Theo đó, mục đích của Hội Quốc liên là “khuyến khích sựhợp tác quốc tế, thực hiện nền hoà bình và an ninh thế giới”, và để thực hiện mục đích đó người ta đề ra một số nguyên tắc như: khô
Trang 1LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT ĐẾN NAY
I SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI MỚI SAU CHIẾN TRANH THÉ GIỚI THỨ NHẤT
Trước hết chúng ta cần nắm được những nét khái quát về tình hình quốc tế sau chiến tranhthế giới I Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ quốc tế.Kết cục của chiến tranh đã tác động mạnh mẽ đến tình hình thế giới đặc biệt là đối với châu Âu Chiến trường chính của cuộc chiến tranh diễn ra ở châu Âu, vì thế các cường quốc châu Âuđều bị suy yếu Hai nước tư bản lâu đời Anh và Pháp tuy chiến thắng nhưng nền kinh tế bị kiệtquệ sau chiến tranh và trở thành con nợ của Mĩ Italia, một đồng minh ốm yếu trong chiến tranh,
bị xâu xé bởi cuộc đấu tranh gay gắt trong nước và khủng hoảng kinh tế Ba đế quốc rộng lớn ởchâu Âu là Nga, Đức, áo - Hung lần lượt sụp đổ Đế quốc Đức và áo - Hung bại trận, bị tàn phánặng nề và những cuộc cách mạng bùng nổ đã đẩy các nước này vào tình trạng khủng hoảngnghiêm trọng
Trong khi đó các cường quốc ở ngoài châu Âu như Mỹ và Nhật, không bị tàn phá bởi chiếntranh, đã vươn lên nhanh chóng, vượt qua nhiều nước tư bản ở châu Âu Tương quan lực lượnggiữa các cường quốc thay đổi rõ rệt, ngày càng bất lợi cho các nước tư bản châu Âu vốn chiếm vịtrí trung tâm trong thế giới tư bản chủ nghĩa trước đây
Đồng thời thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cũng tạo ra một chuyển biếncăn bản của tình hình thế giới Chủ nghĩa tư bản không còn tồn tại như một hệ thống duy nhấtthống trị thế giới nữa Sự tồn tại của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thànhmột thách thức to lớn đối với thế giới tư bản chủ nghĩa
Trong bối cảnh đó, để giải quyết những vấn đề do chiến tranh đặt ra, các hội nghị hoà bìnhđược triệu tập Hệ thống hoà ước Vecxai (Versailles) và sau đó là Hệ thống hiệp ước Oasinhtơn
đã được ký kết nhằm tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, phù hợp với tương quan lực lượng mới
1 HỆ THỐNG HÒA ƯỚC VECXAI (1919-1921)
Hai tháng sau khi chiến tranh kết thúc, ngày 18 - 1 - 1919 các nước thắng trận đã họp Hộinghị hoà bình tại Vécxai (ngoại ô thủ đô Pari của Pháp) Tham dự hội nghị có đại biểu của 27nước thắng trận Năm cường quốc tham gia điều khiển hội nghị là Mỹ, Anh, Pháp, Italia và NhậtBản, nhưng thực sự nắm quyền quyết định hội nghị là Tổng thống Mĩ Uynxơn (Wilson), Thủtướng Anh Lôi Giooc (Lloyd George) và Thủ tướng Pháp Clêmăngxô (Clemenceau) Đại biểucủa các nước bại trận cũng có mặt để k í vào các hoà ước do các nước thắng trận quyết định Hộinghị Vécxai kéo dài gần 2 năm và diễn ra hết sức gay go, quyết liệt vì các nước cường quốc thắngtrận đều có những mưu đồ tham vọng riêng trong việc phân chia quyền lợi và thiết lập trật tự thếgiới sau chiến tranh Là nước đăng cai hội nghị, Pháp mong muốn làm suy kiệt hoàn toàn nướcĐức cả về quân sự và kinh tế, nhằm đảm bảo an ninh và địa vị bá chủ của Pháp ở lục địa châu
Âu Nhưng Anh và nhất là Mĩ lại chủ trương phải duy trì một nước Đức tương đối mạnh để đốiphó với phong trào cách mạng đang lê n cao ở các nước châu Âu và âm mưu bá chủ châu Âu củaPháp Đó là chính sách “cân bằng lực lượng” ở châu Âu mà Mĩ rất ủng hộ Ngay từ đầu năm
1918, một năm trước khi chiến tranh kết thúc, Tổng thống Mĩ Uynxơn đã đưa ra Chương trình 14điểm nhằm lập lại hoà bình và tổ chức lại thế giới sau chiến tranh theo quan điểm của Mĩ(1) Vớinhững lời lẽ bóng bảy, bề ngoài đề cao hoà bình, dân chủ, Chương trình 14 điểm thể hiện mưu đồxác lập địa vị bá chủ thế giới của Mĩ, làm suy yếu các đối thủ cạnh tranh Anh, Pháp và Nhật Bản,tạo cơ hội để Mĩ vượt khỏi sự biệt lập của châu Mĩ, vươn ra bên ngoài bằng sức mạnh kinh tế và
Trang 2ảnh hưởng chính trị chứ không phải bằng con đường bành trướng lãnh thổ như các cường quốckhác Chương trình 14 điểm của Uynxơn được các nước coi là nguyên tắc để thảo luận tại Hộinghị Véc xai
Các nước Italia, Nhật Bản cũng đưa ra những tham vọng của họ Nhật Bản đòi được thay thếĐức nắm chủ quyền bán đảo Sơn Đông của Trung Quốc, dự định chiếm vùng viễn Đông củanước Nga Xô Viết, mở rộng ảnh hưởng ở khu vực châu á - Thái Bình Dương Italia muốn mởrộng lãnh thổ xuống vùng Địa Trung Hải và vùng Bancăng Các nước nhỏ như Ba Lan và Rumanicũng có những yêu cầu mở rộng lãnh thổ của mình. Sau gần nửa năm tranh cãi với 3 lần có nguy cơ tan vỡ vì bất đồng gay gắt về quyền lợi, cuốicùng các văn kiện của Hội nghị Vécxai được kí kết
a Sự thành lập hội Quốc liên (League of Nations).
Một trong những vấn đề cơ bản đầu trên được các nước tham dự Hội nghị Vécxai nhất trí
là việc thành lập Hội Quốc liên Công ước thành lập Hội quốc liên là văn kiện đầu tiên được kíkết cùng với Hiến chương của Hội Theo đó, mục đích của Hội Quốc liên là “khuyến khích sựhợp tác quốc tế, thực hiện nền hoà bình và an ninh thế giới”, và để thực hiện mục đích đó người
ta đề ra một số nguyên tắc như: không dùng chiến tranh trong quan hệ giữa các nước, quan hệquốc tế phải rành mạch và dựa trên đạo lí, phải thi hành những cam kết quốc tế Ngày 10 - 1 -
1920, Hội Quốc liên chính thức thành lập với 44 nước kí vào công ước sáng lập, Hội quốc liên có
3 tổ chức chính: Đại hội đồng (gồm tất cả các nước thành viên, họp mỗi năm một lần vào tháng9), Hội đồng thường trực (gồm 5 uỷ viên các cường quốc Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia - sau đó cònlại 4 vì Mĩ không tham gia, và một số uỷ viên có kì hạn, họp mỗi năm ba lần), Ban thư ký thườngtrực như một nội các làm việc hành chính thường xuyên Các cơ quan chuyên môn của Hội Quốcliên gồm có Toà án quốc tế (có trụ sở thường trực ở La Hay) và các tổ chức khác như: Tổ chứclao động quốc tế (ILO), Tổ chức sức khoẻ (HO), uỷ ban người tị nạn (HCR) Nội dung hoạtđộng do Hội Quốc liên đề ra là giám sát việc giải trừ quân bị, tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹnlãnh thổ và độc lập chính trị, giải quyết các tranh chấp quốc tế, thực hiện “chế độ uỷ trị” đối vớimột số lãnh thổ “chưa đủ điều kiện tự quản” Nước nào vi phạm công ước, gây chiến tranh sẽ bịxem là gây chiến với toàn thể hội viên và sẽ bị trừng phạt dưới hai hình thức: bằng biện phápkinh tế và tài chính (do tất cả các nước hội viên bắt buộc phải thi hành) và bằng những biện phápquân sự Sự ra đời của Hội Quốc Liên, một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu tiên, đã đánhdấu bước phát triển mới của quan hệ quốc tế thế kỷ XX Về danh nghĩa, Hội Quốc Liên trở thànhmột tổ chức giám sát trật tự quốc tế mới, nhằm ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế giới.Tuy nhiên, trên thực tế, những hoạt động của Hội quốc Liên là nhằm duy trì trật tự thế giới mới
Trang 3do các cường quốc chiến thắng áp đặt tại Hội nghị Vécxai Với "chế độ uỷ trị", Anh, Pháp đã chianhau hầu hết các thuộc địa của Đức và lã nh thổ của đế quốc Thổ Nhĩ Kì Các biện pháp về giảitrừ quân bị và sự trừng phạt chỉ mang ý nghĩa hình thức vì Hội Quốc liên không có sức mạnhthực tế để thực thi các quyết định của mình Để Hội Quốc Liên có thể trở thành một công cụ cóhiệu quả, tổ chức này phải có ý chí chính trị thống nhất và có khả năng quân sự cần thiết Những
sự kiện diễn ra sau này sẽ cho thấy sự bất lực của Hội Quốc Liên trong việc giải quyết các vấn đềquốc tế Hội Quốc Liên được thành lập theo sáng kiến của Tổng thống Mĩ Uynxơn nhưng Mĩ từchối không tham gia do những tham vọng của Mĩ đã không được thực hiện trong Hội nghịVécxai Điều đó cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến uy tín và sức mạnh của tổ chức này
b Hoà ước Vécxai với Đức.
Hoà ước Vécxai với Đức kí ngày 28 - 6 - 1919, văn kiện quan trọng nhất của hệ thống hoàước Vécxai, đã quyết định số phận của nước Đức Hoà ước khẳng định nước Đức bại trận phảichịu trách nhiệm về “tội ác gây chiến tranh”, do đó phải trả lại cho Pháp hai tỉnh Andat và Loren(Alsace-Lorraine); nhường cho Bỉ khu ơpen Manmơđi (Eupen Malmedy) và Môrêxnet(Moresnet); cắt cho Ba Lan vùng Pômêrani ( Pomerania) và một “hành lang chạy ra biển”; cắtcho Đan Mạch vùng Bắc Sơlexvít (Slesvig) Thành phố cảng Đăngd ích (Dantzig nay làGơđanxcơ, Ba Lan) và đảo Hengôlan sẽ do Hội quốc liên quản trị Hạt Xarơ (Sarre) của Đứccũng giao cho Hội Quốc liên quản trị trong thời hạn 15 năm, các mỏ than ở đây thuộc về Pháp.Sau thời hạn này sẽ tiến hành trưng cầu ý dân để quyết dịnh hạt Xarơ sẽ thuộc về nước nào (saucuộc trưng cầu ý dân năm 1935, hạt Xarơ đã thuộc về nước Đức) Đồng thời toàn bộ hệ thốngthuộc địa của Đức đều trở thành đất uỷ trị của Hội Quốc liên và được giao cho các cường quốcAnh, Pháp, Nhật, Bỉ quản lí
Nước Đức còn bị hạn chế vũ trang đến mức thấp nhất: chỉ được giữ lại 100.000 bộ binh với
vũ khí thông thường, không có không quân, không có hạm đội tầu ngầm và thiết giáp hạm Vùng tảngạn sông Ranh (gần biên giới Pháp) và 3 đầu cầu vùng hữu ngạn sẽ do quân đội Đồng minh đóngtrong vòng 15 năm và rút dần quân nếu Đức thi hành hoà ước Vùng hữu ngạn sông Ranh với chiềurộng 50 km sẽ trở thành khu phi quân sự Nước Đức còn phải bồi thường chiến tranh cho các nướcthắng trận số tiền (do Hội nghị Luân đôn th áng 4 - 1921 qui đinh) là 132 tỉ Mác vàng, trong đó trảcho Pháp: 52% Anh 22%, Italia: 10%, Bỉ: 8% Với hoà ước này, nước Đức mất 1/8 đất đai, gần1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, gần 1/3 mỏ than, 2/5 sản lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và gần 1/7diện tích trồng trọt Toàn bộ gánh nặng của hoà ước Vécxai đè lên vai nhân dân Đức Tuy thế, hoà
Trang 4ước Vécxai không thủ tiêu được tiềm lực kinh tế chiến tranh của Đức Sau này, với sự trợ giúp của
Mĩ, Anh, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, nước Đức đã khôi phục và trở thành một lò lửa chiếntranh nguy hiểm nhất ở châu Âu trong thập niên 30
c Các hoà ước khác.
