, các mô hình kinh tếlượng vĩ mô sẽ chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong các lý thuyết kinh tế học vĩ

mô hiện tại

Một quốc gia, có thể có những lực chọn khác nhau tuỳ thuộc vào các ràngbuộc của họ về các nguồn lực kinh tế và hệ thống chính trị xã hội Song sự lựa

Trang 4

chọn đúng đắn nào cũng cần đến những hiểu biết sâu sắc về hoạt động mang tínhkhách quan của hệ thống kinh tế Kinh tế học vĩ mô sẽ cung cấp những kiến thức

và công cụ phân tích kinh tế đó Ngày nay, những kiến thức và công cụ phân tích

này càng được hoàn thiện thêm để có thể mô tả chính xác hơn đời sống kinh tế vôcùng phức tạp của chúng ta

Phương pháp nghiên cứu:

Mỗi quốc gia có thể những lựa chọn khác nhau tùy thuộc vào các ràng buộccủa họ về các nguồn lực kinh tế và hệ thống chính trị - xã hội Song, sự lựa chọnđúng đắn nào cũng cần đến những hiểu biết sâu sắc về hoạt động mang tính kháchquan của hệ thống kinh tế Kinh tế học vĩ mô sẽ cung cấp những kiến thức và công

cụ phân tích kinh tế đó Những kiến thức và công cụ phân tích này được đúc kết từnhiều công trình nghiên cứu và tư tưởng của nhiều nhà khoa học kinh tế thuộcnhiều thế hệ khác nhau Ngày nay, chúng càng được hoàn thiện thâm để có thể mô

tả chính xác hơn đời sống kinh tế vô cùng phức tạp của chúng ta

Trong khi phân tích các hiện tượng và mối quan hệ kinh tế quốc dân, kinh

tế học vĩ mô sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích cân bằng tổng hợp, tức làxem xét sự cân bằng đồng thời tất cả các thị trường hàng hóa và các nhân tố xemxét đồng thời khả năng cung cấp và sản lượng của toàn bộ của nền kinh tế, từ đóxác định đồng thời giá cả và sản lượng cân bằng Ngoài ra, kinh tế học vĩ mô cũng

sử dụng những phương pháp nghiên cứu phổ biến như: tư duy trừu tượng, phươngpháp phân tích thống kê số lớn, mô hình hóa kinh tế, Đặc biệt những năm gầnđây và tương lai, các mô hình kinh tế lượng, kinh tế vĩ mô sẽ chiếm vị trí đặc biệtquan trọng trong các lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại

1.2 Vị trí của môn học trong ch ươ ng trình học đ ại học:

Kinh tế học vĩ mô là một trong những chủ đề quan trọng nhất đối với sinhviên vì tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của sinh viên Mứcviệc làm và mức thất nghiệp chung sẽ quyết định khả năng tìm kiếm việc làm saucủa chúng ta sau khi tốt nghiệp, khả năng thay đổi công việc và khả năng thăngtiến trong tương lai Mức lạm phát sẽ ảnh hưởng đến lãi suất mà chúng ta có thểnhận được từ khoản tiết kiệm của chúng ta trong tương lai

Kinh tế vĩ mô sẽ giúp cung cấp cho chúng ta những nguyên lý cần thiết đểhiểu rõ tình hình kinh tế của đất nước, đánh giá các chính sách kinh tế mà Chínhphủ đang thực hiện và dự đoán các tác động của những chính sách đó tới đời sốngcủa chúng ta như thế nào?

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới,

đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, trong đó tất cảhàng hóa và dịch vụ được lưu chuyển qua biên giới các quốc gia.Lần đầu tiên mọi

người đều chơi theo một luật chơi chung “ Luật chơi của kinh tế thị trường toàn cầu “

Đây là một thách thức rất lớn Người thắng sẽ có lợi nhuận ,thu nhập cao, thành đạttrong cuộc sống và kẻ thua cuộc sẽ tụt lại đằng sau nhiều khi còn dẫn đến phá sản Vì

Trang 5

vậy , vị trí bộ môn kinh tế trong các trường đại học có một ý nghĩa vô cùng quantrọng Nó trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về kinh tế học về kinh tế vi

mô hay kinh tế vĩ mô Nó giúp cho sinh viên làm quen với các khái niệm kinh tế

2 Giới thiệu chung về nền kinh tế Việt Nam sau thời kì đổi mới đến nay.

2.1 T×nh h×nh kinh tÕ – x· héi ViÖt Nam. x· héi ViÖt Nam.

về chính trị và trì trệ về kinh tế, Việt Nam đang nhanh chóng hòa mình vào dòng chảychung của kinh tế và chính trị thế giới Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiệnchính sách Đổi Mới (cải cách kinh tế), hướng tới một nền kinh tế thị trường Trongmôi trường tự do đầu tư, những nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới đang thể hiện rõ

sự quan tâm chưa từng có đối với Việt Nam

Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Việt Nam đạt mức 8-9,5% trongsuốt hơn mười năm cho đến năm 1997 Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng kinh tế Châu Á, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giảm xuống còn 5,8% năm

1998, 4,7% năm 1999 nhưng sau đó phục hồi và đạt mức 6,7% năm 2000, 7% năm

2002, 7,7% năm 2004, 8% năm 2006 và 8,5% năm 2007 Tăng trưởng công nghiệpđạt trung bình từ 12 đến 14% trong suốt hơn một thập kỉ vừa qua Đại hội Đảng lầnthứ 10 diễn ra năm 2005 đúc kết những mục tiêu kinh tế then chốt cho kết hoạch pháttriển kinh tế xã hội năm năm 2006-2010 như sau:

Tốc độ tăng trưởng GDP: từ 7,5 đến 8% / năm trong đó:

- Nông, lâm, ngư nghiệp: 3% đến 3,2% / năm

- Công nghiệp và xây dựng: 9,5% đến 10,2% / năm

Trang 6

- Dịch vụ : 7,7% đến 8,2% / năm

Cơ cấu kinh t ế năm 2010:

- Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm : 15% đến 16% GDP

- Công nghiệp và xây dựng chiếm : 43% đến 44% GDP

- Dịch vụ chiếm : 40% đến 41% GDP

Các cơ quan chức năng Việt Nam một lần nữa thể hiện cam kết của mình về

tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế Chính phủ đã thực hiện cải cách cơ cấu tổ chức,điều cần thiết để hiện đại hóa nền kinh tế và sản xuất ra những mặt hàng công nghiệp

có sức cạnh tranh cao hơn cũng như hướng về xuất khẩu Việc Việt Nam gia nhập khuvực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và kí kết có hiệu lực Hiệp định thương mại songphương Việt Nam- Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 2001 đã tạo ra những sự thay đổi nhanhchóng hơn đối với thể chế kinh tế và thương mại của Việt Nam Nó đồng thời sẽ tạo

ra một cú hích quan trọng cho nền kinh tế và giúp đảm bảo tiến trình cải cách tiến tới

tự do hóa Bên cạnh đó, việc gia nhập các tổ chức trên cũng giúp Việt Nam Nó đồngthời sẽ tạo ra một cú hích quan trọng cho nền kinh tế và giúp đảm bảo tiến trình cảicách tiến tới tự do hóa Bên cạnh đó, việc gia nhập các tổ chức trên cũng giúp ViệtNam tận dụng được sự lệch pha của Hiệp định dệt may, giúp xóa bỏ hạn ngạch đốivới hàng dệt may và vải vóc đối với các thành viên của WTO từ 1 tháng 1 năm 2005

Tỉ lệ dân số sống dưới mức nghèo, được xác định bằng tỉ lệ dân số sống dưới mức 1USD / ngày, đã giảm đáng kể và thấp hơn các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ vàPhilippines Việt Nam đang cố gắng tạo việc làm để đáp ứng nhu cầu của lực lượnglao động mỗi năm tăng hơn 1 triệu người, đồng thời hướng đến tỉ lệ tăng trưởng kinh

tế hàng năm ở mức 7,5 đến 8% trong suốt 5 năm tới

Nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu là nền kinh tế bằng sông Hồng ở miền Bắc

và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam là hai khu vực nông nghiệp chủ yếu vớinhững nông sản chính bao gồm gạo, hồ tiêu, đay, cao su, đường mía, cà phê, chè, cây

họ lạc và thuốc lá Nhờ những cải cách lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, chẳng hạnviệc áp dụng hình thức khoán, cùng với sự tăng lên của đầu tư trực tiếp, các ưu đãi vềthuế và giá thu mua lương thực cao hơn từ Chính phủ, tổng sản lượng lương thực giatăng lên đáng kể từ 1988 trở đi

Một trong những tác động của sự phát triển quá nhanh của công nghiệp ở ViệtNam chính là việc đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang đất khu công nghiệp Điều này

Trang 7

phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: tỉ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ20,6% năm 2006 xuống còn 24,5% năm 2000 (Ngành công nghiệp và dịch vụ đónggóp tới hơn 90% tổng tăng trưởng GDP năm 2007) Sản lượng chè, cà phề và cao su tựnhiên đã giúp đẩy mạnh xuất khẩu trong ngành nông nghiệp Nhu cầu tăng cao từ cácthị trường nước ngoài cũng giúp củng cố thêm sức tăng trưởng của ngành ngư nghiệp.Hiện tại Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, đứng thứ 2sau Thái Lan về xuất khẩu gạo, thứ 2 sau Bra-xin về cà phê và sau Ấn Độ về hạt điều,đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu cao su và thứ 7 thế giới về xuất khẩu chè Chínhphủ đang tập trung mạnh vào các cây hoa màu với tiềm năng xuất khẩu cũng như tậptrung vào xây dựng ngành công nghiệp chế biến nông sản Với mục đích khuyếnkhích nông dân đầu tư lâu dài và tăng năng suất, Luật Đất đai mới đã được kì họpQuốc hội vào tháng 7 năm 1993 thông qua, trong đó công nhận những quyền củanông dân trong việc trao đổi, chuyển giao, cho thuê và thừa kế phần đất đã được phânphối Cơ cấu thuế cũng đã có thêm một số thay đổi liên quan đến chuyển giao quyền

sử dụng đất để đảm bảo sự cân bằng trong mức thu thuế của chính quyền trung ương

và địa phương Mặc dù vậy, đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước, phù hợp vớiHiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Các nhà đầu tư coi Việt Nam là điểm đến hấp dẫn thứ nhì trong khu vực sauTrung Quốc Trong 7 tháng đầu năm 2008, đã có hơn 45,49 tỉ USD vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào Việt Nam Về tổng vốncam kết, 654 dự án đầu tư mới đăng ký tổng vốn 43,7 tỉ USD và 188 dự án đang hoạtđộng quyết định tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 788 triệu USD Tổng kim ngạchbuôn bán trong 7 tháng đầu năm 2008 đạt 88,77 tỉ USD nhưng mức thâm hụt thươngmại trong cùng khoảng thời gian cũng lên tới 15 tỉ USD

Tuy vậy, nếu so với thành tích tăng tỉ lệ tăng trưởng cao trong những năm gầnđây thì tăng trưởng kinh tế đang chậm lại Theo nguồn của chính phủ Việt Nam, trongquý hai năm 2008, GDP thực tế tăng chỉ 5,6% so với cùng kì năm ngoái, mức tăngthấp nhất kể từ năm 2000 Đây cũng là kết quả của chính sách có tính toán từ trướcgiảm tăng trưởng của tín dụng nội địa nhằm kiềm chế lạm phát Trong bảy tháng đầunăm 2008, chỉ số CPI tăng 19,78% Nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngưnghiệp) tăng 3% trong nửa đầu năm 2008, tăng nhẹ so với con số 2,8% trong nửa đầunăm 2007 Toàn ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng 7% trong hai quý đầu, giảm

so với mức 9,9% đạt được nửa đầu năm

2007 Nguyên nhân chính của của sự suy giảm này chính là sự sụt giảm mạnhcủa ngành xây dựng Sản xuất, mặc dù vậy, vẫn tăng trưởng tốt, đạt mức tăng 11,4%trong nửa đầu ngoái Mặc dù mức tăng GDP khá khiêm tốn, sản lượng công nghiệpvẫn tiếp tục tăng vọt lên mức 16,5% trong nửa đầu năm 2008 Quan hệ kinh tế của Việt Nam đã được đa dạng hóa một cách rõ rệt và trao đổikinh tế của Việt Nam với các nước láng giềng trong ASEAN, với Hoa Kỳ, Liên minh

Trang 8

Châu Âu, Hàn Quốc, Australia và Singapore đã được mở rộng và tăng trưởng nhanhchóng Một số ngân hàng nước ngoài đã được cấp giấy phép mở chi nhánh tại ViệtNam và rất nhiều trong số đó đã bắt đầu hoạt động ở Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc chính là những nhà đầu tư lớnnhất vào Việt Nam.

