CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP HỒ CHÍ MINH KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN o0o BÀI TẬP GIỮA KỲ TÀI CHÍNH CÔNG ĐỀ TÀI NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ LIÊN HỆ HY LẠP VỠ NỢ NHÓM 2 Thành phố Hồ Chí Mi.
Trang 1CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ
MINH KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2023
Trang 3BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ
MINH KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN
Trang 4Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2023
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
Chương 1: Cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm về vấn đề nợ công 4
1.1.Khái niệm nợ công 4
1.2.Các đặc điểm cơ bản của nợ công 6
1.2.1 Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước 6
1.2.2 Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 6
1.2.3 Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích chung 6
1.3.Vai trò của nợ công 7
1.4.Các nhân tố ảnh hưởng tới nợ công 8
1.4.1 Thâm hụt ngân sách cơ bản 8
1.4.2 Lãi suất thực tế 8
1.4.3 Tăng trưởng GDP thực tế 8
1.4.4 Tỷ giá 8
1.4.5 Các yếu tố kinh tế vĩ mô khác 9
1.5.Bài học kinh nghiệm của Hy Lạp, Châu Âu và thế giới 9
1.5.1.Với Hy Lạp 9
1.5.2 Với Châu Âu 12
Chương 2 : Thực trạng nợ công ở Việt Nam 15
2.1 Tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam: 15
2.2 Phân tích thực trạng nợ công ở VN: 16
2.2.1 Quy mô nợ công: 16
2.2.2 Cơ cấu nợ công: 17
2.3 Đánh giá chung: 20
2.3.1 Thành tựu: 20
2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 22
Chương 3: Các giải pháp quản lý nợ công ở Việt Nam 25
3.1 Mục tiêu phương hướng phát triển và định hướng nợ công ở Việt Nam 25
3.1.1 Mục tiêu phương hướng phát triển 25
3.1.2.Định hướng nợ công ở Việt Nam 26
3.2.Giải pháp nợ công Việt Nam 28
KẾT LUẬN 29
Trang 6MỘT SỐ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
MỤC LỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ qua các năm Đơn vị: % 10
Hình 2.Tỷ lệ lạm phát của Hy Lạp so với Đức và khối Eurozone 11
Hình 3:GDP thực tế và nợ của Chính phủ Hy Lạp giai đoạn 1995 – 2015 12
Hình 4:Biểu đồ Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2020 15
Hình 5: Biểu đồ Tốc độ tăng trưởng của nợ công/ GDP giai đoạn 2011-2018 15
Hình 6:Biểu đồ Nợ công từ năm 2014-2017 16
Hình 7: Bảng Tình hình thực hiện các chỉ tiêu nợ giai đoạn 2016-2020 17
Hình 8: Bảng biểu cơ cấu nợ công tại Việt Nam 18
Hình 9: Bảng biểu Vay và trả nợ của chính phủ giai đoạn 2014-2018 19
Hình 10: Biều đồ Dư nợ chính phủ giai đoạn 2014-2018 19
Hình 11: Bảng biểu Vay và trả nợ được chính phủ bảo lãnh 20
Hình 12:Bảng biểu Vay và trả nợ của chính quyền địa phương 20
Hình 13: Bảng biểu Các chỉ tiêu giám sát nợ công giai đoạn 2010-2021 (%) 21
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài.
Khủng hoảng tài chính dang diễn ra ngày càng liên tục vớicường độ mạnh và diễn biến phức tạp gây ra những hậu quả nặng
nề đối với các quốc gia công nghiệp phát triển Năm 2008, cuộckhủng hoảng kinh tế thế giới khiến nền kinh tế chao đảo, đến nayđang dần khôi phục lại tuy nhiên vẫn còn dư âm Năm 2010, nợcông vượt lên mức quá cao so với mức an toàn ở những nền kinh tếphát triển, đang trở thành chủ đề nóng bởi đó là yếu tố có nguy cơ
đe dọa những dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế toàn cầu, làm longại tới viện cảnh một lần nữa nền kinh tế thế giới rơi vào tìnhtrạng suy giảm Sự hiện hữu của “bóng ma khủng hoảng nợ đã vàđang làm đau đầu các nhà lãnh đạo Liên minh Châu Âu Chính điều
đó đã đánh lên hồi chuông báo động cho tất cả các nước trên thếgiới phải suy nghĩ nghiêm túc về tình trạng nợ công của chính quốcgia mình Thiết nghĩ việc nghiên cứu “Nợ công tại Việt Nam" là việchết sức cần thiết và cấp bách hiện nay không chỉ ở Việt Nam màcòn trong khu vực và trên thế giới