Cùng với hoà ước Vécxai kí với Đức, những hoà ước khác cũng lần lượt kí kết với cácnước bại trận trong hai năm 1919 - 1920 Với hoà ước Xanh Giéc manh (Saint - Germain) kí với
áo ngày 10 - 9 -1919 và Hoà ước Trianông (Trianon) kí với Hunggari ngày 4-6-1920, đế quốc áo
- Hung trước kia không còn nữa mà bị tách thành hai nước nhỏ: áo chỉ còn 6,5 triệu dân với diệntích 84.000 km2, Hunggari cũng mất 1/3 lãnh thổ trước kia, chỉ còn lại 92.000km2 với 8 triệudân(1) Mỗi nước chỉ đượ c quyền có khoảng 30.000 quân và phải bồi thường chiến phí trên lãnhthổ của đế quốc áo - Hung cũ đã thành lập hai quốc gia mới là Tiệp Khắc và Nam Tư Một sốnước được mở rộng thêm đất đai từ lãnh thổ của đế quốc áo - Hung: Rumani được thêm vùngBucôvina (Bukovine và Tơranxinvani (Transylvanie), Italia được thêm vùng Tơrentin và Itxtria(Trentin - Istrie), Ba Lan cũng được thành lập với vùng Galixia thuộc áo và các vùng đất khácthuộc Đức và Nga Ở bán đảo Ban căng, số phận hai nước thua trận là Bungari và đế quốcốttôman cũng được quyết định Với hoà ước Nơiy (Neuilly) kí với Bungari ngày 27-11-1919,lãnh thổ Bungari bị thu hẹp lại so với trước kia do phải cắt một số đất đai ở biên giới phía Tâycho Nam Tư, cắt vùng Thơraxơ (Thrace) cho Hi Lạp (do vậy bị mất cảng Đêđêaghát(Dédéagatch) và lối ra biển Êgiê (Egée) và cắt tỉnh Đôbrútgia (Dobroudja) cho Rumani Ngoài ra,Bungari phải bồi thường chiến phí là 2,25 tỉ phơ răng, phải nộp cho các nước lán g giềng trongphe chiến thắng (Nam Tư, Hi lạp, Rumani) 37.000 gia súc lớn, 33.000 gia súc nhỏ, đồng thời phảihạn chế lực lượng vũ trang xuống còn không quá 20.000 người Hoà ước Xevrơ (Sevres) với thổNhĩ Kì kí ngày 11 - 8 - 1920 đã chính thức xoá bỏ sự tồn tại của đế quốc ốttôman Xiri, Libăng,Palextin và Irắc tách khỏi thổ Nhĩ Kì và đặt dưới quyền “bảo hộ” của Anh và Pháp Ai cập chịu
sự “bảo hộ” của Anh, bán đảo Aráp được coi là thuộc “phạm vi thế lực” của Anh Phần đất châu
Âu của Thổ Nhĩ Kì phải cắt cho Hi Lạp (trừ Ixtambun và vùng ngoại ô) Các eo biển của Thổ Nhĩ
Kì được đặt dưới quyền kiểm soát của một uỷ ban gồm các đại biểu của Anh, Pháp, Italia, NhậtBản Toàn bộ những hoà ước nói trên hợp thành Hệ thống hoà ước Vécxai Đây là văn bản chínhthức đầu tiên xác định việc phân chia thế giới của chủ nghĩa đế quốc Trật tự mới này đem lại lợiích cho các cường quốc thắng trận, nhất là Anh Anh chẳng những mở rộng hệ thống thuộc địađồng thời quyền bá chủ mặt biển vẫn được giữ vững Pháp và Nhật cũng giành được khá nhiềuquyền lợi Tuy nhiên, những điều khoản khắt khe của Hệ thống hoà ước Vécxai đối với các nướcchiến bại, nhất là Đức, trên thực tế chẳng những đã không thể thực hiện được mà còn làm tăngthêm tâm lý phục thù của các nước này Đó là mâu thuẫn nảy sinh ngay từ khi hệ thống này mớiđược hình thành Đồng thời, tham vọng lãnh đạo thế giới của giới cầm quyền Mĩ cũng chưa đượcthực hiện Chính vì thế các nước đế quốc đã phải tiếp tục giải quyết những bất đồng về quyền lợitại một hội nghị tiếp theo ở oasinhtơn
Trang 5Hội nghị Vécxai kết thúc nhưng những mâu thuẫn mới lại nảy sinh giữa các cường quốcthắng trận đặc biệt là mâu thuẫn trong quan hệ Anh - Mĩ và Mĩ - Nhật Quốc hội mĩ đã không phêchuẩn Hoà ước Vécxai vì những quyền lợi của Mĩ không được thoả mãn Gần hai năm sau, ngày25-8- 1921, Mĩ đã kí hoà ước riêng rẽ với Đức Đồng thời Mĩ đưa ra “sáng kiến” triệu tập một hộinghị quốc tế ở oasinhtơn để giải quyết những vấn đề trong quan hệ quốc tế ở khu vực Viễn Đông
- Thái Bình Dương, nhằm ngăn chặn phong trào độc lập dân tộc đang lên cao và củng cố nềnthống trị thực dân ở khu vực này Ngày 12 - 11 - 1921, Hội nghị oasinhtơn được khai mạc với sựtham gia của 9 nước: Anh, Pháp, Mĩ, Italia, Nhật, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Trung Quốc NướcNga Xô viết - một nước lớn ở khu vực đã không được mời tham dự hội nghị Quyền lãnh đạo hộinghị nằm trong tay bốn nước: Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, nhưng quyền quyết định thuộc về Mĩ Nhữngnghị quyết quan trọng nhất của Hội nghị oasinhtơn được thể hiện trong ba hiệp ước: Hiệp ước 4nước (Anh, Pháp, Mĩ, Nhật) , Hiệp ước 9 nước (Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia, Bỉ, Hà Lan, Bồ ĐàoNha, Trung Quốc) và Hiệp ước 5 nước (Anh, Pháp, Mĩ, nhật, Italia)
a) Hiệp ước 4 nước được gọi là Hiệp ước “không xâm lược ở Thái Bình Dương” kí ngày
13-12-1921 và có giá trị trong 10 năm Các bên thoả thuận “tôn trọng quyền của nhau về các đảo
ở vùng Thái Bình Dương” thực ra là cùng nhau bảo vệ các thuộc địa ở khu vực rộng lớn này.Đồng thời cũng nhân dịp này Mĩ gây áp lực với Anh để liên minh Anh - Nhật (được kí kết từ năm1902) không còn hiệu lực nữa (điều 4) Với Hiệp ước này, Mĩ không chỉ thủ tiêu được liên minhAnh - Nhật mà còn trở thành nước đóng vai trò chủ đạo trong bốn cường quốc ở khu vực TháiBình dương
b) Hiệp ước 9 nước kí ngày 6 - 2 - 1922 công nhận nguyên tắc “hoàn chỉnh về lãnh thổ và
tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc” đồng thời nêu nguyên tắc “mở cửa” và “khả năng đồngđều” cho các nước trong các hoạt động thương mại và công nghiệp trên toàn lãnh thổ TrungQuốc Với hiệp ước này, Trung Quốc đã trở thành một thị trường chung của các cường quốcphương Tây và Nhật Bản Đặc biệt là Mĩ đã hợp pháp hoá sự bành trướng của mình vào TrungQuốc
Trang 6c) Hiệp ước 5 nước kí kết cùng ngày 6-2- 1922, được gọi là “Hiệp ước hạn chế vũ trang
và hải quân” nhằm qui định trọng tải tàu chiến của các nước ở khu vực Thái Bình Dương theo tỉlệ: Mĩ và Anh bằng nhau: 525.000 tấn, Nhật: 315.000 tấn, Pháp và Italia bằng nhau: 175.000 tấn.Đồng thời các nước này cũng qui định tỉ lệ về hai loại tàu chở máy bay và tầu tuần dương hạm
Hội nghị Oasinhtơn hoàn toàn có lợi cho Mĩ, trong khi nước Anh phải chấp nhận nhượng bộ:
từ bỏ nguyên tắc “sức mạnh quân sự gấp đôi” đã có từ năm 1914, theo đó hải quân Anh phải có hạm đội bằng hai hạm đội mạnh nhất thế giới cộng lại, đồng thời phải huỷ bỏ liên minh Anh - Nhật Từ đây hải quân Mĩ ngang hàng với Anh và vượt qua Nhật Mĩ còn thực hiện được việc xâm nhập vào thị trường viễn Đông và Trung Quốc thông qua chính sách “mở cửa” Với hệ thống Hiệp ước
Oasinhtơn, Mĩ đã giải quyết quyền lợi của mình bằng cách thiết lập một khuôn khổ trật tự mới ở Châu á - Thái Bình Dương do Mĩ chi phối Kết hợp với hệ thống Hoà ước Vécxai, các hiệp ước của Hội nghị Oasinhtơn đã tạo nên Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn Đó là trật tự thế giới mới mà chủ nghĩa
đế quốc xác lập, trong đó ba cường quốc Anh, Pháp, Mĩ giành được nhiều ưu thế nhất và “7/10 dân
cư thế giới trong tình trạng bị nô dịch” theo cách nói của Lênin Nội bộ phe đế quốc cũng bị phân chia thành những nước thoả mãn và những nước bất mãn với hệ thống này, tạo nên mầm mống của những cuộc xung đột quốc tế trong tương lai Như thế, sau cuộc chiến tranh thế giới kéo dài bốn năm(1914 - 1918) với những tổn thất nặng nề cho toàn nhân loại, hoà bình đã được lập lại trong một thế giới chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất
3 TRẬT TỰ THẾ GIỚI TRONG THẬP NIÊN 20
a) Các hội nghị quốc tế về hoà bình, an ninh tập thể và giải trừ quân bị
Bước vào thập niên 20, nhìn chung các nước tư bản đều bước vào thời kì ổn định và đạtđược sự phát triển nhanh chóng về kinh tế Sự ổn định về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tưbản đã tác động không nhỏ đến chiều hướng phát triển của quan hệ quốc tế Sau Hội nghị vécxai
và Oasinhtơn, hàng loạt các hội nghị quốc tế về các vấn đề hoà bình, an ninh tập thể, giải trừ quânbị đã diễn ra trong khuôn khổ hệ thống Vécxai - Oasinhtơn Một trong những hội nghị quốc tếlớn nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đến lúc bấy giờ là hội nghị quốc tếGiênôvơ (Italia) diễn ra từ 4 -10 đến 19 - 5 - 1922 với sự tham gia của đại biểu 29 nước trên thếgiới (Mĩ không chính thức tham gia mà chỉ cử quan sát viên tham dự) Nước Nga Xô viết lần đầutiên chính thức được mời tham dự Hội nghị bàn về những vấn đề kinh tế - tài chính của tất cả cácnước Châu Âu sau chiến tranh, trong đó “vấn đề Nga” là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất Donhững bất đồng về việc giải quyết những khoản nợ của Nga hoàng và chính phủ lâm thời tư sảnNga, cùng với vấn đề bồi thường chiến tranh cho nước Nga xô viết, Hội nghị Giênôvơ hầu nhưkhông đạt được kết quả đáng kể nào Trong khi đó, bên lề hội nghị Giênôvơ, hai nước Đức vàNga đã kí kết Hiệp ước Rapalô (Rapallo) (16 - 4 - 1922) nhằm khôi phục lại các quan hệ ngoạigiao, cam kết từ bỏ các khoản nợ và bồi thường chiến tranh, đồng thời áp dụng chính sách tối huệquốc cho các quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước
Cuối năm 1922, trước những chuyển biến quan trọng của cuộc chiến tranh giải phóng dântộc ở Thổ Nhĩ Kì, các nước tư bản phương Tây triệu tập một Hội nghị quốc tế ở Lôdan(Lausanne) - (Thuỵ sĩ) để bàn về việc kí kết một hiệp ước hoà bình mới với Thổ Nhĩ Kì và nhữngvấn đề khác liên quan đến các eo biển ở vùng biển Hắc Hải Hội nghị Lôdan, khai mạc ngày 20 -
11 - 1922 với sự tham gia của các quốc gia có liên quan đến những vấn đề khác nhau của hộinghị Liên quan đến vấn đề kí hoà ước mới với Thổ Nhĩ Kì có sự tham gia của các nước Anh,Pháp, ý, Nhật, Rumani, Hi Lạp, Nam Tư và Thổ Nhĩ Kì Hoà ước với Thổ Nhĩ Kì đã xác địnhlãnh thổ của nước này bao gồm vùng Tiểu á và vùng Đông Têsaly (Thessaly) ở phần châu Âu Làmột cường quốc ở vùng biển Hắc Hải, nước Nga xô viết đã kiên quyết đấu tranh để được thamgia vào việc giải quyết vần đề eo biển ở khu vực này cùng với các nước kể trên và các nướcUcraina, Grudia, Bungari Dưới sự chi phối của các nước Anh, Pháp, ý Hiệp ước về eo biểnĐácđanen và Bôxpôrút (Danda nelles và Bosporus) ở vùng biển Hắc Hải đã được ký kết, theo đó
Trang 7vùng eo biển sẽ được phi quân sự hoá và các loại tàu thuyền được tự do qua lại Hiệp ước nàytrên thực tế đã ảnh hưởng đến an ninh của các nước vùng biển Hắc Hải nói chung và nước Nga
xô viết nói riêng Chính vì vậy chính phủ xô viết đã không phê chuẩn hiệp ước này
Để xây dựng một nền an ninh tập thể ở châu Âu trong khuôn khổ hệ thống Vécxai - Oasinhtơn, một hội nghị quốc tế giữa các nước tư bản châu Âu đã được triệu tập ở Lôcácnô(Locarno) - (Anh) từ ngày 5 đến 16 - 10 - 1925 Hội nghị đã đến kí kết hệ thống hiệp ướcLôcácnô, bao gồm: Hiệp ước đảm bảo chung giữa Anh, Pháp, Đức, Italia và Bỉ, các hiệp ướcPháp - Đức, Đức - Bỉ, Đức - Tiệp, Đức - Ba Lan về trọng tài và các hiệp ước đảm bảo Pháp - BaLan và Pháp - Tiệp Các hiệp ước nói trên là sự cam kết đảm bảo đường biên giới giữa các nước
có liên quan theo những điều khoản của Hệ thống Vécxai Đồng thời, cũng tại hội nghị này cácnước đã đi đến thoả thuận đồng ý để nước Đức tham gia Hội Quốc Liên (tuy nhiên phải đến tháng
9 - 1926 Đức mới trở thành viên chính thức của Hội Quốc Liên) Với việc kí kết hệ thống hiệpước Lôcácnô và việc nước Đức tham gia Hội Quốc Liên, mâu thuẫn giữa các cường quốc phươngTây dường như dịu đi và người ta đã nói tới việc mở đầu “một kỉ nguyên xích lại gần nhau trênthế giới”(1) Trong bối cảnh lòng tin vào an ninh tập thể lên đến đỉnh cao, theo sáng kiến củaPháp và Mĩ, ngày 27 - 8 - 1928 tại Pari đã diễn ra lễ ký kết Hiệp ước từ bỏ chiến tranh nói chung,còn được gọi là Hiệp ước Briăng - Kelốtgiơ (Briand - Kellogg) Hiệp ước này đã được nhiềunước trên thế giới hưởng ứng và có tới 57 quốc gia kí kết tham gia, trong đó có Liên Xô Liên Xô
là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn và mong muốn Hiệp ước này sớm có hiệu lực.Mặc dù Hiệp ước Briăng- Kelốtgiơ được đánh giá là “đánh dấu đỉnh cao của làn sóng hoà bìnhtrong thập niên 20,” nhưng thực tế cho thấy việc đặt niềm tin vào hiệp ước này là “một ảo tưởngnguy hiểm” bởi lẽ chỉ vài ngày sau khi kí kết hiệp ước Briăng - Kelốtgiơ, Anh và Pháp đã tiếnhành kí kết ngay một thoả hiệp riêng rẽ vấn đề vũ khí.Những diễn biến tiếp theo trong quan hệquốc tế thập niên 30 sẽ tiếp tục chứng minh điều đó
Trang 8b) Vấn đề thực hiện Hoà ước Vécxai kí với Đức.