Nhân tố then chốt giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển chính là thương mại.Trong giai đoạn 2001-2007, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng mỗi năm 17,5% Cả thànhphần và chất lượng của các mặt hàng xuất khẩu được nâng lên trông thấy Tỉ lệ sảnphẩm công nghiệp trong các sản phẩm xuất khẩu tăng lên đáng kể Tổng kim ngạchnhập khẩu tăng 18,8% mỗi năm Kim ngạch xuất khẩu đạt 520 USD một đầu người.Mặc dù vậy, do phải nhập khẩu số lượng lớn cây trồng, thiết bị và vật liệu cho quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cho các dự án đầu tư nước ngoài nên thâm hụtthương mại đã tăng lên trong suốt 3 năm vừa qua Quan hệ buôn bán với các nướcbạn, đặc biệt là các nước khác trong khu vực được mở rộng

Sự tăng trưởng của khu vực tư nhân chính là một trong những đặc điểm nổi bậtcủa sự phát triển kinh tế ở Việt nam trong suốt hơn một thập kỉ qua Khu vực tư nhân

và vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm hơn một nửa GDP năm 2007 Các ước tính sơ bộchỉ ra rằng doanh nghiệp tư nhân tạo ra gần 90% trong tổng số 7,5 triệu việc làm đượctạo ra trong suốt 5 năm từ 2001-2005 Một phần lớn trong số 1,6 triệu việc làm mới ởViệt Nam cần tạo ra mỗi năm từ 2006 đến 2010 được trông cậy vào khu vực tư nhân.Tuy vậy, việc thiếu lao động có tay nghề đã trở thành một vấn đề hiển hiện Các nhàchức trách của các khu công nghiệp và khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh chobiết các trường dạy nghề trong thành phố chỉ đáp ứng được khoảng 15% trong sốlượng 500.000 công nhân mà ngành công nghiệp của thành phố có khả năng sẽ cầnđến qua 2010

Về mặt chính sách, một chiến lược cải cách ngân hàng đã được Chính phủ

dự thảo từ tháng 5 năm 2006 Ngân hàng Nhà nước Việt nam sẽ được chuyển đổithành mô hình ngân hàng trung ương, được ủy thác cũng như có chức năng điều hànhchính sách tiền tệ và giám sát các định chế tài chính Đến năm 2010, các ngân hàngthương mại quốc doanh sẽ được tái cấu trúc, cổ phần hóa hoặc tư nhân hóa một phầnvới nỗ lực cải thiện năng lực hoạt động của các ngân hàng này Vào tháng 12 năm

2006, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt danh sách các công ty nhà nước sẽ cổphần hóa trong giai đoạn từ 2007 đến 2010, bao gồm cả những công ty lớn như ViệtNam Airlines, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), v.v Một số ngânhàng trong nước cũng đã chọn những ngân hàng lớn trên thế giới làm đối tác chiếnlược Hai ngân hàng nước ngoài là HSBC và Standard Chartered nhận giấy cấp phépvào tháng 9 năm 2008 để hoạt động tại Việt Nam như các doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài Đây là một bước tiến lớn, dỡ bỏ rào cản cho hai ngân hàng này

Trang 9

Thị trường chính khoán phát triển vượt xa sức mong đợi chỉ trong một vài nămgần đây Một bộ luật liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng quán đã đượcthông qua và bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1 năm 2007 Số công ty niêm yết tăng theocấp số nhân và tổng giá trị thị trường tăng gấp gần 20 lần so với thời điểm năm 2005.Mặc dù vậy, từ năm 2007, thị trường cổ phiếu bắt đầu gặp phải những khó khăn vàvẫn đang trong thời kì lao đao Chỉ số giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minhliên tục giảm điểm trong 9 tháng gần đây, từ mức khá cao gần 1100 điểm vào giữatháng 10 năm 2007 xuống còn dưới 500 điểm tại thời điểm hiện tại Giai đoạn bùng

nổ ban đầu của thị trường cỏ phiếu cũng thúc đẩy nhiều công ty nhà nước phát hành

cổ phần ra các nhà đầu tư hơn Chi nhánh của một vài công ty nhà nước lớn trong cáclĩnh vực như thủy điện cũng có đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thànhcông

Việt Nam đang có những bước chuyển mình để cải thiện khả năng quản lý cácdoanh nghiệp và điều chỉnh thị trường Số vốn tối đa mà bên nước ngoài có thể nắmgiữ tại các công ty niêm yết tăng từ 30% lên 49% Số lượng khách du lịch nước ngoàiđến Việt Nam đạt 4 triệu lượt năm 2007 Việt Nam đã kí các bản ghi nhớ hợp tác vàcác hiệp định với một số nước như Malaysia hay Ả rập Xê út về vấn đề xuất khẩu laođộng

Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần đầu tiên, hầu hết các chỉtiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 được hoàn thành và hoànthành vượt mức Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền

đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá 1986 – 1990: GDP tăng 4,4%/năm Đây là giai đoạn chuyển đổi cơbản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mớiđời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất

Từ năm 1991 – 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trình trệ, suythoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện GDP bình quânnăm tăng 8,2% Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnhCNH – HĐH đất nước

Từ năm 1996 - 2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩymạnh CNH, HĐH đất nước Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khuvực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước nhữngthử thách Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổngsản phẩm trong nước 7%/năm

Năm 2000 - 2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục,GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5% Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP

Trang 10

theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng,tương đương với 640 USD Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm

2005, nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao

su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu

Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là46,3%, năm 2005 còn 20,9% Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồng trọt vàchăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất

và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu Giá trị tạo ra trên một đơn

vị diện tích ngày một tăng lên Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuấtnông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm, giá trị tăng thêm bằng khoảng 3,89%/năm

Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục Năm 1988 là 21,6%,năm 2005 lên 41% Từ chỗ chưa khai thác dầu mỏ, đến nay, mỗi năm đã khai thácđược khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu Ngành công nghiệp chế tác chiếm 80% giátrị sản lượng công nghiệp Công nghiệp xây dựng phát triển mạnh với thiết bị côngnghệ ngày càng hiện đại

Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trong những thịtrường lớn Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xâydựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm

Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm

2005 Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhucầu của sản xuất và đời sống Ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc

độ nhanh Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước phát triểntheo hướng tiến bộ, hiệu quả

Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản được giữ ổn định, tạo môi trường vàđiều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế Tiềm lực tài chính ngày càng được tăngcường, thu ngân sách tăng trên 18%/năm; chi cho đầu tư phát triển bình quân chiếmkhoảng 30% tổng chi ngân sách

Xuất khẩu, nhập khẩu tăng rất nhanh cả về quy mô và tốc độ Tổng kim ngạchxuất khẩu hàng hoá trước thời kỳ đổi mới chỉ đạt khoảng 1 tỷ USD/năm, đến nay tổngkim ngạch xuất khẩu đã vượt hơn 50% GDP, tức là trên 25 tỷ USD/năm

Trang 11

Một số sản phẩm của Việt Nam đã có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới vớinhững thương hiệu có uy tín Đáng chú ý là xuất khẩu dịch vụ tăng rất nhanh, tăng15,7%/năm, bằng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu Thị trường xuất khẩu được mởrộng sang những nền kinh tế lớn.

Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ năm 2000 đến 2005 tăng khoảng19%/năm, nhập siêu khoảng 4 tỷ USD/năm, bằng 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu.Nhập siêu tuy còn cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát và có xu hướng giảm dần

Cơ cấu xuất nhập khẩu chuyển biến theo hướng tích cực Tỷ trọng hàng côngnghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 37,2% năm 2000 xuống còn 36% năm 2005, hàngnông, lâm thuỷ sản giảm từ 29% xuống 24%; hàng công nghiệp nh‹ và tiểu thủ côngnghiệp tăng từ 38,8% lên 39,8%

Qua 25 năm, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đạt được những thành tựunhư ngày hôm nay là nhờ có Đảng lãnh đạo và do Đảng đã luôn luôn chủ động, sángtạo trong đổi mới tư duy về kinh tế Đường lối và chính sách đổi mới từ Đại hội VI(1986) của Đảng đã đặt cơ sở, nền tảng ban đầu cho giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽcủa nền kinh tế nước ta Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, trong đó

có đổi mới tư duy về kinh tế, đột phá khẩu cho đổi mới các lĩnh vực tiếp theo Tuynhiên, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước đòi hỏi phải xây dựng nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, do vậychúng ta cần phải tiếp tục đổi mới mạnh hơn nữa tư duy kinh tế cho phù hợp với điều

kiện của đất nước, xu hướng phát triển của thế giới và của thời đại Bước ngoặt trong

đổi mới tư duy kinh tế của Đảng là chúng ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Thành tựu nổi bật nhất trong bước khởi đầu đổi mới tư duy kinh tế là phát triển nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý củaNhà nước Quan điểm về mô hình nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đã thay đổi cănbản và đến nay đã được xác lập, đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa không chỉ có hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể mà tồn tại nhiềuthành phần kinh tế khác nhau Qua quá trình phát triển nhận thức, cũng như tư duy lýluận về các thành phần kinh tế ngày một hoàn chỉnh

PGS, TS LÊ QUỐC LÝ, Phó giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh

b Huy động vốn đầu tư đạt kết quả cao, tạo nguồn lực tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội

Trang 12

Đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế vàgiải quyết nhiều vấn đề xã hội Vì hoạt động này trực tiếp làm tăng tài sản cố định,tăng tài sản lưu động, tài sản trí tuệ và số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực ;đồng thời góp phần quan trọng trong việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốcgia nhằm nâng cao mức sống dân cư và mặt bằng dân trí; bảo vệ môi trường sinh thái

và đưa các chương trình phát triển kinh tế-xã hội khác vào cuộc sống

Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển như vậy nên trongnhững năm vùa qua có nhiều chính sách và giải pháp khơi dậy nguồn nội lực và tranhthủ các nguồn lực từ bên ngoài để huy động vốn đầu tư cho phát triển Riêng năm

2006, Việt Nam đã thu hút được 4,1 tỷ USD FDI, trong đó 2,3 tỷ USD là dự án mớicòn 1,8 tỷ là vốn bổ sung Doanh nghiệp FDI đóng góp gần 15% GDP, chiếm trên30% tổng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp 4,9% tổng thu ngân sách nhà nước Cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo việc làm cho 34 vạn lao động trực tiếp vàhơn 1 triệu lao động gián tiếp Nguồn vốn ODA đã giải ngân 7,2 tỷ USD, là một trongnhững nguồn vốn của nền kinh tế, bảo đảm tăng trưởng sản xuất ổn định của cácngành sản xuất và dịch vụ

Tại Việt Nam, lần đầu tiên hình thành và dần phát triển các loại thịtrường chứng khoán, thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường bấtđộng sản…

Ngành giao thông vận tải đã làm mới,nâng cấp và cải tạo được 4575kmquốc lộ và trên 65 nghìn km đường giao thông nông thôn; năng lực thông quacác cảng biển tăng 23,4 triệu tấn; năng lực thông qua các cảng sông tăng 17,2triệu tấn và năng lực thông qua của các sân bay tăng 8 triệu lượt khách Ngànhbưu điện tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng và đổi mới công nghệ nên mạng vienxthồn phát triển nhanh Đến cuối năm 2005 cả nước có trên 15,8 triệu thuê baođiện thoại, trong đó 8,7 triệu thuê bao di động và 7,1 triệu thuê bao cố định, nâng

số máy cố định bình quân 100 dân từ 4,2 máy năm 2000 lên 19,1 máy năm2005.Một phần vốn đầu tư đã dành cho chương trình phát triển kinh tế- xã hội vàxây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ tại các xã đặc biệt khó khăn Tính chung từ năm

1999 đến hết năm 2005 chương trình đã được đầu tư trên 8850 tỷ đồng Nhờ vậy,đến hết năm 2004 đã có 97% số xã đặc biệt khó khăn có đường ô tô đến trungtâm xã;100% số xã có trạm y tế; 70% số xã có điể bưu điện văn hóa; 90% số xã

có trạm truyền thanh; 65% số xã có cong trình nước sạch và 50% số hộ được sửdụng nước sạch

c.Đời sống dân cư tiếp tục được cải thiện ; sự nghiệp văn hóa giá dục, chăm sóc sức khỏe dân cư và một số lĩnh vực khác có những tiến bộ đáng kể

Kết quả các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình do “Tổng cục thống kê” tiến hànhnhững năm vừa qua cho thấy thu nhập bình quân một người một tháng theo giá thực tế