2 Mục tiêu nghiên cứu Nợ công ở Việt Nam.
Nghiên cứu đề tài giúp người đọc có cái nhìn khách quan vềtình trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay Giúp mọi người nhìn nhậntầm quan trọng về việc nợ công và hiểu rõ những việc làm, biệnpháp của chính phủ đặt ra để thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu : Nợ công ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu : Giai đoạn 2010-2021
4 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp định tính ( thu thập số liệu sau đó tổng hợp)
Trang 85.Ý nghĩa đề tài.
Mục tiêu của Đề tài là khẳng định tầm quan trọng của công tácquản lý nợ công thông qua điều hành chiến lược nợ hiệu quả, đánhgiá thực trạng nợ công Việt Nam trong thời gian qua, những kết quảđạt được và chỉ ra những bất cập khó khăn còn tồn tại để qua đó đềxuất giải pháp quản lý phù hợp Từ tình hình và thực trạng quản lý
nợ công, đề tài đề ra quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giảipháp cho giai đoạn 2021-2030, phù hợp với thông lệ quản lý nợ tốttrên thế giới và đã được nhiều nước áp dụng, góp phần tăng cườnghiệu quả công tác quản lý nợ công của nước ta trong thời gian tới
6 Bố cục đề tài.
Chương 1: Cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm về vấn
đề nợ công – Đưa ra khái niệm, đặc điểm vai trò và các nhân tố
ảnh hưởng tới nợ công Đồng thời đưa ra bài học kinh nghiệm đốivới Hy Lạp, Châu Âu và Thế giới
Chương 2 : Thực trạng nợ công ở Việt Nam – Đưa ra thực
trạng chung rồi phân tích và đánh giá thực trạng để làm rõ về tìnhtrạng về nợ công ở Việt Nam Đồng thời nêu những hạn chế vànguyên nhân sâu sa về tình trạng nợ công ở Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp quản lý nợ công ở Việt Nam –
Đưa ra mục tiêu phương hướng, định hướng phát triễn và một sốbiện pháp khắc phục tình trạng nợ công ở Việt Nam
Bài nghiên cứu nhóm em còn nhiều thiếu sót, tụi em mongnhận được sự góp ý cô và các bạn
Trang 9Chương 1: Cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm
về vấn đề nợ công 1.1.Khái niệm nợ công
Hầu hết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công làkhoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệmtrong việc chi trả khoản nợ đó Chính vì vậy, thuật ngữ nợ côngthường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nướchay nợ Chính phủ Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốcgia, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia mà thôi
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, nợ công được hiểu lànghĩa vụ nợ của bốn nhóm chủ thể bao gồm: nợ của Chính phủTrung Ương và các Bộ, ban, ngành trung ương; nợ của các cấp chínhquyền địa phương; nợ của Ngân hàng trung ương và nợ của các tổchức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu baogồm ba nhóm là nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợchính quyền địa phương Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ cáckhoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhândanh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do
Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy địnhcủa pháp luật Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanhnghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài đượcChính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung làUBND cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
Như vậy, khái niệm về nợ công theo quy định của pháp luật ViệtNam được đánh giá là hẹp hơn so với thông lệ quốc tế Nhận địnhnày cũng được nhiều chuyên gia uy tín trong lĩnh vực chính sách
Trang 10công thừa nhận Có nhiều tiêu chỉ để phân loại nợ công, mỗi tiêu chỉ
có một ý nghĩa khác nhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm cóhai loại: nợ trong nước và nợ nước ngoài Nợ trong nước là nợ công
mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam Nợ nước ngoài là nợcông mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổchức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Như vậy,theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ màbên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công khôngphải là nợ trong nước
Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quantrọng trong quản lý nợ Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúpxác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế Và ởmột số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bao anninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoàichủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanhtoán quốc tế khác
Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợcông từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ
Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từnhững thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩmquyền với cá nhân, tổ chức cho vay Phương thức huy động vốn nàyxuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệpđịnh, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài
Nợ công từ công cụ này là khoản nợ công xuất phát từ việc cơquan nhà nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vayvốn Các công cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính
vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính
Trang 11Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợcông có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưuđãi và nợ thương mại thông thường.
Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành
nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh Nợ công phải trả là các khoản
nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ Nợcông bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnhcho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ
có nghĩa vụ trả nợ
Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ côngcủa trung ương và nợ công của chính quyền địa phương Nợ côngcủa trung ương là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảolãnh Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địaphương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ Theo quy địnhcủa Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ củachính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách và đượcđưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương đượcChính phủ đảm bao chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngânsách trung ương
1.2.Các đặc điểm cơ bản của nợ công
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công,nhưng về cơ bản, nợ công có những đặc điểm sau đây:
1.2.1 Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước:
Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định làmột khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩmquyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy Trách nhiệm trả nợ của Nhànước được thể hiện dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp Trực tiếpđược hiểu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay, do
Trang 12đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay (vídụ: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa phương) Gián tiếp làtrong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh
để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay khôngtrả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảolãnh (ví dụ: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Namvay vốn nước ngoài)
1.2.2 Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với
sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảohai mục đích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụngvốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và anninh tài chính quốc gia; hai là, để đạt được những mục tiêu của quátrình sử dụng vốn Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cách chặtchẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và xã hội Theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc quản lý nợ công là Nhànước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân
bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ bảnnhư đã nêu trên
1.2.3 Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng
nợ công là phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích chung
Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãnnhững lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi íchchung của đất nước Xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế
để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân và
vì dân nên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi íchcủa nhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất
1.3.Vai trò của nợ công
Có thể nói, nợ công đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việcgiúp chính phủ tài trợ cho chi tiêu công và lấp đầy các lỗ hổng trong
Trang 13ngân sách Nợ công có nhiều tác động tích cực là thế, song cũngkhông tránh khỏi sẽ mang lại một số tác động tiêu cực Vì vậy, việcnhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặttích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xâydựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công.
Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công có thể kể đến như:
Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cườngnguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng
bộ của Nhà nước Việt Nam đang trong gia đoạn tăng tốc phát triểnnền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cơ
sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định Muốn phát triển cơ sở
hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất Vớichính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bướcđược giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tang năng lực sảnxuất cho nền kinh tế Ngoài ra, huy động nợ công góp phần tận dụngđược nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư Một bộ phận dân cưtrong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ
mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lạihiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư Bên cạnh đó,
nợ công còn tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chứctài chính quốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh
tế - ngoại giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnhhưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế songphương Nếu Việt Nam biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ cóthêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, chủquyền và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước
Song song với những tác động tích cực nêu trên, nợ công cũnggây ra những tác động tiêu cực nhất định Nợ công sẽ gây áp lực lênchính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ ngoài nước Nếu
Trang 14kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo, nợ công sẽ tỏ ra kém hiệuquả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chếgiám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công.
1.4.Các nhân tố ảnh hưởng tới nợ công
1.4.1 Thâm hụt ngân sách cơ bản
Cân đối NSNN là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến nợ công Từ bảnchất nợ công có thể thấy mức thâm hụt ngân sách phản ánh giá trịtuyệt đối của nợ chính phủ Nếu NSNN thâm hụt cơ bản, nhu cầu vay
nợ của Nhà nước sẽ gia tăng và làm trầm trọng thêm tình hình nợcông Ngược lại, nếu NSNN thặng dư cơ bản, nhu cầu vay nợ giảmhoặc Chính phủ có thêm nguồn tài chính để mua lại trái phiếu chínhphủ (TPCP) trước hạn làm cho mức nợ công giảm xuống
1.4.2 Lãi suất thực tế
Sự biến động của lãi suất trên thị trường sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến những khoản nợ công có lãi suất thả nổi và những khoản vaymới Tỷ lệ các khoản nợ công có lãi suất thả nổi trong tổng nợ càngcao thì sự ảnh hưởng của lãi suất đến nợ công càng lớn Mặt khác,ngay cả những khoản vay có lãi suất cố định thì sự biến động của lãisuất thị trường cũng sẽ ảnh hưởng đến giá cả của các công cụ nợ,nghĩa là, gián tiếp ảnh hưởng tới quy mô nợ công Bởi khi lãi suấttăng lên, chi phí vay nợ (trả lãi và phí) tăng lên, các khoản vay củaChính phủ sẽ trở nên đắt hơn và khó khăn hơn, làm gia tăng nợcông
1.4.3 Tăng trưởng GDP thực tế
Trong thời kỳ kinh tế mở rộng, tăng trưởng GDP thực tế cao,các khoản vay của Chính phủ sẽ trở nên dễ dàng hơn, điều này làmcho lãi suất thực tế giảm và tăng trưởng kinh tế nhanh góp phầncủng cố nguồn thu NSNN, cải thiện cân đối tài khóa cơ bản Ngượclại, trong thời kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế chậm, làm các chỉ
Trang 15tiêu kinh tế xấu đi và điều này cũng làm gia tăng chỉ tiêu nợ côngtrên GDP (Marek, 2014).