Việc thực hiện các điều khoản của Hoà ước Vécxai kí với Đức chiếm một vị trí đặc biệtquan trọng trong quan hệ quốc tế những năm 20 Về vấn đề bồi thường chiến tranh, Hội nghịLuân Đôn ngày 30 - 4 - 1921 đã qui định số tiền bồi thường của Đức là 132 tỉ mác vàng và Đứcbắt đầu phải trả từ mùa hè năm 1921 Tuy nhiên, tình trạng khủng hoảng kinh tế - tài chính trầmtrọng diễn ra ở Đức đã khiến cho nước này không có khả năng thực tế để trả món nợ đó Sau việcliên quân Pháp - Bỉ c hiếm đóng vùng Rua, nơi sản xuất 90% sản lượng than và 70% sản lượnggang của nước Đức, không mang lại hiệu quả trong vấn đề bồi thường của Đức, một Hội nghịquốc tế đã được triệu tập ở Luân đôn để xem xét lại vấn đề này Hội nghị Luân đôn khai mạcngày 16 - 7 - 1924 với sự tham gia của các đại diện Anh, Pháp, Italia, Nhật, Bỉ, Bồ Đào Nha, HyLạp, Rumani, và Mĩ (về danh nghĩa Mĩ chỉ tham gia với một số quyền hạn chế nhưng trên thực tế
Mĩ có ảnh hưởng lớn trong Hội nghị) Hội nghị Luân Đôn đã thông qua kế hoạch Đâuét (Dawes)
có giá trị trong vòng 5 năm với nội dung chủ yếu là Mĩ và Anh sẽ giúp đỡ Đức trong việc phụchồi và phát triển kinh tế - tài chính để nước này có khả năng trả được các khoản bồi thường chiếntranh theo lịch trình được Uỷ ban 5 nước Anh, Pháp Mĩ, Italia qui định như sau:
Năm thứ nhất trả 1 tỉ mác vàng
Năm thứ hai: 1,22 tỉ mác vàng
Năm thứ 3: 1,2 tỉ mác vàng
Năm thứ tư: 1,75 tỉ mác vàng
Từ năm thứ năm: mỗi năm 2,5 tỉ mác vàng
Với kế hoạch Đâuét, Pháp đã phải có những nhượng bộ quan trọng đối với Đức: Phápphải rút khỏi vùng Rua (năm 1925), trong khi đó Mĩ và Anh có điều kiện mở rộng ảnh hưởng vềkinh tế - tài chính vào nước Đức Kế hoạch Đâuét đã góp phần quan trọng vào việc phục hồi vàphát triển kinh tế Đức Những trận “mưa đô la” từ Mĩ và Anh qua kế hoạch này đã tạo điều kiệntrang bị những kĩ thuật hiện đại và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Đức Năm 1929,tổng sản lượng công nghiệp Đức đạt 113% mức trước chiến tranh, vượt qua Anh, Pháp Cũngtrong năm 1929, kế hoạch Đâuét lại được điều chỉnh theo hướng giảm bớt gánh nặng bồi thườngchiến tranh cho Đức Sau một thời gian dài thảo luận, tháng 8 - 1929, Hội nghị quốc tế của 12nước tư bản họp ở La Hay đã chính thức thông qua kế hoạch yơng Theo đó số tiền bồi thườngcủa Đức giảm xuống còn 113,9 tỉ mác vàng và được trả trong thời hạn kéo dài tới 60 năm, đồngthời quân đội chiếm đóng của Pháp, Bỉ sẽ phải rút khỏi vùng Rênani trước ngày 30 - 6 - 1930.Đến đây, uỷ ban bồi thường đã chấm dứt hoạt động, thay vào đó Ngân hàng thanh toán quốc tế sẽchịu trách nhiệm theo dõi việc trả tiền bồi thường chiến tranh của Đức Như vậy, nhờ sự hà hơitiếp sức của Anh và Mĩ với ý đồ sử dụng Đức như một con đập ngăn làn sóng cách mạng có khảnăng tràn sang phía Tây từ Liên Xô, chỉ trong một thời gian ngắn nước Đức chẳng những đã phụchồi nhanh chóng mà còn tăng cường tiềm lực kinh tế - quân sự của mình
Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước Xô viết non trẻ đã tuyên bố với thế giới một chính sáchđối ngoại hoà bình trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ giữacác quốc gia Ngay trong đêm 26 - 10 - 1917, vào lúc 23 giờ, tại phiên họp thứ hai Đại hội II các
Xô viết toàn Nga, Sắc lệnh hoà bình đã được thông qua Với Sắc lệnh này, Nhà nước Xô viếttuyên bố “Chiến tranh đế quốc là tội ác lớn nhất chống lại loài người” và “đề nghị nhân dân tất cảcác nước tham chiến và các chính phủ của họ tiến hành ngay những cuộc đàm phán về một hoàước dân chủ và công bằng mà tuyệt đại đa số quần chúng công nhân, các giai cấp cần lao bị chiếntranh làm cho kiệt quệ, khốn đốn và vô cùng đau khổ trong các nước tham chiến, đang khaokhát”(2) Đồng thời, trong công hàm gửi tới Đại sứ của các nước Đồng minh ở Nga ngày 8 - 11 -
1917, Chính phủ Xô viết “một lần nữa khẳng định về đề nghị ngừng bắn và ký kết một hoà ước
Trang 9dân chủ, không có thôn tính và bồi thường trên cơ sở quyền tự quyết của các dân tộc”(3) Tuynhiên, các Chính phủ Anh, Pháp, Mĩ đã bác bỏ đề nghị hoà bình và quyết định không quan hệ vớichính quyền Xô viết Mong muốn tiến hành các cuộc thương lượng chung và kí một hoà ướcchung không được thực hiện, ngày 20 - 11 - 1917 phái đoàn hoà bình của Chính phủ Xô viết đã kíkết Hiệp định đình chiến với đoàn đại biểu khối áo - Đức với thoả thuận ngừng bắn trong 10ngày Ngay sau đó Bộ dân uỷ ngoại giao Xô viết đã gửi lời kêu gọi tới các nước Đồng minh và
Mĩ nêu rõ, “cuộc ngừng bắn tạo cơ hội cuối cùng cho các nước đồng minh tham gia các cuộc đàmphán tiếp tục và do đó tránh được mọi hậu quả của một hoà ước riêng rẽ giữa nước Nga với cácnước đối địch”(1) Nhưng lời kêu gọi đó không được đáp ứng.Trong bối cảnh đó, Lênin chủtrương phải kí ngay hoà ước, nhưng Trôtxki - trưởng phái đoàn đàm phán của Nga tại Brét-LiốpBrest - Litovsk) đã không tán thành chủ trương của Lênin Cuộc đàm phán tan vỡ và quân Đức lạibắt đầu các cuộc tấn công quân sự, đặt nước Nga Xô viết vào một tình thế cực kì khó khăn Saunhững diễn biến căng thẳng và phức tạp của tình hình chiến sự, ngày 3 - 3 - 1918 Hoà ước Brét -Litốp đã được kí kết với những điều kiện hết sức nặng nề đối với nước Nga Theo đó, nước Ngaphải cắt đi một bộ phận lãnh thổ rộng lớn (diện tích 750.000 km2 với hơn 50 triệu dân, bao gồm
Ba Lan, Látvia, Lítva, Extônia, Bêlarut, Ucraina, Phần Lan) và phải trả khoản tiền bồi thường 6 tỉmác cho Đức Lênin gọi đây là “một hoà ước bất hạnh”, nhưng nhờ đó mà nước Nga đã rút rakhỏi cuộc chiến tranh đế quốc để đương đầu với những thử thách ác liệt nhằm bảo vệ chínhquyền Xô viết non trẻ Sau này do kết quả của cuộc Cách mạng tháng 11 - 1918 và sự sụp đổ củachính quyền quân chủ ở Đức, nước Nga Xô viết đã tuyên bố xoá bỏ Hoà ước Bret - Litốp, đúngnhư những dự đoán của Lênin
Cũng trong thời gian này, các nước đế quốc đã tập hợp lực lượng, phối hợp hành động vớimưu đồ bóp chết nước Nga Xô viết Cuối tháng 11 - 1917 đại diện của các nước đế quốc, trong đóbốn nước Mĩ, Anh, Pháp, Nhật giữ vai trò chủ yếu, đã họp tại Pari để bàn bạc về biện pháp thực hiệnmưu đồ đó Một tháng sau, ngày 22 - 12 - 1917 cũng lại diễn ra một hội nghị kiểu như vậy tại Pari.Đại diện các nước tư bản đã thông qua nghị quyết không công nhận nước Nga Xô viết, thoả thuận vềviệc ủng hộ cho các lực lượng phản cách mạng ở Nga và phân chia nước Nga thành các khu vực ảnh
Trang 10hưởng của mình Theo đó, Anh sẽ nắm quyền kiểm soát vùng Cápcadơ, Acmênia, Grudia và vùngsông Đông; Pháp chiếm Betxarabia, Crưm và Ucraina; Mĩ và Nhật nắm khu vực Xibia và ViễnĐông Tháng 12 - 1917, quân đội Rumani (được Pháp hỗ trợ) đã chiếm Betxarabia Đầu năm 1918,quân đội Anh, Pháp, Mĩ đổ bộ lên hải cảng Muốcmăngxcơ ; quân đội Nhật, sau đó là Mĩ chiếmVơlađivôxtốc ; quân Anh kéo đến Tuốcmênixtan và Ngoại Cápcadơ Bộ chỉ huy tối cao các nướcHiệp ước còn sử dụng 60 ngàn binh lính của Quân đoàn Tiệp Khắc để chống phá nước Nga Xô viết.Tháng 5 - 1918, Quân đoàn Tiệp Khắc cùng với các thế lực phản cách mạng nổi loạn, chiếm đượctoàn bộ vùng Xibia rộng lớn và nhiều thành phố dọc sông Vônga như Xamara, Xim biếc, Cadan Tình hình lại càng khó khăn hơn do việc quân Đức chiếm đóng vùng lãnh thổ rộng lớn chiếm tới hơn90% sản lượng than, 70% sản lượng sắt và 1/3 chiều dài đường sắt của cả nước (theo các điều khoảncủa Hoà ước Brét - Litốp) Với việc cung cấp vũ khí cho các đội quân Bạch vệ, quân Đức đã cùngcác nước đế quốc tham gia chống phá nước Nga Từ năm 1919, sau khi chiến tranh thế giới kết thúc,các nước đế quốc tăng cường can thiệp và giúp đỡ các lực lượng phản cách mạng ở Nga Tính đếntháng 2 - 1919 quân đội can thiệp có mặt ở Nga đã lên đến con số 300.000 (trong đó ở miền Nam:130.000, Viễn Đông: 150.000, miền Bắc: 20.000) Trải qua ba năm chiến đấu cực kì gian khổ vàkhốc liệt, quân đội và nhân dân Xô viết đã lần lượt đánh bại các lực lượng thù trong, giặc ngoài, giữvững nền độc lập, tự chủ của đất nước Cũng trong thời gian này, trung thành với những nguyên tắccủa Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc ở Nga (công bố ngày 2 - 11 - 1917), Nhà nước Xô viết đãcông nhận quyền tách ra của Ucraina, công nhận độc lập của Phần Lan, Ba Lan ; xoá bỏ mọi hiệpước bất bình đẳng của Chính phủ Nga hoàng trước đây đối với Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kì, Ba Tư(Iran) và nhiều nước khác Trong quan hệ quốc tế, Chính phủ Xô viết đã phản đối gay gắt tính chất
nô dịch của các hoà ước, nhất là Hoà ước Vécxai Lênin cho rằng: “Đấy không phải là hoà ước, đấy
là những điều kiện mà bọn ăn cướp tay cầm dao, buộc nạn nhân không có gì tự vệ phải chấpnhận”(1) Trong lúc các cường quốc phương Tây thi hành chính sách thù địch, bác bỏ sự tham dựcủa nước Nga Xô viết tại hai Hội nghị Vécxai và Oasinhtơn, ngày 28 - 11 - 1921, Chính phủ Xô viết
đã gửi công hàm tới các chính phủ Anh, Pháp, Mĩ, ý, Nhật nêu rõ những nguyên tắc cùng tồn tại hoàbình của nước Nga với phần còn lại của thế giới Năm 1922 lần đầu tiên được mời chính thức tham