đã tăng từ 356,1 nghìn đống/người/tháng năm 2001-2002 và 636 nghìnđồng/người/tháng năm 2005-2006 Tính ra thu nhập bình quân một người một tháng theogiá thực tế năm 2005-2006 tăng 64,2% so với năm 2001.Thu nhập tăng đã tạo điều kiệntăng tiêu dùng cho đời sống và tăng tích lũy Chi tiêu cho đời sống bình quân một ngườimột tháng đã tăng từ 269 nghìn đồng năm 2001-2002 và 460 ngìn đồng năm 2005-2006

Trang 13

Sự nghiệp giáo dục có những mặt tiến bộ Đến cuối năm 2005 đã cơ bảnhoàn thành chương trình kiên cố hóa trường học, lớp học.Đến nay 64 tỉnh thànhphố trực thuộc trung ương đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, trong đó 24địa phương đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và 26 địa phương đạt tiêuchuẩn phổ cập trung học cơ sở Đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp chuyênnghiệp, nhất là dạy nghề được củng cố và có bước phát triển nhất định Năm học2004-2005 cả nước có 230 trường đại học và cao đẳng; 285 trường trung họcchuyên nghiệp; 236 trường dạy nghề và 1,5 nghìn cơ sở dạy nghề So với năm

2000, số trường dạy nghề tăng 70% với quy mô đào tạo tăng 40% Trong báo cáogiám sát Giáo dục Toàn cầu năm 2005 , UNESCO đánh giá về tiến độ thực hiệnmục tiêu “giáo dục cho tất cả đến năm 2015” do Lên Hợp Quốc đề ra, chỉ số giáodục cho tất cả của nước ta xếp vị trí 64/127, đứng trên một số nước trong khu vựcnhư In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Ấn-độ…

Công tác y tế và chăm lo sức khỏe cộng đồng không ngừng mở rộng mạnglưới phục vụ Đến hết năm 2004 cả nước có 97,6% số xã, phường, thị trấn có trạm y

tế Số bác sĩ tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập năm 2004 tăng 27,8% so vớinăm 2000, bình quân 1 vạn dân có 6,1 bác sĩ, tăng 1,1 bác sĩ so với bình quân năm

2000 Đáng chú ý là năm 2003 nước ta đã khống chế được dịch viêm đường hô hấpcấp (SARS ), được Tổ chức Y tế thế giới công nhận là quốc gia đầu tiên khống chếthành công dịch bệnh này.Những năm 2004-2005 cũng đã khống chế được sự lâylan của dịch cúm gia cầm H5N1.Hoạt động của ngành y tế những năm vừa qua đưatuổi thọ bình quân của dân số nước ta tăng: Trong vòng 4 thập kỷ qua, Việt Namđứng thứ 8 trên thế giới trong danh sách các quốc gia có nhiều tiến bộ về thu nhậpbình quân đầu người (tăng gấp 5 lần) Tuổi thọ trung bình ở Việt Nam tăng đáng

kể, từ 49 tuổi vào năm 1970 lên mức 75 tuổi vào năm nay, cao hơn Thái Lan(69,3), Philippines (72,3) và tuổi thọ bình quân ở khu vực Đông Á - Thái BìnhDương (72,8)

Về bình đẳng giới, Việt Nam xếp thứ 58/138 quốc gia có đủ số liệu, đượcđánh giá là thực hiện tốt khi xét tới tỷ lệ sinh sản tuổi vị thành niên, tỷ lệ nữ trongQuốc hội và tỷ lệ nữ tham gia lao động

Theo Báo cáo phát triển con người 2010 của Chương trình phát triển Liênhợp quốc (UNDP), Việt Nam đứng thứ 113/169 trong bảng xếp hạng về chỉ sốphát triển con người (HDI), cao hơn năm 2009 một bậc

Chính sách đối ngoại của Việt Nam “ sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy củatất cả các nước” đã đem lại những kết quả rất tích cực Đến nay, Việt Nam có quan

hệ ngoại giao với 168 nước trên thế giới và quan hệ thương mại với 165 nước vàvùng lành thổ Hiện nay, là thành viên tích cực của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế

và khu vực như Liên hợp quốc, ASEAN , APEC, ASEM…Việt Nam cũng mới gianhập WTO năm 2007, tạo nhiều thời cơ và thách thức cho các doanh nghiệp trong

và ngoài nước

2.1.2 Hạn chế và bất cập

a Nền kinh tế vẫn trong tình trạng kém phát triển, sức cạnh tranh thấp và chứa nhiều mặt mất cân đối.

Trang 14

Những năm vừa qua nền kinh tế nước ta tăng trưởng bình quân mỗi năm7,51% là một thành công, nhưng do xuất phát điểm thấp nên quy mô của nền kinh

tế còn nhỏ bé, giá trị tăng thêm của 1% tăng lên không cao và do vậy đén naynước ta vẫn chưa thoát khỏi danh sách những nước đang phát triển có thu nhậpthấp

Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tính bằng đô la Mỹ theo tỷgiá hối đoái năm 2006 của nước ta chỉ bằng 53,05% của Phi-lip-pin; 44,21% củaIn-đô-nê-xi-a; 35,86% của Trung Quốc ;22,23% của Thái Lan và bằng 12,53% củaMa-lai-xi-a Nếu tính theo sức mua tương đương thì cũng có tình trạng thấp thuatương tự Chính do tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người thấp nên mặc

dù chỉ số tuổi thọ trung bình và chỉ số giáo dục tương đối cao nhưng chỉ số HDIvẫn rất thấp ( Trong báo cáo Phát triển con người năm 2005 của UNDP về cácthành tố cấu thành chỉ số HDI thì chỉ số tuổi thọ trung bình của nước ta đạt 0,76;chỉ số giáo dục đạt 0,82, nhưng chỉ số tổng sản phẩm trong nước chỉ đạt 0,54%nên chỉ số HDI bị kéo xuống mưc 0,704)

Do tiềm lực còn hạn hẹp nên sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta thấp thuanhiều so với các nước trong khu vực và trên Thế giới.Theo báo cáo Cạnh tranh Toàncầu của Diễn đàn Kinh tế Thế Giới (WEF) công bố những năm gần đây thì chỉ sốcạnh tranh tăng trưởng (GCI) của nền inh tế nước ta từ vị trí thứ 60/101 năm 2003 đãlùi xuống vị trí 79/104 năm 2004 và 81/117 năm 2005; chỉ số cạnh tranh doanhnghiệp (BCI) cũng thụt từ vị trí 50/102 năm 2003 xuống 79/104 năm 2004 và 80/116năm 2005, nhưng đến năm 2010 chỉ số cạnh trạnh tăng trưởng là 59/131 so với nềnkinh tế thế giới, vượt 13 bậc so với năm ngoái( 75/ 133 quốc gia)

b.Đời sống của một bộ phận dân cư còn khó khăn; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục

Trong những năm vừa qua, tỷ lệ hộ nghèo của nước ta đã giảm đáng kể,nhưng đến nay vẫn còn tương đối cao Một bộ phận dân cư, nhất là dân cư sinhsống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc ít người đời sống vẫn rất khókhăn

Một thực tế đáng quan tâm khác là tuuy thu nhập trong những năm vừa quacủa tất cả các nhóm dân cư đều tăng với tốc độ khá, nhưng xét về lượng tăng tuyệtđối thì lại có sự chênh lệch đáng kể Thu nhập bình quân một người một tháng củanhóm thu nhập cao nhất năm 2003-2004 tăng 309,4 nghìn đồng, nhưng của nhómngành thấp nhất chỉ tăng 34,1 nghìn đồng, bằng 11% mức tăng của nhóm thu nhậpcao nhất Với mức tăng 34,1 nghìn đồng/người/tháng, trong bối cảnh chỉ số giátiêu dùng tăng tương đối cao trong những năm vừa qua thì thu nhập thực tế củanhóm thu nhập thấp được cải thiện không nhiều

Một vấn đề bức xúc khác chậm được giải quyết đang gây áp lực lớn đối vớiviệc giải quyết nhiều vấn đề về kinh tế xã hội có liên quan, đó là tình trạng thấtnghiệp và thiếu việc làm Theo kết quả điều tra lao động và việc làm, những nămvừa qua tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị có giảmnhưng rất chậm và đến nay vẫn còn ở mức 5-6%

Trang 15

3 Giới thiệu về FDI, nêu rõ vai trò và tầm quan trọng của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam

3.1 Khái quát về đầu tư, đầu tư nước ngoài(FDI) :

3.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư:

Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụsản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhucầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội

Nguồn vốn đầu tư này có thể là những tài sản hữu hình như đất đai, nhàcửa, nhà máy, thiết bị, hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng chế, phátminh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thươngmại Các doanh nghiệp còn có thể đầu tư bằng cổ phần, trái phiếu, các quyền về

sở hữu tài sản khác như quyền thế chấp, cầm cố hoặc các quyền có giá trị về mặtkinh tế như các quyền thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên

Đối với nền kinh tế nói chung, toàn bộ việc đầu tư được tiến hành ở mộtthời kỳ nhất định là nhân tố cơ bản duy trì và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật củanền kinh tế tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, đápứng nhu cầu của nền kinh tế trong thời kỳ tiếp theo Xét về lâu dài, khối lượng đầu

tư của ngày hôm nay sẽ quyết định dung lượng sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh

tế, mức độ cải thiện đời sống trong tương lai

3.1.2 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư nước ngoài(FDI):

Đầu tư nước ngoài là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài

để tiến hành sản xuất kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mụctiêu kinh tế xã hội nhất định

Thuật ngữ FDI là viết tắt của từ “Foreign Direct Investment”

Đầu tư nước ngoài mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung Tuynhiên, nó có thêm một số đặc điểm quan trọng khác so với đầu tư nội địa:

- Chủ đầu tư là người nước ngoài Đặc điểm này có liên quan đến các khía cạnh

về quốc tịch, luật pháp, ngôn ngữ, phong tục tập quán, Nói chung, đây là các yếu

tố làm tăng thêm tính rủi ro và chi phí đầu tư của các chủ đầu tư ở nước ngoài

- Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới Đặc điểm này có liên quan chủyếu đến các khía cạnh về chính sách, pháp luật, hải quan và cước phí vận chuyển

Về bản chất, đầu tư nước ngoài là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hìnhthức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ xung

và hỗ trợ nhau trong chiến lược thâm nhập chiếm lĩnh thị trường của các công ty,tập đoàn nước ngoài hiện nay Nhiều trường hợp, việc buôn bán hàng hoá ở nước

sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư Đến lượtmình, việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư ở nước sở tại lại là điều kiện để xuấtkhẩu máy móc, vật tư nguyên liệu và khai thác tài nguyên của nước chủ nhà

Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư nước ngoàingày càng phát triển mạnh mẽ hợp thành những dòng chính trong trào lưu có tính

Trang 16

quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu Sự phát triển của đầu tư quốc tế gắn liềnvới quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các quốc gia và sự phát triển của xuhướng khu vực hoá, toàn cầu hoá Nhu cầu về vốn của các nước đang phát triển và

sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn làm cho đầu tưnước ngoài diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và rộng khắp

3.2 Phân loại đầu tư nước ngoài:

3.2.1 Đầu tư tư nhân:

Đầu tư tư nhân bao gồm ba loại: Đầu tư trực tiếp, đầu tư chứng khoán, tíndụng thương mại Ở đây, ta sẽ tìm hiểu kĩ về đầu tư trực tiếp

Đầu tư trực tiếp: là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp

vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng nhưphương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra Hoạt động đầu tư này có thểđược thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổ phần, công tytrách hiệm hữu hạn

Đây là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tưtoàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hànhhoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụthương mại

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm sau :

Đây là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết địnhđầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hìnhthức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc vềchính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế Chủ đầu tư nước ngoàiđiều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỉ lệ góp vốn củamình Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư chỉ được thành lập doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được thamgia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%;51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ Trong khi đó, Luật Đầu tư nướcngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức 100% vốn nướcngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự

án

Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được côngnghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý Đây là những mục tiêu màcác hình thức đầu tư khác không giải quyết được Nguồn vốn đầu tư này khôngchỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp địnhtrong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triểnkhai hoặc mở rộng dự án cũng như

vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được

Trang 17

Hỗ trợ phát triển chính thức có các đặc điểm sau :

- Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếpđiều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗtrợ chuyên gia Tuy nước chủ nhà có quyền quản lí sử dụng vốn ODA, nhưngthông thường danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ Hỗtrợ phát triển chính thức chủ yếu dành cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng nhưgiao thông vận tải, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội

- Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mớiđược nhận tài trợ Điều kiện này tuỳ thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ.Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi Tuyvậy nếu quản lí, sử dụng vốn ODA kém hiệu quả vẫn có thể để lại gánh nặng nợnần cho tương lai

3.3 Tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế:

3.3.1 Vị trí:

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có một vị trí vô cùng quan trọng Nó thúc đẩynền kinh tế phát triển nhanh và toàn diện hơn