1.4.4 Tỷ giá
Trong cơ cấu danh mục nợ công có những khoản nợ vay bằngđồng ngoại tệ, do đó, sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến nợ công Nếu nợ vay bằng ngoại tệ, đặc biệt là những ngoại tệ
có sự biến động lớn về giá trị chiếm tỷ lệ cao thì ảnh hưởng của sựbiến động tỷ giá đến nợ công càng lớn
1.4.5 Các yếu tố kinh tế vĩ mô khác
Đánh giá nợ công phải đặt trong mối liên hệ với các chỉ tiêukinh tế vĩ mô, ngoài các yếu tố cơ bản gồm thâm hụt ngân sách,tăng trưởng kinh tế, lãi suất thực tế và tỷ giá nêu trên, cần phải xemxét thêm các yếu tố khác như lạm phát, mức độ thâm hụt cán cânvãng lai, mức độ thâm hụt cán cân thương mại, dòng vốn vào (nhưvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI, vốn đầu tư gián tiếp nướcngoài - FPI, vốn hỗ trợ phát triển chính thức - ODA…), năng suất laođộng tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), độ mở củanền kinh tế… để dự báo và đảm bảo nguồn lực thanh toán nghĩa vụ
nợ Ngoài ra, chính sách quản lý kinh tế vĩ mô và quản lý nợ công cóảnh hưởng tới nợ công Nợ công không được cơ cấu tốt về thời hạn,lãi suất, đồng tiền vay nợ có thể làm tăng quy mô, rủi ro và nghĩa
vụ nợ Ngược lại, chính sách quản lý nợ công tốt có thể kiểm soátđược rủi ro và quy mô nợ Điều này một mặt làm giảm thiểu rủi ro vàchi phí trong quản lý nợ công trung và dài hạn; mặt khác giúp Chínhphủ có sự chủ động trong tài trợ chi tiêu của mình
1.5.Bài học kinh nghiệm của Hy Lạp, Châu Âu và thế giới
1.5.1.Với Hy Lạp
1.5.1.1 Chính sách tiền tệ giảm phát và đồng Euro
Thảm họa ở Hy Lạp phản ánh mối hiểm nguy to lớn mà chínhsách tiền tệ giảm phát (bao gồm tăng lãi xuất và giảm cung tiền) có
Trang 16thể mang lại Tuy nợ công của Hy Lạp khá cao, tương đương 113%GDP, nhưng trên thực tế, nhiều quốc gia khác cũng đang hoặc đãtừng gánh những mức nợ tương tự mà không hề lâm vào khủnghỏang.
Chẳng hạn, vào năm 1946, Mỹ khi đó vừa ra khỏi chiến tranhThế giới thứ 2 đã có mức nợ liên bang tương đương 122% GDP.Nhưng các nhà đầu tư khi đó không lo ngại gì, và một thập kỷ sau, tỷ
lệ nợ so với GDP của Mỹ giảm còn một nửa Trong những thập kỷ tiếptheo tỷ lệ nợ công so với GDP của Mỹ tiếp tục giảm, xuống tới mứcđáy 33% vào năm 1981
1.Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ qua các năm Đơn vị: %
Cuối năm 1946, Chính phủ Mỹ nợ 271 tỷ USD và vào cuối năm
1956, mức nợ này tăng nhẹ lên 274 tỷ USD Như vậy, tỷ lệ nợ so vớiGDP giảm không phải bởi nợ giảm mà vì GDP tăng, cụ thể là tănggần gấp đôi tính theo USD trong vòng 1 thập kỷ
Trang 17Sự gia tăng của GDP tính bằng USD hầu như là kết quả của sựtăng trưởng kinh tế và lạm phát, với cả hai yếu tố này cùng gia tăngvới tốc độ khoảng 40% trong thời gian 1946-1956.