dự Hội nghị quốc tế Giênôvơ, đoàn đại biểu Xô viết đã đưa ra đề nghị về việc thiết lập các quan hệngoại giao và kinh tế, thực hiện chung sống hoà bình và tiến hành giải trừ quân bị Nước Nga sẵnsàng bình thường hoá quan hệ với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ của nhau, hợp tác cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình Hội nghị Giênôvơ thất bại, tuyvậy việc Nga và Đức ký kết Hiệp ước Rapalô đã giáng một đòn chí mạng vào âm mưu bao vây, côlập nước Nga của các cường quốc phương Tây, đồng thời đánh dấu một thắng lợi ngoại giao cực kỳquan trọng của Nhà nước Xô viết Đức trở thành nước phương Tây đầu tiên thiết lập quan hệ ngoạigiao với nước Nga Những năm tiếp theo, nước Nga Xô viết (từ tháng 12 - 1922 là Liên Xô) đã từngbước phá vỡ chính sách cô lập của các nước phương Tây và khẳng định vị trí quốc tế của mình SauĐức, Anh là nước tư bản thứ hai ở châu Âu thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Liên Xô ngày
2 - 2 - 1924 Sau Anh 5 ngày, Italia tuyên bố công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thứcvới Liên Xô (7 - 2 - 1924) Tháng 10 - 1924, sau khi vượt qua không ít những bất đồng trong nội bộ,chính phủ Pháp cuối cùng cũng chính thức công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô.Cũng trong năm 1924, nhiều nước khác cũng công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô:NaUy (13 - 2), áo (25 - 2), Hi Lạp (8 - 3), Đan Mạch (18 - 6), Anbani (6 - 7), Hunggari (5-9) ởchâu á, ngày 31-5-1924, đại diện chính phủ Liên Xô và chính phủ Bắc Kinh đã chính thức kí kếtHiệp ước Xô - Trung, theo đó Trung Quốc công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô.Đồng thời Liên Xô cũng tuyên bố từ bỏ tất cả những đặc quyền mà chính phủ Nga hoàng trước đây
đã buộc Trung Quốc phải kí kết Sau Trung Quốc, ngày 25 - 1 - 1925, Nhật Bản - một cường quốc ởchâu á - đã chính thức bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Liên Xô Như vậy, trải qua hơn 7năm tồn tại và khẳng định vị thế của mình, Liên Xô đã được hơn 20 quốc gia trên thế giới, trong đó
có các cường quốc Anh, Pháp, Italia, Nhật chính thức công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao.Mặc dù mối quan hệ này còn phải trải qua nhiều bước thăng trầm đầy khó khăn, căng thẳng nhưngthực tế đã khẳng định vai trò, uy tín ngày càng cao của Liên Xô và những thắng lợi to lớn của nềnngoại giao Xô viết non trẻ
Trang 11Trước hết, chúng ta cần nắm được những nét khái quát về tình hình quốc tế những nămcuối thập niên 20, đầu thập niên 30 Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) bùng nổ
đã chấm dứt thời kì ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỷ nguyên hoà bìnhcủa thế giới Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ ngày 24 - 10 - 1929, đã nhanh chóng trànsang châu Âu, bao trùm toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa, để lại những hậu quả nghiêm trọng vềkinh tế, chính trị, xã h ội Hàng trăm triệu người (công nhân, nông dân và gia đình của họ) bị rơivào vũng lầy đói khổ Hàng ngàn cuộc biểu tình lôi cuốn trên 17 triệu công nhân ở các nước tưbản tham gia trong những năm 1929 - 1933 ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, cuộc đấu tranhgiành độc lập dân tộc cũng bùng lên mạnh mẽ Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nêncực kì gay gắt Trong bối cảnh đó đã hình thành những xu hướng khác biệt nhau trong việc tìmkiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản chủ nghĩa Các nước không có hoặc có ít thuộcđịa gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu và thị trường đã đi theo con đường phát xít hoá chế
độ chính trị, thiết lập nền chuyên chính khủng bố công khai nhằm cứu vãn tình trạng khủnghoảng nghiêm trọng của mình Các nước Italia, Đức, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này.Trong những năm 1929 - 1936, giới cầm quyền các nước nói trên đã từng bước phá vỡ nhữngđiều khoản chính yếu của hệ thống Vécxai - Oasinhtơn và tích cực chuẩn bị cuộc chiến tranh đểphân chia lại thế giới Trong khi đó các nước Mỹ, Anh, Pháp đã tìm cách thoát ra khỏi khủnghoảng bằng những cải cách kinh tế - xã hội , duy trì nền dân chủ tư sản đại nghị, đồng thời chủtrương duy trì nguyên trạng hệ thống Vécxai - Oasinhtơn Quan hệ giữa các cường quốc tư bảntrong thập niên 30 chuyển biến ngày càng phức tạp Sự hình thành hai khối đối lập - một bên làĐức, Italia, Nhật Bản với một bên là Mĩ, Anh, Pháp và cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối đãphá vỡ hệ thống thoả hiệp tạm thời Vecxai - Oasinhtơn dẫn tớ i sự hình thành các lò lửa chiếntranh, báo hiệu một cuộc chiến tranh thế giới mới
a) Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông
Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá vỡ hệ thống Vecxai - Oasinhtơn bằng sứcmạnh quân sự Từ năm 1927 Thủ tướng Nhật Tanaca đã vạch một kế hoạch chiến tranh toàncầu đệ trình lên Thiên hoàng dưới hình thức bản “tấu thỉnh”', trong đó khẳng định phải dùngchiến tranh để xoá bỏ những “bất công mà Nhật phải chấp nhận” trong các Hiệp ướcOasinhtơn (1921 - 1922) và đề ra kế hoạch cụ thể xâm lược Trung Quốc, từ đó mở rộng xâmlược toàn thế giới Sau hai lần thất bại trong việc xâm lược vùng Sơn Đông (Trung Quốc),ngày 18 - 9 - 1931 Nhật Bản tạo ra “Sự kiện đường sắt Nam Mãn Châu” để lấy cớ đánh chiếmvùng Đông Bắc Trung Quốc, nơi tập trung 77% tổng số vốn của Nhật ở Trung Quốc Đây làbước đầu tiên trong kế hoạch xâm lược đại qui mô của Nhật Sau khi chiếm vùng này, quânNhật dựng lên cái gọi là “Nhà nước Mãn Châu độc lập” với chính phủ bù nhìn do Phổ Nghiđứng đầu, biến vùng Đông Bắc Trung Quốc thành thuộc địa và bàn đạp cho những cuộc phiêu
l ưu quân sự mới
Trang 12Việc Nhật Bản xâm lược Đông Bắc Trung Quốc đã động chạm đến quyền lợi của các nước tư bảnphương Tây, nhất là Mĩ Tuy nhiên Mĩ cũng như Anh, Pháp đã nhân nhượng, dung túng cho hànhđộng xâm lược của Nhật với tính toán rằng Nhật sẽ tiêu diệt phong trào cách mạng ở Trung Quốc
và tiến hành chiến tranh xâm lược Liên Xô Điều đó đã làm cho Nhật bỏ qua mọi phản đối củaphái đoàn điều tra Líttơn (Lytton) do Hội Quốc liên cử đến Trung Quốc Ngày 24 - 2 - 1933 HộiQuốc liên đã thông qua Báo cáo công nhận chủ quy ền của Trung Quốc ở Mãn Châu, không côngnhận “nước Mãn Châu” do Bộ tham mưu Nhật dựng lên nhưng mặt khác lại đề nghị duy trì
“những quyền lợi đặc biệt của Nhật” ở Trung Quốc Như vậy, Hội Quốc liên đã không công khaituyên bố “hành động của Nhật là xâm lược và không quyết định một hình phạt nào đối với Nhật.Trước sức mạnh quân sự, Hội Quốc liên đã sử dụng sức mạnh tinh thần Phương pháp đó khôngđem lại kết quả nào”(1) Nhật Bản tiếp tục mở rộng xâm lược Trung Quốc, chiếm đóng hai tỉnhNhiệt Hà và Hà Bắc Để có thể tự do hành động, ngày 24 - 3 - 1933 Nhật Bản tuyên bố rút khỏiHội Quốc liên Hành động của Nhật đã phá tan nguyên trạng ở Đông á do Hiệp ước Oasinhtơnnăm 1922 qui định, đánh dấu sự tan vỡ bước đầu của Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn Không dừnglại ở đó, năm 1937 Nhật bắt đầu mở rộng chiến tranh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc
b) Sự hình thành lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu
Trong lúc đó, lò lửa chiến tranh thế giới nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu Âu với việcHitle lên cầm quyền ở Đức tháng 1 - 1933 Có thể nói, lực lượng quân phiệt Đức đã nuôi chí phụcthù ngay từ sau khi nước Đức bại trận và phải chấp nhận hoà ước Vécxai Bước vào thập niên 30,
sự sụp đổ của chính phủ Muylơ (Muler) - chính phủ cuối cùng của nền Cộng hoà Vaima (Weimar)
- và việc Bơruyninh (Bruning) lên nắm chính quyền đầu năm 1930 đánh dấu một thời kì chuyểnbiến mới trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Đức Xu hướng thành lập một chínhquyền ''mạnh'', một nền chuyên chính dân tộc chủ nghĩa cực đoan đã trở thành nhu cầu cấp thiếtcủa giới quân phiệt ở Đức Đảng Quốc xã được coi là lực lượng thực tế có thể đáp ứng được nhucầu đó và Hítle được coi là “người hùng” có thể ngăn chặn được “tình trạng hỗn loạn và chủ nghĩabônsêvích” Ngày 30-1-1933 Tổng thống Hinđenbua (Hindenburg) đã cử Hitle, lãnh tụ của ĐảngQuốc xã làm Thủ tướng, mở đầu một thời kỳ đen tối trong lịch sử nước Đức
Trang 13Việc Hitle lên cầm quyền không chỉ là một sự kiện thuần tuý của nước Đức, mà còn “đánhdấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử quan hệ quốc tế” Bởi lẽ, “đối mặt với Hítle, chủnghĩa “xoa dịu” của Anh, sự trì trệ của Pháp và chủ nghĩa trung lập của Mỹ là những hiện tượngtiêu biểu nhất của thời kỳ tiếp theo”(1) Từ đây Hítle thực hiện dần từng bước việc thanh toán hệthống Véc-xai và chuẩn bị chiến tranh thế giới mới nhằm thiết lập quyền thống trị thế giới
Bước đầu tiên trong kế hoạch của Hítle là chinh phục châu Âu, trong đó chủ yếu là chiếmđoạt các vùng lãnh thổ ở phía đông châu Âu, trước hết là Nga và các vùng phụ cận Nga Tuy nhiên,Hítle cũng không loại trừ một cuộc chiến tranh với phương Tây để xâm chiếm lãnh thổ phía tây màtrong đó nước Pháp được coi là “kẻ thù truyền thống” Hítle còn đề ra kế hoạch Âu - á (Eurasia) và
Âu - Phi (Eurafrica) nhằm xâm chiếm lãnh thổ của các nước châu Phi, châu á và châu Mĩ Việc làmđầu tiên của Hítle sau khi lên nắm quyền là tái vũ trang nước Đức và thoát khỏi những ràng buộcquốc tế để chuẩn bị cho những hành động xâm lược Tháng 10 - 1933 Chính phủ Đức quốc xã đãrời bỏ Hội nghị giải trừ quân bị ở Giơnevơ và sau đó tuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên Ngày 16 - 3
- 1935, Hítle công khai vi phạm Hoà ước Véc-xai, công bố đạo luật cưỡng bức tòng quân, thànhlập 36 sư đoàn (trong lúc đó Pháp chỉ có 30 sư đoàn) Ba tháng sau, ngày 18 - 6 - 1935 Đức kí vớiAnh Hiệp định về hải qu ân, theo đó Đức được phép xây dựng hạm đội tàu nổi bằng 35% và Hạmđội tàu ngầm bằng 45% sức mạnh hải quân của Anh Hiệp định này trực tiếp vi phạm Hiệp ướcVec-xai và tăng cường sức mạnh quân sự của nước Đức Đồng thời, Hitle tìm cách bí mật thủ tiêucác chính khách phương Tây cản trở kế hoạch xâm lược của mình, như Thủ tướng Rumani Đuca,Ngoại trưởng Pháp Bác tu, nhà vua Nam Tư Alếchxanđrơ và thủ tướng áo Đônphút Không dừnglại ở đó, ngày 7 - 3 - 1936 Hitle ra lệnh tái chiếm vùng Rênani, công khai xé bỏ Hoà ước Vecxai,
Trang 14Hiệp ước Lôcácnô và tiến sát biên giới nước Pháp Lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất đã xuất hiện
ở châu Âu
c) Lò lửa chiến tranh thứ hai ở châu âu
Mặc dù là nước thắng trận nhưng Italia không thoả mãn với việc phân chia thế giới theoHoà ước Vecxai Tham vọng của nước này là muốn mở rộng ảnh hưởng ở vùng Ban căng, chiếmđoạt các thuộc địa ở châu Phi, làm chủ vùng biển Địa Trung Hải Để thoát ra khỏi cuộc đại khủnghoảng kinh tế 1929-1933 và xem xét lại Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn có lợi cho mình, giới cầmquyền phát xít ở Italia chủ trương quân sự hoá nền kinh tế, tăng cường chạy đua vũ trang và thựchiện chính sách bành trướng xâm lược ra bên n goài Thất bại trong việc ký kết Hiệp ước tay tư(Italia - Anh - Đức - Pháp) nhằm xem xét lại đường biên giới đã qui định ở châu Âu trong khuônkhổ Hệ thống hoà ước Vecxai tháng 6 - 1933, từ năm 1934 Mutxôlini ráo riết chuẩn bị kế hoạchxâm lược, thi hành đạo luật quân sự hoá đất nước Lúc này quan hệ giữa Italia với Đức còn căngthẳng do mâu thuẫn về quyền lợi ở vùng Ban căng Khi Đức đưa ra đạo luật cưỡng bách tòng quân(3 - 1935), Italia đã kí kết với Anh, Pháp Hiệp ước Xt rêxa (Stresa) tháng 4 - 1935 nhằm thiết lậpliên minh chống Đức Nhưng liên minh này đã nhanh chóng tan vỡ bằng việc Anh kí với Đức mộthiệp ước riêng rẽ về hạn chế lực lượng hải quân (6 - 1935) và sự kiện Italia chính thức xâm lượcÊtiôpia ngày 3 - 10 - 1935 Bốn ngày sau sự kiện này, ngày 7 - 10 - 1935 Hội Quốc Liên ra tuyên
bố lên án Italia và thông qua nghị quyết trừng phạt bằng những biện pháp kinh tế - tài chính Tuynhiên, “lệnh trừng phạt chỉ làm Italia bực mình chứ không thực sự ngăn cản họ tiếp tục các chiếndịch”(1) Nh ững sự kiện trên đây đã khiến Mútxôlini rời bỏ liên minh Anh, Pháp, xích lại gần hơnvới nước Đức phát xít Trong khi đó, sự bất lực của Hội Quốc liên cùng với thái độ và hành độngthoả hiệp của các nước Anh, Pháp, Mỹ đã khuyến khích hành động xâm lược của phát xít Italia.Sau khi chiếm được Êtiôpia, Italia đã ký với Đức Nghị định thư tháng 10 - 1936, đánh dấu sự hìnhthành trục Beclin - Rôma Bắt đầu từ đây, Đức và Italia tìm cách phối hợp và củng cố liên minhtrong cuộc đối đầu với Liên Xô cũng như các đối thủ khác ở châu Âu Cả hai nước đều đưa quânđội can thiệp trực tiếp và công nhận chính quyền phát xí t Phrancô trong cuộc nội chiến ở Tây BanNha (1936 - 1939)
Trang 15Hai lò lửa chiến tranh hình thành ở châu Âu bắt đầu có mối liên hệ với lò lửa chiến tranh
ở Viễn Đông Ngày 25 - 11 - 1936, Đức và Nhật đã kí kết Hiệp ước chống Quốc tế cộng sản vớinhững cam kết phối hợp các hoạt động chính trị đối ngoại và các biện pháp cần thiết để chốngLiên Xô và Quốc tế cộng sản, đồng thời còn nhằm chống cả Anh, Pháp và Mĩ Italia tham giaHiệp ước này ngày 6 - 11 - 1937 Sự kiện đó đánh dấu Trục phát xít Béclin - Rôma - Tôkiô chínhthức hình thành Việc Italia rút ra khỏi Hội Quố c Liên ngày 3 - 12 - 1937 đã hoàn tất quá trìnhchuẩn bị để các nước khối Trục được tự do hành động, thực hiện kế hoạch gây chiến tranh bànhtrướng lãnh thổ của mình
Vào cuối những năm 30 quan hệ quốc tế trở nên vô cùng phức tạp và căng thẳng Sựchuyển hoá mâu thuẫn giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới sự hình thành hai khối đếquốc đối địch nhau: một là, khối Trục phát xít do Đức, Italia, Nhật Bản cầm đầu ; hai là, khối đếquốc do Anh, Pháp, Mĩ cầm đầu Trong khi khối Trục phát xít đã ráo riết chuẩn bị cho kế hoạchchiến tranh từ đầu những năm 30 thì khối đế quốc Anh, Pháp, Mĩ bắt đầu quá trình này vàonhững năm cuối của thập ni ên 30 Hai khối đế quốc mâu thuẫn gay gắt với nhau về vấn đề thịtrường và quyền lợi nhưng đều thống nhất với nhau trong mục đích chống Liên Xô, tiêu diệt Nhànước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới Điều đó được thể hiện trong chính sách thoả hiệp,dung túng của các cường quốc tư bản với chủ nghĩa phát xít nhằm chống Liên Xô và đè bẹpphong trào cách mạng thế giới Như vậy trong quan hệ quốc tế đã diễn ra cuộc đấu tranh ngàycàng căng thẳng và chằng chéo giữa ba lực lượng: Liên Xô, Khối Trục phá t xít và Khối đế quốcAnh, Pháp, Mĩ Các cuộc chiến tranh cục bộ đã lan tràn khắp từ Âu sang á, từ Thượng Hải đếnGibranta Chiến tranh thế giới ngày càng trở nên khó tránh khỏi
a) Cuộc chiến tranh Tây Ban Nha
Cuộc chiến tranh Tây Ban Nha, bùng nổ ngày 17 - 7 - 1936, về hình thức là cuộc nội chiếngiữa Chính phủ cộng hoà Tây Ban Nha với lực lượng phát xít Phrancô, nhưng về thực chất là mộtcuộc khủng hoảng mang tính quốc tế Vấn đề không chỉ giới hạn trong nội bộ nền chính trị TâyBan Nha Đức và Italia đã trực tiếp can thiệp, đứng về phía phát xít Phrancô chống lại Chính phủCộng hoà với mưu đồ biến Tây Ban Nha thành một bàn đạp chiến lược cho kế hoạch bành trướngcủa mình ở châu Âu, châu Phi, châu á và Đại Tây Dương Trong bối cảnh đó, các chính phủ Anh,Pháp đã thi hành chính sách “không can thiệp” tuyên bố cấm xuất khẩu vũ khí và vật liệu chiến
Trang 16tranh sang Tây Ban Nha Ngày 9 - 9 - 1936, “Uỷ ban về vấn đề không can thiệp” được thành lập.
Mĩ không chính thức tham gia vào Uỷ ban này nhưng trên thực tế cũng duy trì lệnh cấm vận vũ khíđối với Tây Ban Nha Trong khi không áp dụng một biện pháp cần thiết nào để ngăn chặn sự canthiệp trực tiếp của Đức và Italia ở Tây Ban Nha, chính sác h “không can thiệp” của Anh, Pháp, Mĩ
về thực chất là hành động thoả hiệp với các lực lượng phát xít chống nước Cộng hoà Tây Ban Nha.Hơn nữa, các công ti độc quyền của Anh, Pháp, Mĩ vẫn tiếp tục có quan hệ thương mại và tài chínhvới lực lượng phát xít Phrancô Cuối cùng, các chính phủ Anh, Pháp đã công khai ủng hộ quânphiến loạn Phrancô, lực lượng đã chiếm ưu thế rõ rệt ở Tây Ban Nha vào năm 1939
Ngày 10 - 2 - 1939, hải quân Anh đã hỗ trợ cho lực lượng phiến loạn chiếm đảo Minôca(Minorca) nằm trong quần đảo Balêric (Balearic) Ngay sau đó, chính phủ Pháp đã gửi tối hậu thưcho Chính phủ Cộng hoà Tây Ban Nha với yêu cầu giao nộp Mađrít và các vùng lãnh thổ khác cholực lượng Phrancô Ngày 27 - 2 - 1939, Anh và Pháp đồng thời cắt đứt quan hệ ngoại giao vớiChính phủ cộng hoà Tây Ban Nha và tuyên bố công nhận chính quyền Phrancô Liên Xô là nướcđứng về phía nước Cộng hoà Tây Ban Nha trong cuộc đấu tranh chống phát xít Mặc dù lúc đầuLiên Xô đã tham gia Uỷ ban về các vấn đề không can thiệp, nhưng sự can thiệp quân sự của Đức
và Italia đã khiến Liên Xô phải hành động Cả đất nước Xô viết tham gia phong trào ủng hộ nướcCộng hoà Tây Ban Nha: số tiền quyên góp đã lên tới 47 triệu rúp Đồng thời, Liên Xô còn tham giatrong lực lượng tình nguyện quốc tế chiến đấu bảo vệ nước Cộng hoà đến từ 53 nước trên thế giới.Tuy vậy, do so s ánh lực lượng quá chênh lệch, cuộc chiến tranh Tây Ban Nha kết thúc với thất bạicủa Chính phủ Cộng hoà Ngày 28 - 3 - 1939, lực lượng Phrancô với sự hỗ trợ của quân đội Italia
đã chiếm thủ đô Mađrít Sự sụp đổ của nền Cộng hoà Tây Ban Nha cho thấy mối đe doạ đối vớinền hoà bình ở châu Âu ngày càng trở nên trầm trọng hơn
b) Hội nghị Muyních (9 - 1938)
Đến năm 1938 nước Đức phát xít về căn bản đã hoàn tất việc chuẩn bị chiến tranh Lúc nàynước Đức không chỉ phục hồi mà đã trở thành một cường quốc công nghiệp đứng đầu châu Âu,đồng thời còn là một cường quốc quân sự Tháng 3-1938, Đức tiến hành thôn tính áo và thông quađạo luật sáp nhập áo vào Đức, vi phạm trắng trợn Hệ thống Hoà ước Vecxai Hành động ngangngược của Hitle đã không gặp phải trở ngại nào đáng kể từ phía các cường quốc tư bản phươngTây Chính phủ Anh chỉ thị kh ông được khuyến khích áo kháng cự, trong khi Pháp chỉ có nhữngphản ứng yếu ớt Sau khi chiếm áo, Đức chuẩn bị thôn tính Tiệp Khắc, một vị trí đặc biệt quantrọng trong kế hoạch giành quyền thống trị lục địa châu Âu Để thôn tính Tiệp Khắc, Hitle đưa ra
“vấn đề người Đức ở vùng Xuyđét” (Sudete) - vùng đất ở Tây Bắc Tiệp Khắc, có khoảng 3,2 triệungười Đức cư trú Sau những diễn biến phức tạp và căng thẳng, Hitle đưa ra yêu sách về việc cắt
Trang 17vùng Xuyđét ra khỏi Tiệp Khắc và khẳng định đây là yêu sách cuối cùng về lãnh thổ của y ở châu
Âu Tiếp tục chính sách thoả hiệp, các cường quốc tư bản phương Tây đã gây áp lực thúc ép TiệpKhắc chấp nhận những yêu sách của Hítle Điều này đã gây nên một làn sóng phản đối trong dưluận quốc tế, kể cả ở anh, Pháp, Tiệp Khắc và Liên Xô Liên Xô đã nhiều lần khẳng định sẵn sànggiúp đỡ Tiệp Khắc và đưa ra những biện pháp cụ thể trong Hội nghị liên tịch giữa Bộ tổng thammưu Liên Xô, Pháp và Tiệp Khắc Đồng thời, Liên Xô đã tập trung quân ở biên giới phía Tây vàđặt quân đội trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu Liên Xô cũng đề nghị Hội Quốc Liên th ảo luậnnhững biện pháp để bảo vệ Tiệp Khắc, nhưng tất cả những đề nghị đó đều bị các chính phủ Anh,Pháp gạt bỏ
Ngày 29 - 9 - 1938, những người đứng đầu các chính phủ Anh, Pháp, Đức và Italia đã tham
dự Hội nghị Muyních (Đức) để quyết định số phận của Tiệp Khắc Đại biểu Tiệp Khắc không đượcmời tham dự, chỉ được triệu tập đến để nghe kết quả Hiệp ước Muyních qui định Tiệp Khắc phảicắt toàn bộ vùng Xuyđét (trong vòng 10 ngày) cho Đức và phải cắt cho Ba Lan, Hunggari nhữngvùng lãnh thổ đã được xác định trước đó (trong thời hạn 3 tháng) Trước áp lực của Anh và Pháp,chính phủ Tiệp Khắc chấp nhận Hiệp ước Mu yních, theo đó, Tiệp Khắc mất đi khoảng 1/4 dân số,1/5 lãnh thổ với nhiều công trình quân sự quan trọng Để đổi lại, Hítle đã kí với Anh bản Tuyên bốkhông xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Anh Sau đó, ngày 6 - 12 - 1938, Hiệp định không xâm lượcPháp - Đức cũng được kí kết tại Pari Hiệp ước Muyních là đỉnh cao nhất của chính sách thoả hiệp
mà các cường quốc tư bản phương Tây thi hành trong nhiều năm nhằm tránh một cuộc chiến tranhvới nước Đức phát xít và chĩa mũi nhọn chiến tranh về phía Liên Xô “C hính sách Muyních” đãdẫn đến những hậu quả rất nặng nề đối với chính bản thân hai nước Anh và Pháp Sự thoả hiệp đầuhàng của các nước này chỉ càng làm cho nước Đức phát xít đi xa hơn nữa trong chính sách mởrộng chiến tranh Ngày 15 - 3 - 1939, Hítle công khai xé bỏ Hiệp ước Muyních chiếm đóng toàn bộlãnh thổ Tiệp Khắc Sau đó một tuần, ngày 21 - 3 Hítle đưa ra yêu sách đòi Ba Lan phải trao thànhphố cảng Đăng dích cho Đức Một ngày sau quân đội Đức tràn vào chiếm vùng lãnh thổ Mêmencủa Litva Đồ ng thời, kế hoạch xâm lược Ba Lan cũng được chuẩn bị ráo riết
Trang 18Trong lúc này phát xít Italia cũng tăng cường hành động Tháng 4 - 1939 Mutxôlini cho quân xâm lược Anbani Liên minh phát xít Đức - Italia được mở rộng tới mức tối đa với việc kí kếthiệp ước mới Đức - Italia (thường được gọi là Hiệp ước Thép) theo đó nếu một bên có chiến tranh với một nước hoặc một nhóm nước khác thì bên kia sẽ tiến hành giúp đỡ ngay lập tức bằng các lực lượng hải, lục và không quân Nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới chỉ còn là gang tấc, tuy nhiên các cường quốc phương Tây vẫn tìm mọi cách để hướng cuộc chiến tranh về phía Liên Xô
Bước vào thập niên 30 Liên Xô tiếp tục cuộc đấu tranh trong quan hệ quốc tế nhằm củng
cố vị trí quốc tế của mình, đồng thời kiên trì lập trường thiết lập nền an ninh tập thể ở châu Âu vàbảo vệ hoà bình thế giới
a) Cuộc đấu tranh củng cố vị trí quốc tế và nền an ninh tập thể
Trong những năm 1929-1932, một chiến dịch chống Liên Xô được phát động trong cácnước tư bản phương Tây Âm mưu đánh bom cơ quan Tổng đại diện Liên Xô tại Vácxava (1930),chiến dịch chống Liên Xô ở Phần Lan (1931) kế hoạch mưu sát Đại sứ Nhật Bản tại Mátxcơva(1931), việc tên bạch vệ Goócnulốp mưu sát Tổng thống Pháp Pôn Đume (1932) Tất cả những vụkhiêu khích đó nhằm tạo ra quan hệ quốc tế căng thẳng dẫn tới việc các nước cắt đứt quan hệ ngoạigiao với Liên Xô Tháng 2 - 1930 , Giáo hoàng Pie XI đã kêu gọi tổ chức một cuộc “thập tự chinh”chống chủ nghĩa cộng sản, tập hợp các tín đồ trên thế giới “hành động tập thể” chống Liên Xô.Đồng thời các nước tư bản phương Tây khởi xướng việc bao vây kinh tế chống Liên Xô Đặc biệt
là dự án thành lập Liên bang châu Âu do ngoại trưởng Pháp Briăng (Briand) đề xướng (5 - 1930)mang tính bài Xô rõ rệt Dự án đề xuất việc thành lập một Liên minh châu Âu bao gồm đại diệncủa tất cả các quốc gia châu Âu thành viên của Hội Quốc liên, loại trừ Liên Xô - quốc gia lớn nhất
ở châu Âu Bằng chính sách ngoại giao kiên quyết và khéo léo, Liên Xô đã kiên trì đấu tranh đểvượt qua được tình trạng căng thẳng và phức tạp trong quan hệ quốc tế Thời gian này, Liên Xôthực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1928 - 1933) với những thành tựu quan trọng,tăng cường sức mạnh kinh tế và quốc phòng của đất nước Đồng thời, các âm mưu thù địch chốngLiên Xô đều bị phá vỡ Liên Xô đã kí kết những hiệp ước không xâm lược với phần đông các nướcláng giềng và một số nước tư bản châu Âu: Phần L an, Latvia, Extônia, Ba Lan (1932), Italia(1933) ; đồng thời đạt được thoả thuận gia hạn các Hiệp ước không xâm lược đã kí với Thổ Nhĩ Kì,Đức, Iran, Lítva, Apganixtan Tham gia vào Hội nghị giải trừ quân bị ở Giênôvơ khai mạc ngày 2 -
2 - 1932 (với sự có mặt của đại diện 63 quốc gia), Liên Xô đã đưa ra một chương trình giải trừ
Trang 19quân bị và nêu rõ quan điểm của mình về định nghĩa khái niệm xâm lược trong quan hệ quốc tế.Hội nghị Giênôvơ không đi đến một kết quả đáng kể nào do mâu thuẫn giữa các cường q uốc tưbản phương Tây, đồng thời những đề nghị của Liên Xô cũng không được thông qua Tuy vậy, năm
1933, Liên Xô đã tiến hành đàm phán và kí kết ba công ước về xác định khái niệm xâm lược vớicác nước Extônia, Látvia, Ba Lan, Rumani, Thổ Nhĩ Kì, Iran, Apganixtan, Rumani, Tiệp Khắc,Nam Tư và Lítva
Tháng 9 - 1934 Liên Xô tham gia Hội Quốc Liên và trở thành Uỷ viên thường trực Hội đồngHội Quốc Liên Điều đó cho thấy vị thế ngày càng được khẳng định của Liên Xô trong các vấn đềquốc tế Tuy nhiên khi gia nhập tổ chức này Liên Xô nêu rõ quan điểm của mình trong việc khôngđồng ý với những quyết định trước đây cũng như một số điều khoản vi phạm chủ quyền các dântộc của Hội Quốc Liên Đồng thời Liên Xô đã tranh thủ điều kiện để đấu tranh cho hoà bình và nền
an ninh toàn thể, ngăn ngừa nguy cơ chi ến tranh thế giới Tháng 5 - 1935, Hiệp ước tương trợ songphương Xô - Pháp và Xô-Tiệp đã được kí kết, thể hiện những cố gắng quan trọng của Liên Xôtrong việc xây nền an ninh toàn thể ở châu âu ở khu vực châu á, Hiệp ước tương trợ lẫn nhau vớiMông cổ (1936) và Hiệp ước không xâm lược với Trung Quốc (1937) cũng được Liên Xô kí kếtnhằm tạo dựng mối quan hệ cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia, đảm bảo an ninh cho vùngViễn Đông Khi Nhật mở rộng chiến tranh ra toàn lãnh thổ Trung Quốc (1937), Liên Xô đứng vềphía Đảng cộng sản và nhân dân Trung Quốc, giúp đỡ về tinh thần và vật chất cho Trung Quốctrong cuộc kháng chiến chống Nhật (cho Trung Quốc vay 100 triệu USD năm 1938, 150 triệu USDnăm 1939, nhiều phi công Liên Xô tình nguyện tham gia chiến đấu chống Nhật ở Trung Quốc).Trong thập niên 30, Liên Xô cũng giành được thắng lợi trong việc bình thường hoá quan hệ Xô -
Mĩ Gần một thập kỉ sau khi bình thường hoá quan hệ với hầu hết các nước tư bản chủ yếu, tháng
11 - 1933 Liên Xô đã đạt được thoả thuận về việc bình thường hoá quan hệ với Mĩ Mặc dù quan
hệ Xô - Mĩ còn gặp nhiều trở ngại, nhưng việc bình thường hoá quan hệ với Mĩ đánh dấu mộtthắng lợi lớn của nền ngoại giao Xô viết Từ chỗ là một đế quốc tích cực và ngoan cố trong liênminh chống phá nước Nga Xô viết, cuối cù ng Mĩ đã phải thoả thuận và thiết lập quan hệ ngoạigiao với Liên Xô
b) Hiệp ước Xô - Đức không xâm lược nhau
Sau khi Hítle xé bỏ hiệp ước Muyních, thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc, Liên Xô đã đề nghị triệutập một hội nghị để bàn về vấn đề bảo vệ an ninh châu Âu, ngăn chặn chiến tranh xâm lược củachủ nghĩa phát xít Trước áp lực mạnh mẽ của dư luận trong và ngoài nước, chính phủ Anh, Pháp
đã bắt đầu các cuộc đàm phán với Liên Xô từ giữa tháng 4 -1939 tại Matxcơva Do thái độ thiếuthiện chí và chủ trương "bắt cá hai tay'' của Anh, Pháp, cuộc đàm phán không đạt được kết quả vàhoàn toàn bế t ắc Trong khi đó, từ tháng 6 - 1939, cuộc đàm phán bí mật Anh - Đức đã được tiếnhành ở Luân Đôn để thảo luận về việc hợp tác Anh - Đức chống Liên Xô, Trung Quốc và phân chiakhu vực ảnh hưởng ở đây
Lúc này ở Viễn Đông, sau khi gây ra cuộc xung đột quân sự chống Liên Xô ở khu vực hồKhaxan bị thất bại, ngày 12 - 5 - 1939 phát xít Nhật mở cuộc tấn công vào khu vực sông Khankhin
- Gôn (Khalkhin-Gol) thuộc địa phận Mông Cổ, nhằm uy hiếp con đường huyết mạch của Liên Xô
ở Viễn Đông và chuẩn bị cho việc mở rộng cuộc chiến chống Liên Xô sau này Mặc dù kế hoạchcủa Nhật ở Khankhin - Gôn thất bại nhưng toàn bộ những sự kiện diễn ra ở Viễn Đông làm chogiới cầm quyền Anh và Pháp vẫn hy vọng về một cuộc chiến tranh chống Liên xô từ phía Nhật.Chính trong lúc này Đại sứ Anh ở Tôkiô Craigi (Craigie) đã kí với Ngoại trưởng Nhật Arita mộthiệp ước (7 - 1939), theo đó Anh thừa nhận cuộc chiến tranh của Nhật ở Trung Quốc và tuyên bốkhông can thiệp vào công việc của Nhật ở đây
Tình hình phức tạp nói trên ở cả phương Tây và phương Đông khiến cho mọi cố gắng kiên trìcủa Liên Xô nhằm đạt tới một thoả thuận với Anh và Pháp trong cuộc đấu tranh chống sự xâm lượccủa chủ nghĩa phát xít đều thất bại Trong bối cảnh đó, Liên Xô buộc phải có những giải pháp kiênquyết để tự bảo vệ nền an ninh quốc gia Ngay từ tháng 5 - 1939 với ý đồ kéo dài thời gian để xâmlược châu Âu trước, Chính quyền Đức đã thăm dò Liên Xô về khả năng kí kết một hiệp ước khôngxâm lược nhau Xô - Đức Lúc đầ u Liên Xô đã bác bỏ đề nghị đó, nhưng sự tan vỡ không thể cứu
Trang 20vãn nổi của cuộc đàm phán Xô - Anh - Pháp đã khiến Liên Xô thay đổi ý định và tiếp nhận đề nghịcủa Đức Ngày 23 - 8 - 1939, Hiệp ước không xâm lược nhau Xô - Đức đã được kí kết, theo đóLiên Xô và Đức cam kết không tấn công nhau, không gia nhập một liên minh nào thù địch với mộttrong hai nước kí hiệp ước, không giúp đỡ một nước thứ ba nào chống lại nước kia Sau đó mộtngày, Liên Xô và Đức còn kí thêm một Nghị định thư bí mật phân chia ph ạm vi ảnh hưởng ởĐông Âu
Việc kí kết Hiệp ước Xô - Đức không xâm lược nhau đã làm thất bại chính sách hai mặt củacác nước phương Tây, phá tan âm mưu thành lập mặt trận thống nhất chống Liên Xô do các nước
đế quốc dựng lên ở Muyních Đồng thời sự kiện này cũng phá vỡ âm mưu của Nhật muốn dựa vào
sự ủng hộ của Đức để xâm lược Liên Xô
Một tuần sau đó, đêm 30 rạng ngày 31 - 8 - 1939, Đức gửi tới Ba Lan một bản tối hậu thư vềvấn đề Đăng dích và hành lang Ba Lan Chính phủ Ba Lan bác bỏ những yêu sách của Đức Rạngsáng ngày 1 - 9 - 1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ
- Từ những sự kiện đã nêu ở trên, có thể đi đến những tổng kết sau đây:
- Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ trước hết là do những mâu thuẫn về quyền lợi, về lãnhthổ hết sức gay gắt giữa các nước đế quốc với nhau Sự phân chia thế giới theo Hệ thống Vécxai -Oasinhtơn chứa đựng những mâu thuẫn không thể dung hoà được giữa các nước đế quốc Nhữngmâu thuẫn đó đã dẫn tới một cuộc chiến tranh mới giữa các nước đế quốc để phân chia lại thếgiới
- Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 đã làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn củachủ nghĩa đế quốc, dẫn tới việc lên cầm quyền của các thế lực phát xít ở Đức, Italia và Nhật Bản.Chủ nghĩa phát xít ở ba nước nêu trên là thủ phạm gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai
- Tuy nhiên, chính sách hai mặt của các cường quốc phương Tây đã tạo điều kiện cho phephát xít gây chiến Do vậy, khác với Chiến tranh thế giới thứ nhất, Chiến tranh thế giới thứ haicòn gắn liền với mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa xã hội và âm mưu tiêu diệt nhànước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới Khối các nước đế quốc mặc dù có mâu thuẫn vớikhối phát xít nhưng đều thống nhất với nhau trong âm mưu chống Liên Xô và phong trào cáchmạng thế giới
Chiến tranh được bắt đầu từ cuộc chiến giữa hai khối đế quốc nhằm tranh giành lãnh thổ vàquyền thống trị thế giới Tuy vậy, từ tháng 6 - 1941, khi phát xít Đức tập trung lực lượng tấn côngLiên Xô, nhằm tiêu diệt chế độ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tham vọng chinh phục toàn cầu, tính chấtcủa cuộc chiến tranh đã thay đổi căn bản Đó là cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô và cácdân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới nhằm tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, giải phóng nhân loạikhỏi những thảm hoạ của chế độ phát xít man rợ
1 Phát xít Đức tấn công Ba Lan và xâm chiếm các nước Bắc Âu – Tây Âu
Ngày 1 - 9 - 1939 phát xít Đức bất ngờ tấn công Ba Lan với một lực lượng quân sự hùng hậu,được chuẩn bị kỹ càng: 70 sư đoàn gồm khoảng 1,5 triệu quân (trong đó có 7 sư đoàn xe tăng, 6 sưđoàn cơ giới), trên 3000 máy bay chiến đấu Ngày 3 - 9, chính phủ Anh, Pháp tuyên chiến với Đức.Chiến tranh thế giới bùng nổ Với ưu thế tuyệt đối về quân sự và trang bị, quân Đức thực hiện chiếnlược “chiến tranh chớp nhoáng”, dùng xe tăng, máy bay oanh tạc, phá vỡ phòng tuyến và tiến sâuvào lãnh thổ Ba Lan với tốc độ 50 - 60km một ngày Chính phủ Ba Lan không cứu vãn được tìnhthế, phải lưu vong sang Anh, trong lúc quân dân Ba Lan chiến đấu ngoan cường chống trả quân Đức.Ngày 28 - 9, sau gần một tháng tấn công, quân Đức chiếm được Ba Lan Trên thực tế, Ba Lan đãđơn độc chiến đấu chống trả quân Đức, không nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài Với tư cách là đồngminh của Ba Lan, hai nước Anh, Pháp lúc bấy giờ có tới 110 sư đoàn dàn trận ở phía Bắc nướcPháp, dọc theo biên giới Đức Nhưng quân Anh, Pháp không tấn công Đức và cũng không có bất kỳ
Trang 21một hành động quân sự nào hỗ trợ cho Ba Lan Tình trạng đó kéo dài suốt 8 tháng (từ tháng 9 - 1939đến tháng 4 - 1940) và được dư luận gọi là “cuộc chiến tranh kỳ quặc” Sở dĩ có hiện tượng này là do
gi ới cầm quyền Anh, Pháp vẫn nuôi ảo tưởng về một sự thoả hiệp với Hítle, tiếp tục chính sáchMuyních với hy vọng quân Đức sẽ chĩa mũi nhọn chiến tranh về phía Liên Xô Đồng thời hiện tượngnày còn được lí giải bằng việc Bộ tổng tư lệnh liên quân, đứng đầu là tướng Pháp Gamơlanh đãquyết định áp dụng chiến lược phòng ngự, dựa vào phòng tuyến Maginô kiên cố để đánh trả quânĐức Lợi dụng tình hình đó, sau khi chiếm được Ba Lan và tăng gấp đôi lực lượng quân sự, phát xítĐức tập trung quân ở phía Tây để tấn công NaUy Ngày 9 - 4 - 1940, quân Đức tràn vào Đan Mạch.Đan Mạch đầu hàng, không kháng cự Cùng ngày, quân Đức đổ bộ vào Na Uy Na Uy được quânviễn chinh Anh, Pháp hỗ trợ, đã chiến đấu trong hai tháng mới chịu khuất phục Không cần chờ đợi chiến dịch Na Uy kết thúc, ngày 10 - 5 - 1940 quân Đức tràn vào Bỉ, Hà Lan,Lúcxembua và Pháp Mặt trận phía Tây chính thức bắt đầu Với chiến lược “chiến tranh chớpnhoáng”, quân Đức tập trung đánh vào cánh trái của liên quân Anh, Pháp (phòng tuyến Maginô ởcánh phải) Quân Đức tràn vào Hà Lan và Bỉ Ngày 15 - 5, quân đội Hà Lan đầu hàng, chính phủ HàLan bỏ chạy sang Luân Đôn Ngày 27 - 5, Bỉ đầu hàng vô điều kiện Tàn quân Anh, Pháp gồm 34vạn người bị dồn đuổi đến cảng Đongkéc (D unkerque) ở Bắc Pháp, phải xuống tầu, tháo chạy vềAnh Mặt trận Pháp bị đập tan, quân Đức tiến về Pari như vũ bão Chính phủ Pháp bỏ Pari, chạy vềBoócđô và đưa Thống chế Pêtanh lên cầm quyền để xin đình chiến với Đức Nước Pháp đã đầu hàngsau 6 tuần chiến đấu Theo Hiệp định đình chiến ký ngày 22 - 6 - 1940, quân Đức chiếm đóng 2/3lãnh thổ Pháp, trong đó có Pari và các trung tâm công nghiệp (nơi sản xuất 98% sản lượng gang vàthép của Pháp), vùng Andát và Loren bị sáp nhập vào Đức, nước Pháp bị tước v ũ trang và phải nuôiquân đội chiếm đóng Chính phủ bù nhìn Pháp do Pêtanh làm Quốc trưởng đóng tại thị trấn Visi,vùng không chiếm đóng ở phía Nam nước Pháp
Sau tấn thảm kịch của nước Pháp, nước Anh đơn độc kháng cự với kế hoạch đổ bộ “Sư tửbiển” của quân Đức, bắt đầu từ tháng 7 - 1940 Sau đó, Hítle thay đổi kế hoạch và quyết định tiếnhành chiến dịch “Tia điện không trung” tàn phá nước Anh Cuộc oanh tạc bằng không quân Đức đãtàn phá nặng nề các thành phố lớn của Anh như Luân Đôn, Côventơry, Livớcpun… Chỉ trong vòng
3 tháng đầu, quân Đức đã giội 10.000 tấn bom xuống lãnh thổ của Anh Nước Anh quyết chiến đấu
Trang 22chống trả quân Đức và đã giành được ưu thế tron g các trận không chiến và hải chiến Từ tháng 9
-1940, Mĩ bắt đầu viện trợ cho Anh Những “cuộc chiến chớp nhoáng trên không” của Đức suy yếudần Từ giữa tháng 10 - 1940, quân Đức rút dần lực lượng khỏi khu vực này Kế hoạch đổ bộ vàchiếm đóng nước Anh đã không bao giờ thực hiện được
Ngày 27 - 9 - 1940, Đức, Italia và Nhật đã ký kết hiệp ước đồng minh quân sự và chính trị
ở Béclin, được gọi là Hiệp ước Tay ba Hiệp ước thừa nhận sự thống trị của Đức, Italia ở châu Âu
và của Nhật ở khu vực Đại Đông á Hiệp ước quy định, nếu một trong ba nước bị kẻ thù mới tấncông thì hai nước kia phải lập tức trợ giúp về mọi mặt Khối liên minh phát xít đã được củng cố
và xiết chặt thông qua hiệp ước này
Từ cuối năm 1940, để xây dựng bàn đạp chiến lược ở Đông Nam Âu - chuẩn bị cho kếhoạch tấn công Liên Xô, Hítle dùng những thủ đoạn chính trị kết hợp với sức ép quân sự để lôi kéoRumani, Hunggari và Bungari gia nhập Hiệp ước Tay ba, đồng thời đưa quân tiến vào ba nước này.Tháng 10 - 1940, Italia tấn công Hi Lạp và dự định chiếm được đất nước này một cách nhanhchóng Nhưng quân xâm lược đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của Hi Lạp Được Anh trợ giúp,
Hi Lạp phản công, quét sạch quân Italia và chiếm luôn Anbani (thuộc Italia) Trước tình hình khókhăn của Italia, tháng 4 - 1941, quân Đức tấn công Nam Tư và Hi Lạp Chính phủ Nam Tư bỏ chạy
ra nước ngoài Quân đội Anh đang tham chiến ở Hi Lạp cũng bị đánh bại Nam Tư và Hi Lạp bịchiếm đóng Quân Đức thiết lập chính quyền bù nhìn và cắt một phần lãnh thổ của hai nước nàychia cho Italia, Hunggari và Bungari Như vậy, tới mùa hè năm 1941, hầu như tất cả các nước châu
Trang 23Âu đều bị chiếm đóng hoặc lệ thuộc nặng nề vào phát xít Đức và Italia Trên thực tế chỉ còn nướcAnh chưa bị chiếm đóng nhưng đang nằm trong sự phong toả của quân Đức Ngoài ra, ba quốc giakhác còn nằm ngoài vòng cương toả của chủ nghĩa phát xít là Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển và airơlen Chỉtrong vòng chưa đầy hai năm kể từ khi châm ngòi lửa chiến tranh, nước Đức phát xít đã hoàn tấtnhững chiến lược quân sự quan trọng và chuẩn bị đầy đủ điều kiện để tấn công Liên Xô
Ở Đông Á, khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu (9 - 1939), Nhật Bản đã tiếp tục mở rộng cuộcchiến tranh xâm lược Trung Quốc và Viễn Đông Tháng 6 - 1940, Chính phủ Nhật công bố chínhsách xây dựng “Khu vực thịnh vượng chung Đại Đông á”, thể hiện rõ tham vọng bành trướng củamình Tháng 9 - 1940, Nhật gửi tối hậu thư cho Chính phủ Pêtanh, yêu cầu phải cho Nhật đóng quân
và xây dựng các căn cứ quân sự ở Bắc Kỳ (Đông Dương thuộc Pháp) để phục vụ cho cuộc chiến ởTrung Quốc Chính phủ Pháp buộc phải chấp nhận yêu sách của Nhật Tháng 9 - 1940 quân Nhậtvào Bắc Kỳ và coi đó như một chiếc cầu nối để chuẩn bị xâm lược khu vực Đông Nam Á Ở Bắc Phi,tháng 9 - 1940, quân Italia từ Libi (thuộc Italia) tấn công Ai Cập (thuộc Anh) Cuối năm 1940, quânAnh phản công tiến vào Libi Quân Đức phải đưa “Quân đoàn châu Phi” của tướng Rômmen sangcứu viện cho Italia Liên quân Đức - Italia phản công, đẩy lùi quân Anh về biên giới Ai Cập Nhìnchung, trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, với ưu thế áp đảo về quân sự, phe phát xít giànhđược quyền chủ động tấn công trên mặt trận Tây Âu, Bắc Phi và áp đặt sự thống trị của mình trênđại bộ phận lãnh thổ Tây và Trung Âu