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng khả năng về vốn, kinh nghiệm quản

lý cho nước nhận đầu tư

- Là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để đưa nước nhận đầu rútngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới

Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài là một yếu tố cần thiết vàquan trọng để có thể đưa nền kinh tế bắt kịp với thế giới

3.3.2 Ý nghĩa:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có rất nhiều ý nghĩa quan trọng đối với nềnkinh tế của một nước

- Tạo thu nhập cho nước nhận đầu tư

- Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp và tạo ra công ănviệc làm cho người lao động

3.3.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là yêu cầu tất yếu của quá trình toàn cầuhóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ Với những đặc điểm của mình, FDI đóngvai trò quan trọng trong nền kinh tế đối với cả nước nhập khẩu đầu tư và nướcxuất khẩu đầu tư, thúc đẩy các nước này gia tăng liên kết, nhằm duy trì nhịp độ

Trang 18

tăng trưởng kinh tế của nước mình FDI có vai trò quan trọng trong quá trình pháttriển của bất cứ một quốc gia nào trên thế giới FDI đã đem lại một hơi thở mớicho nền kinh tế thế giới, mở cửa cho sự toàn cầu hóa lan rộng khắp thế giới

-FDI giải quyết tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội do tích lũynội bộ thấp, cản trở đầu tư và đổi mới kỹ thuật trong điều kiện khoa học, kỹ thuậtthế giới phát triển mạnh

-Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua FDI các công ty nước ngoài đãchuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang cho nước tiếp nhận đầu

tư, do đó các nước tiếp nhận đầu tư có thể nhận được những công nghệ, kỹ thuậttiên tiến, hiện đại, những kinh nghiệm quản lý, năng lực marketing, đội ngũ laođộng được đào tạo, rèn luyện về mọi mặt ( trình độ kỹ thuật, phương pháp làmviệc, kỷ luật lao động )

-Đầu tư FDI làm cho các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, thúc đẩytính năng động và khả năng cạnh tranh trong nước, tạo điều kiện khai thác có hiệuquả các tiềm năng của đất nước Điều đó có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng tích cực

-Với việc tiếp nhận FDI, không đẩy các nước vào cảnh nợ nần, không chịunhững ràng buộc về chính trị, xã hội FDI góp phần tăng thu cho ngân sách nhànước thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài Thông qua hợp tác vớinước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư cso điều kiện thâm nhập vào thị trường thế giới.Như vậy, các nước có khả năng tốt hơn trong việc huy động tài chính cho các dự

án phát triển

Tuy nhiện, bên cạnh những ưu điểm, FDI cũng có những hạn chế nhất định

Đó là nếu đầu tư vào nơi có môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị, thì nhà đầu

tư nước ngoài dễ bị mất vốn Còn đối với nước sở tại, nếu không có quy hoạch chođầu tư cụ thể và khoa học thì sẽ dễ dẫn đến đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, thamnhũng, tài nguyên thiên nhiên bị khi thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng

Chương 2: Đánh giá vai trò của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam giai đoạn

đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp địnhthúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về

Trang 19

đối xử tối huệ quốc Đỉnh cao về hợp tác kinh tế song phương là việc ký hiệp địnhđối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản ,còn về hợp tác kinh tế đa phương là việc kýhiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tiêu chuẩn “WTO Plus”,nghĩa là chấp nhận các đòi hỏi về tự do hóa thương mại (hàng hóa và dịch vụ), đầu

tư, mua sắm của chính phủ cao hơn so với mức độ quy định trong các văn kiện cóhiệu lực đang áp dụng của WTO

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục xu thế gia tăng và sự hiện diệnmạnh mẽ của các khoản đầu tư tài chính gián tiếp là điểm khác biệt nổi trội giữacác giai đoạn 2007-2008 và 1997-1998, 1991-1992 Trong những năm đầu củathập kỷ 1990, qui mô FDI vào Việt Nam ở quanh mức 2 tỉ USD/năm, thấp hơnlượng vốn đăng ký FDI của những năm 1999-2003, sau khủng hoảng tài chínhchâu Á Khủng hoảng khu vực năm 1997 ngay lập tức tấn công vào hệ thống tíndụng-ngân hàng và tạo thành làn sóng rút vốn đầu tư ra khỏi châu Á Những nhàđầu tư lớn vào Việt Nam đến từ các quốc gia láng giềng trong khu vực cũng tứcthì lâm vào trạng thái thiếu tiền mặt Một vài nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận ngắnhạn xuất hiện và đã vận hành khá tốt tại Việt Nam Tuy nhiên, những rào cản hạnchế khả năng chuyển đổi từ tiền đồng sang ngoại tệ và cơ chế hành chính cồngkềnh tại Việt Nam đã tạo lợi thế cạnh tranh cho các nền kinh tế Thái Lan và HànQuốc Số lượng dự án đăng ký mới giảm sút từ 349 năm 1997 xuống còn 285 và

327 trong các năm 1998 và 1999 Nhưng quy mô vốn đầu tư mới thực sự là yếu tốsuy giảm mạnh Năm 1997 có 5,6 tỉ USD FDI đăng ký vào Việt Nam Con số nàychỉ còn 5 tỉ USD trong năm 1998 Và trong hai năm tiếp theo, lượng vốn đăng kýchỉ còn khoảng 50% của năm 1997 Số vốn thực hiện trong ba năm liên tiếp từ

1998 - 2000 dừng ở mức trên 2,3 tỉ USD mỗi năm

Trong thời gian tới Việt Nam vẫn có thể là điểm đầu tư thu hút sự quan tâm củacộng đồng tài chính quốc tế, với một số căn cứ quan trọng sau đây: Dòng vốn FDItiếp tục tăng, không có hiện tượng dòng chảy FPI xáo trộn lớn; Chính sách thắtchặt tiền tệ tiếp tục được đồng thuận, duy trì và bắt đầu có hiệu quả; Các phươngpháp điều khiển tín hiệu rõ hơn với nền kinh tế, điều mà Việt Nam không làmđược trong suốt thời kỳ biến động của nửa đầu năm 2008; Việc tăng cường kiểmsoát hệ thống siêu quyền lực ngân hàng là bước đi hợp lý; Quá trình điều hành cơchế tỷ giá hỗn hợp đang hình thành và hiệu chỉnh dần độ lệch trong ngắn hạn,phần lớn gây ra bởi tâm lý đầu cơ và bất an Sự nới lỏng kiểm soát sẽ giúp hệthống dự trữ quốc gia bền vững hơn

Việt Nam đã công nhận một cách chính thức và rộng rãi rằng FDI đang ngàycàng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam trên nhiều phươngdiện: vốn, công nghệ, nâng cao khả năng thanh toán quốc tế, phát triển xuất khẩu,tham gia vào các thị trường quốc tế, …

Tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt nam tính đến hết tháng 05/2011

Trang 20

Theo các báo cáo nhận được, tính đến ngày 20 tháng 5 năm 2011 cả nước có 313

dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 3,52 tỷ USD, bằng 42,7% sovới cùng kỳ năm 2010 Đến 20 tháng 5 năm 2011, có 101 lượt dự án đăng ký tăngvốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 1,161 tỷ USD, tăng 49,5% so vớicùng kỳ năm 2010 Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 5 tháng đầu năm

2011, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 4,688 tỷ USD,bằng 51,9% so với cùng kỳ 2010

Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí) trong 5 tháng đầu năm 2011

dự kiến đạt 19,017 tỷ USD, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm 2010 và chiếm54,73% kim ngạch xuất khẩu Nếu không tính dầu thô, khu vực ĐTNN dự kiếnxuất khẩu 16,028 tỷ USD, chiếm 46,12% tổng xuất khẩu và tăng 33,7% so vớicùng kỳ 2010 Nhập khẩu của khu vực ĐTNN tính đến tháng 5 năm 2011 đạt17,64 tỷ USD, tăng 32,5% so với cùng kỳ năm 2010 và chiếm 42,67% kim ngạchnhập khẩu Tính chung 5 tháng, khu vực ĐTNN xuất siêu 1,376 tỷ USD, trong khi

cả nước nhập siêu 6,589 tỷ USD; nếu không tính xuất khẩu dầu thô, khu vựcĐTNN nhập siêu 1,613 tỷ USD

1.2

Tình hình cấp GCNĐT:

Theo các báo cáo nhận được, tính đến ngày 20 tháng 5 năm 2011 cả nước

có 313 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 3,52 tỷ USD,bằng 42,7% so với cùng kỳ năm 2010

Đến 20 tháng 5 năm 2011, có 101 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư vớitổng vốn đăng ký tăng thêm là1,161 tỷ USD, tăng 49,5% so với cùng kỳ năm2010

Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 5 tháng đầu năm 2011, các nhàđầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 4,688 tỷ USD, bằng 51,9% sovới cùng kỳ 2010

1.2.1 Theo lĩnh vực đầu tư:

Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ nhất với 151 dự án đầu tưđăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 2,737 tỷ USD,chiếm 58,4%tổng vốn đầu tư đăng ký từ đầu năm đến nay Trong khi đó, đứng thứ 2 là lĩnh vựcXây dựng với 36 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là352,66 triệu USD, chiếm 7,5% Tiếp theo là lĩnh vực Dịch vụ lưu trú và ăn uốngvới tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 350,98 triệu USD

1.2.2 Theo đối tác đầu tư::

Tính từ đầu năm 2011 đến nay, đã có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự ánđầu tư tại Việt Nam Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và

Trang 21

tăng thêm là 1,132 tỷ USD, chiếm 24,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; HồngKông đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là627,03 triệu USD, chiếm 13,4% tổng vốn đầu tư;Trong tháng 5/2011, Hàn Quốc

đã vươn lên đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là522,89 triệu USD, chiếm 11,2% tổng vốn đầu tư; Tiếp theo là Malaysia đứng ở vịtrí thứ 4 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 416,08 triệu USD, chiếm8,9% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam Nhật Bản đứng thứ 5 với tổng vốn đăng kýcấp mới và tăng thêm là 375,73 triệu USD, chiếm 8% tổng vốn đầu tư vàoViệt Nam

1.2.3Theo địa bàn đầu tư:

Tính đến thời điểm hiện tại, TP Hồ Chí Minh là địa phương thu hút nhiềuvốn ĐTNN nhất với 1,274 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm Trong thángnày, Hà Nội đã vươn lên đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là446,86 triệu USD Đà Nẵng đứng thứ 3 với 423,57 triệu USD vốn đăng ký cấpmới và tăng thêm Tiếp theo là Đồng Nai, Ninh Thuận, Bắc Giang với quy mô vốnđăng ký lần lượt là 296,29 triệu USD, 266 triệu USD và 254,5 triệu USD

Một số dự án lớn được cấp phép trong 5 tháng đầu năm 2011 là: dự ánCông ty TNHH sản xuất First Solar Việt nam, thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biếnchế tạo do Singapore đầu tư tại TP Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷUSD; dự án Công ty TNHH Gamuda Land Việt Nam do Malaysia đầu tư, tổngvốn đầu tư 322,2 triệu USD với mục tiêu thiết kế, xây dựng và lắp đặt các hạngmục công trình xử lý nước thải tại Hà Nội; dự án Công ty TNHH một thành viênEnfinity Ninh thuận với tổng vốn đầu tư 266 triệu USD do Hồng Kông đầu tư vớimục tiêu sản xuất điện tại Ninh Thuận; dự án Công ty TNHH Wintek Việt Nam,tổng vốn đầu tư 250 triệu USD do Samoa đầu tư tại Bắc Giang với mục tiêu sảnxuất và gia công tấm cảm ứng, thiết bị thể hiện tinh thể lỏng LCD modum; dự ánCông ty Bến du thuyền Đà Nẵng của nhà đầu tư BritishVirginIslands với tổng vốnđầu tư 174 triệu USD,dự án Công ty TNHH Whitestone Investmnet Hội An doSíp đầu tư tại Quảng Nam với tổng vốn đầu tư là 137 triệu USD, đầu tư vào lĩnhvực dịch vụ du lịch

Lợi ích của FDI đối với nền kinh tế nước ta.

- FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế ViệtNam: doanh nghiệp FDI đóng góp 13,3% GDP, 35% sản lượng công nghiệp, 23%xuất khẩu, 25% tổng số thu ngân sách nhà nước năm 2001, nhưng chỉ có 0,3% laođộng tổng thể Gián tiếp FDI đã cung cấp một số việc làm nhiều hơn thông quacác nhà thầu phụ hoặc các nhà cung cấp Một mặt nó là dành cho Việt Nam là mộthiệu suất ấn tượng xem xét cổ phần của cam kết FDI mỗi 1000 đô la Mỹ GDP tạiViệt Nam (1999) là US $ 56 cao hơn so với Thái Lan (49 USD), Malaysia (47

Ngày đăng: 19/05/2014, 13:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w