Không may cho Hy Lạp, quốc gia châu Âu này không thể kỳvọng điều tương tự Lý do nằm ở đồng Euro.Việc trở thành một thànhviên của khu vực sử dụng đồng Euro giúp đem tới những khoản vaylãi suất thấp và những dòng vốn khổng lồ Nhưng những dòng vốnnày cũng đồng thời dẫn tới lạm phát Rốt cục, Hy Lạp nhận thấymình phải đương đầu với tình trạng leo thang của giá cả mạnh hơn ởcác nền kinh tế lớn của châu Âu
2.Hình 2.Tỷ lệ lạm phát của Hy Lạp so với Đức và khối Eurozone
Dần dần, Hy Lạp sẽ phải áp dụng chính sách tiền tệ giảm phát
để đưa tỷ lệ lạm phát về với mức “hợp chuẩn” với các quy định củakhu vực đồng Euro Và sự giảm phát sẽ làm gánh nặng nợ nần của
Hy Lạp thêm tối tệ, trong khi lạm phát giúp Mỹ thời hậu Chiến tranhThế giới nhẹ nợ Do đó, cách duy nhất để Hy Lạp khắc phục khókhăn là cắt giảm chi tiêu và tăng thuế - những biện pháp có thể làm
Trang 18tỷ lệ thất nghiệp của nước này thêm đáng ngại, niềm tin của thịtrường trái phiếu vào Hy Lạp càng bị xói mòn, đẩy quốc gia này vàotình trạng tồi tệ hơn.
1.5.1.2 Chi tiêu Chính phủ
Nợ công của Hy Lạp tích tụ từ những năm 1980 dựa trên vaytiêu dùng tư nhân khi thanh khoản của thị trường tài chính toàn cầucao, dễ vay, để rồi bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu
2008, nợ tư chuyển thành nợ công khi Chính phủ một loạt các quốcgia buộc phải cứu trợ thanh khoản cho các ngân hàng tư nhân RồiGDP thâm hụt ở mức cao trong nhiều năm do chi tiêu của Chính phủtrong chi an sinh xã hội cộng thêm những yếu kém trong lĩnh vựcquản lý thuế liên quan đến tệ tham nhũng Biểu đồ dưới đây chothấy GDP giảm nhanh từ khoảng 245 tỷ euro năm 2006 trước khủnghoảng xuống còn khoảng 179 tỷ euro năm 2014 làm cho khả năngtrả nợ càng thêm khó khăn Vấn đề bây giờ đối với Hy Lạp là vừaphải cải cách thuế, vừa phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế để tạonguồn thu ngân sách cho trả nợ
Trang 193.Hình 3:GDP thực tế và nợ của Chính phủ Hy Lạp giai đoạn 1995 – 2015
1.5.1.3 Chính sách quản lý nợ công
Thực tế cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra tại Hy Lạp cho thấy,chính sách quản lý nợ công của Hy Lạp chưa thật sự phù hợp, tồn tạinhững điểm yếu nghiêm trọng Các vấn đề của kinh tế Hy Lạp là tậphợp của nhiều yếu tố trong nước và ngoài nước Tuy nhiên, nhữngđiểm quan trọng nhất vẫn tồn tại ngay chính trong bản thân đấtnước này, cụ thể là: sự phụ thuộc quá lớn của quốc gia này vào cácnguồn trợ cấp của nước ngoài; nhu cầu vay nợ quả tràn lan; khảnăng trả nợ thấp; chính phủ chi tiêu ngân sách ồ ạt, lãng phí, thiếuhiệu quả và minh bạch thông tin nợ yếu kém
1.5.2 Với Châu Âu
Liên minh Châu Âu đã nhắm mắt trước những yếu kém của HyLạp, đưa Hy Lạp vào thành viên sử dụng đồng tiền Euro mạnh, lãisuất thấp và sẵn sàng đổ tiền cho vay rất nhiều lần mà không đạtđược tiến bộ thực chất nào Từ cuộc khủng hoảng nợ công của HyLạp, Liên minh Châu Âu có thể rút ra bài học kinh nghiệm và một sốyếu tố cần được giải quyết trong ngắn hạn:
Trang 20Thứ nhất, sự chênh lệch trình độ phát triển và quản lý kinh tế:Mặc dù các thành viên EU bình đẳng, song luôn có sự không tươngthích giữa các quốc gia nội khối về thực lực kinh tế, trình độ pháttriển và tình hình tài chính Việc các quốc gia buộc phải áp dụngchính sách tiền tệ thắt chặt để đối phó với khủng hoảng nợ lại cảnglàm cho sự khác biệt này thêm nghiêm trọng Khoảng cách này giữacác nước thành viên không thể thu hẹp trong ngắn hạn.