Thắng lợi nhanh chóng của quân Đức trên chiến trường châu Âu đã đặt Liên Xô đứng trướcmột tình thế ngày càng nghiêm trọng: phải đối mặt với phát xít Đức ở phía Tây và phát xít Nhật ởphía Đông Trong bối cảnh đó, việc tăng cường lực lượng quốc phòng và đảm bảo an ninh quốc gia
là vấn đề hết sức cấp bách và phải thực hiện bằng bất cứ giá nào Đó là nguyên nhân lý giải việcLiên Xô tiến quân vào miền Đông Ba Lan ngày 17 - 9 - 1939 thu hồi vùng lãnh thổ Tây Ucraina vàTây Bêlarút nhằm củn g cố biên giới phía Tây của mình Điều này cũng phù hợp với những thoảthuận trong Nghị định thư bí mật ký kèm với Hiệp ước không xâm lược Xô - Đức (23 - 8 - 1939).Sau đó, ngày 28 - 9 - 1939 tại Matxcơva, Liên Xô và Đức đã ký kết Hiệp ước “Hữu nghị và biên
Trang 24giới” kèm Nghị định thư bí mật, theo đó Lítva sẽ thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, còn khuvực Liublin và một phần Vacxava thuộc phạm vi ảnh hưởng của Đức(1) Hai tháng sau, tháng 11 -
1939 vùng Tây Ucraina được sáp nhập vào nước Cộng hoà Xô viết U craina và vùng Bêlarút sápnhập vào nước Cộng hoà Xô viết Bêlarút thuộc Liên Xô Đối với các nước ven biển Bantích, Liên
Xô cũng thực hiện hàng loạt biện pháp để tăng cường phòng thủ an ninh quốc gia trong bối cảnhchiến tranh đang lan rộng ở châu Âu Trải qua những cuộc thương lượng căng thẳng, ba nướcBantích đã lần lượt ký các Hiệp ước tương trợ lẫn nhau với Liên Xô: Extônia (28 - 9 - 1939), Látvia(5 - 10), Lítva (10 - 10) Trước những diễn biến nhanh chóng của tình hình chiến sự ở châu Âu,tháng 6 - 1940, dưới áp lực quân sự của Liên Xô, các chính phủ ở ba nước Bantích đều phải từ chức,nhường chỗ cho các chính phủ mới thành lập Trong tháng 7 - 1940 đã diễn ra các cuộc bầu cử Quốchội ở các nước này Quốc hội ba nước đã thông qua đề nghị gia nhập vào Liên Xô Tháng 8 - 1940,
Xô viết tối cao đã chấp nhận và thông qua đạo luật về việc ba nước vùng Bantích gia nhập Liên Xô.Các chính phủ Anh, Mĩ đã quyết định không công nhận và thi hành chính sách thù địch với chínhquyền mới, trong khi đó vẫn tiếp tục duy trì quan hệ với các chính phủ cũ đã bị lật đổ ở các nướcnày Nhằm mục đích phòng thủ biên giới phía Tây Bắc, tháng 10 - 1939 Liên Xô đã tiến hành đàmphán với chính phủ Phần Lan về việc ký kết Hiệp ước tương trợ lẫn nhau nhưng Phần Lan đã khôngchấp nhận những đề nghị của Liên Xô Sau những diễn biến căng thẳng trong quan hệ song phương,Liên Xô cắt đứt quan hệ ngoại giao với Phần Lan Tháng 11 - 1939, Chiến tranh Xô - Phần bùng nổ
và tiếp diễn trong suốt mùa đông (11 - 1939 đến 3 - 1940) với thất bại quân sự của Phần Lan Ngày
12 - 3 - 1940, Hoà ước Xô - Phần đượ c ký kết, Phần Lan phải nhượng cho Liên Xô eo đất Carêli,phần lãnh thổ phía Tây Bắc hồ Lađôga và một số đảo trong vịnh Phần Lan Theo đó, biên giới Liên
Xô được lùi xa thêm 150 km về phía Phần Lan Đồng thời Liên Xô còn được quyền thuê cảng Hancô
và một số đảo phụ cận trong vòng 30 năm với số tiền 8 triệu mác Phần Lan Các cường quốc tư bảnphương Tây đã phản đối hành động của Liên Xô trong cuộc chiến tranh Xô - Phần Ngày 14 - 12 -
1939 Hội Quốc Liên đã thông qua Nghị quyết khai trừ Liên Xô ra khỏi tổ chức này Các nước Anh,Pháp đã giúp đỡ về quân sự cho chính phủ Phần Lan trong thời gian diễn ra cuộc chiến Cũng trongmùa hè năm 1940, Liên Xô đã giải quyết xong việc sát nhập vùng Bétxarabia và Bắc Bucôvina, vốnvẫn ở trong tình trạng tranh chấp lâu dài giữa Nga với Rumani, vào lãnh thổ Liên Xô Chính sách đốingoại của Liên Xô đối với một số quốc gia ở Đông Âu trong thời kỳ này đã tạo điều kiện tăng cườngkhả năng phòng thủ quốc gia ở biên giới phía Tây, mở rộng thêm lãnh thổ và tiềm lực kinh tế của đấtnước Trong bối cảnh quốc tế cực kỳ căng thẳng lúc bấy giờ, đối với Liên Xô chính sách đó có thểxem như một giải pháp tình thế để đối phó với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa phát xít Mặt khác,đối với các nước vùng Bantích, việc gia nhập vào Liên bang cộng hoà XHCN Xô viết cũng tạo racho họ mộ t chỗ dựa vững chắc trong tình hình số phận của cả châu Âu đang được đặt trong “Trật tựmới” của chủ nghĩa phát xít Tuy nhiên, chính sách đối ngoại mà các nhà lãnh đạo Liên Xô thực hiệnđối với một số nước Đông Âu trong thời kỳ này cũng để lại những bài học cần được rút kinh nghiệmquan trong quan hệ quốc tế
Sau khi hoàn thành việc đánh chiếm châu Âu, phát xít Đức đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện
để tấn công Liên Xô Ngay từ tháng 8 - 1940, kế hoạch tấn công Liên Xô đã bắt đầu được soạnthảo Tháng 12 - 1940, Hítle phê chuẩn kế hoạch tấn công Liên Xô, mang mật danh “Kế hoạchBácbarốtxa”(1)
Trang 25Rạng sáng ngày 22 - 6 - 1941, không hề tuyên chiến và không nêu bất cứ lý do nào, phát xítĐức bất ngờ tấn công Liên Xô Với một lực lượng quân sự khổng lồ: 5,5 triệu quân, gồm 190 sưđoàn (153 sư đoàn Đức và các sư đoàn của Italia, Rumani, Phần Lan, Hunggari…) trong đó có 17
sư đoàn xe tăng (hơn 4000 chiếc) và trên 5000 máy bay, quân Đức áp dụng chiến lược “chiến tranhchớp nhoáng” nhằm “đánh quỵ nước Nga” trong vòng từ một tháng rưỡi đến hai tháng Ba đạoquân Đức đặt dưới quyền tổng chỉ huy của thống chế Phôn Bơraosít đồng loạt tấn công, phá vỡ cáctuyến phòng thủ biên giới, đánh thiệt hại nặng quân đội Xô viết và tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô.Cuối tháng 9 - 1941, đạo quân phía Bắc (do thống chế PhônLép cầm đầu) đã bao vây Lêningrát,đạo quân Trung Tâm (do thống chế Phôn Bốc chỉ đạo) đã tiến sát thủ đô Matxcơva và đạo quânphía Nam (do thống chế Phôn Runxtét chỉ huy) đã chiếm Kiép và phần lớn Ucraina Chiến tuyếnngày càng mở rộng, quân Đức ngày càng gặp khó khăn và bị tổn thất hơn rất nhiều lần so với cácmặt trận khác
Tháng 10 - 1941, quân Đức tập trung lực lượng mở cuộc tấn công mãnh liệt vào Matxcơvavới hy vọng thắng lợi ở đây sẽ quyết định kết cục của chiến tranh Với 80 sư đoàn, trong đó có 23
sư đoàn xe tăng và cơ giới (khoảng 1 triệu quân), gần 1000 máy bay, chiếm ưu thế áp đảo vớiHồng quân Liên Xô, quân đội phát xít ào ạt mở hai đợt tấn công đại quy mô vào Matxcơva trongtháng 10 và tháng 11 - 1941 Trong giờ phút nguy kịch đó, Hồng quân và nhân dân Liên Xô kiênquyết chiến đấu đến cùng bảo vệ Matxcơva Sáng ngày 7 - 11, lễ kỷ niệm lần thứ 24 Cách mạngtháng Mười đã diễn ra một cuộc duyệt binh đặc biệt Các đơn vị Hồng quân diễu binh qua Hồngtrường đã tiến thẳng ra mặt trận chiến đấu với quân thù Ngày 6 - 12 - 1941, Hồng quân chuyểnsang phản công ở Matxcơva và sau hai tháng chiến đấu đã đẩy lùi quân Đức ra khỏi thủ đô, có nơiđến 400 km Kế hoạch đánh chiếm Matxcơva của Hítle sụp đổ tan tành Đạo quân Trung tâm củaĐức bị tiêu diệt tổng cộng hơn 500.000 quân, 1.300 xe tăng, 2.500 đại bác và nhiều phương tiện kỹthuật khác Chiến thắng Mátxcơva đã làm phá sản hoàn toàn “chiến lược chiến tranh chớp nhoáng”của đội quân “trước đây được coi là không thể đánh bại” Đây là thắng lợi lớn đầu tiên của L iên
Trang 26Xô và thất bại lớn đầu tiên của Đức kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Thắng lợi này
đã cổ vũ niềm tin vào chiến thắng của nhân dân thế giới đối với chủ nghĩa phát xít và thúc đẩy sự
ra đời của Mặt trận Đồng minh chống phát xít trên toàn thế giới
Sau thất bại ở Mátxcơva, mùa hè năm 1942 quân Đức lại một lần nữa dốc toàn lực lượngvào mặt trận Xô - Đức, chuyển trọng tâm tấn công xuống phía Nam, nhằm đánh chiếm vùng dầulửa chiến lược, vựa lúa mì lớn nhất của Liên Xô ở khu vực sông Vonga và Cápcadơ, để rồi sau đó
sẽ đánh chiếm Mátxcơva từ phía sau Mục tiêu chủ yếu của cuộc tấn công là chiếm bằng đượcXtalingrát (nay là Xarítxưn) Nhờ ưu thế hơn hẳn về lực lượng, lúc đầu là 240 sư đoàn, sau tăng lên
260 sư đoàn, đến giữa tháng 8 - 1942, quân Đức đã tiến vào khu vực thành phố Xtalingrát Cuộcchiến đấu ác liệt diễn ra ngay trong thành phố Xtalingrát lúc này đã trở thành “nút sống” của Liên
Xô Với quyết tâm “không lùi một bước”, “thề chết bảo vệ thành phố” các chiến sĩ Hồng quân kiênquyết chiến đấu bằng bất cứ giá nào, đẩy lùi từng đợt tấn công của địch Mỗi ngày đêm, Hồng quân
đã chống trả từ 12 đến 15 đợt tấn công của quân Đức Trải qua 4 tháng chiến đấu, Xtalingrát vẫnđứng vững, đồng thời Hồng quân còn tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực địch và chuẩn bị điềukiện cho bước ngoặt phản công quân Đức ở thành phố anh hùng này
Nhìn chung, ở mặt trận Xô Đức đến cuối năm 1942, quân Đức đã chiếm được khoảng 2 triệukm2 lãnh thổ Liên Xô (bao gồm 47% diện tích đất trồng trọt, 33% sản lượng công nghiệp, 45% dân
số cả nước) Tuy nhiên, quân Đức đã vấp phải những thất bại đầu tiên, không chiếm được Mátxcơva
và kế hoạch “chiến tranh chớp nhoáng” đã hoàn toàn bị phá vỡ
Trong lúc chiến tranh diễn ra ác liệt ở châu Âu, Nhật Bản tìm cách thực hiện kế hoạchxâm chiếm và bành trướng lãnh thổ ở châu á Nhưng kế hoạch của Nhật đã vấp phải sự phản đốicủa Mĩ, quan hệ Nhật - Mĩ trở nên căng thẳng Tháng 9 - 1940, khi Nhật đổ bộ vào Bắc Kỳ, Mĩbắt đầu viện trợ cho Trung Quốc kháng Nhật, đồng thời thực hiện chính sách cấm vận dầu lửa,sắt, thép cho phe Trục phát xít Tháng 7 - 1941, chính quyền Nhật buộc Pêtanh, cho Nhật đóng