Thứ hai, sự hoàn thiện các thể chế tài chính - tiền tệ chung: Dù
có nhiều đồng thuận về các nguyên tắc hợp tác kinh tế tài chính tiền tệ lâu đời, song cho đến nay trong thể chế hợp tác của mình,các nước EU vẫn chưa có bất cứ một hình phạt nào đối với các quốcgia vi phạm tỷ lệ nợ công trên GDP, được xác lập ở mức tối đa 60%trong Hiệp định Maastricht khi thành lập khối
-Thứ ba, mặt trái của việc sử dụng đồng Euro: Bên cạnh nhữnglợi ích do đồng tiền chung mang lại, các nước sử dụng đồng Eurocũng bị kẹt trong tình cảnh không thể sử dụng các công cụ tiền tệgiúp kiểm chế lạm phát như các quốc gia khác, bao gồm tăng lãisuất hoặc giảm cung tiền
Thứ tư, mặt trái của các biện pháp "thắt lưng buộc bụng" làmchậm tăng trưởng kinh tế: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế(OECD) cho rằng, các biện pháp "thắt lưng buộc bụng" sẽ làm cho
Hy Lạp tăng sức cạnh tranh, ngân sách cũng sẽ tiết kiệm đượckhoản lớn Việc cắt giảm rào cản thương mại cũng sẽ mang lại lợi íchcho phát triển kinh tế khi giúp tăng xuất khẩu, song lại có nhữngmặt trái do giảm vốn đầu tư công và cả đầu tư xã hội, đồng thời làm
tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, giảm sức mua của người tiêu dùng vàgiảm nhu cầu vay vốn đầu tư
Tóm lại, việc xử lý khủng hoảng nợ công đòi hỏi sự phối hợp hàihoà giữa cơ chế chính sách của Nhà nước và cơ chế thị trường, coi
Trang 21trọng tính đồng bộ và chú ý đến tỉnh 2 mặt của các giải pháp chínhsách, đồng thời duy trì động lực tăng trưởng kinh tế và bảo đảm ansinh xã hội; Đa dạng hoá và phối hợp hiệu quả các nguồn lực trongnước và quốc tế trong quản lý phát triển và vượt qua khủng hoảng.Đặc biệt, cần coi trọng công tác dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêudùng và giữ vững lòng tin trên thị trường tài chính, nỗ lực kiểm soátkhủng hoảng tài chính để vượt qua khủng hoảng chu kỳ, bất ổn vĩ
mô, xã hội và chính trị; đề cao yêu cầu phát triển bền vững, tăngtrưởng xanh, với lợi ích giữ vững ổn định kinh tế - chính trị - xã hộiquốc gia là trên hết
2) Nợ công có ba đặc điểm cơ bản, đó vừa là khoản nợ ràng buộctrách nhiệm trả nợ của Nhà nước vừa được quản lý theo quytrình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩmquyền Ngoài ra, mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sửdụng nợ công là phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích chung
3) Nợ công đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp chínhphủ tài trợ cho chi tiêu công và lấp đầy các lỗ hổng trong ngânsách Bên cạnh đó, việc nhận biết những tác động tích cực vàtiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực làđiều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiện pháp luật
về quản lý nợ công
4) Cân đối NSNN là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến nợ công Sựbiến động của lãi suất trên thị trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp