1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề Tài Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Quốc Gia Của Việt Nam Trong Công Cuộc Đổi Mới Công Nghệ Hiện Nay.pdf

41 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Quốc Gia Của Việt Nam Trong Công Cuộc Đổi Mới Công Nghệ Hiện Nay
Người hướng dẫn Ths. Đỗ Đình Nghĩa
Trường học Đại học Quốc gia TP. HCM
Chuyên ngành Kinh tế chính trị Mác - Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 899,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: QUY LUẬT CẠNH TRANH (0)
    • 1.1. Khái niệm cạnh tranh (7)
    • 1.2. Phân loại cạnh tranh (8)
    • 1.3. Biện pháp cạnh tranh (10)
    • 1.4. Vai trò cạnh tranh (12)
  • Chương 2: NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA CỦA VIỆT (0)
    • 2.1. Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (14)
      • 2.1.1. Khái niệm chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (14)
      • 2.1.2. Các tiêu chí đánh giá chỉ số (14)
    • 2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2019 (17)
    • 2.3. Lợi thế và hạn chế của Việt Nam trong công cuộc đổi mới công nghệ từ năm (23)
      • 2.3.1. Những lợi thế trong năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong công cuộc đổi mới công nghệ giai đoạn 2017 – 2019 (23)
      • 2.3.2. Những hạn chế trong năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong công cuộc đổi mới công nghệ giai đoạn 2017 – 2019 (28)
    • 2.4. Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong công cuộc đổi mới công nghệ hiện nay (32)
  • KẾT LUẬN (38)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (39)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ HIỆN NAY LỚ[.]

QUY LUẬT CẠNH TRANH

Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là quy luật thiết yếu của kinh tế thị trường, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và điều tiết hệ thống thị trường Nó không chỉ làm lành mạnh các quan hệ xã hội mà còn buộc các doanh nghiệp phải đổi mới trong sản xuất, sử dụng hiệu quả tài nguyên và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật Nhờ đó, cạnh tranh giúp tăng năng suất lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó mang lại sự tăng trưởng và cải thiện hiệu quả kinh tế.

Cạnh tranh là một khái niệm rộng rãi, hiện diện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa và thể thao Trong khoa học kinh tế, chưa có một định nghĩa nào được các nhà khoa học đồng thuận về cạnh tranh, vì đây là hiện tượng chỉ tồn tại trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực và giai đoạn của quá trình kinh doanh, liên quan đến tất cả các chủ thể hoạt động trên thị trường Do đó, cách nhìn nhận về cạnh tranh phụ thuộc vào ý định và phương pháp nghiên cứu của từng nhà khoa học.

Cạnh tranh được định nghĩa là sự ganh đua giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch Theo từ điển kinh doanh, cạnh tranh trong cơ chế thị trường là sự kình địch giữa các nhà kinh doanh để tranh giành tài nguyên sản xuất Tổ chức thống nhất vì người tiêu dùng mô tả cạnh tranh là quá trình mà nhà cung cấp cố gắng thu hút khách hàng bằng nhiều phương thức khác nhau Cuối cùng, từ điển Bách khoa tri thức phổ thông cũng nhấn mạnh rằng cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa các nhà sản xuất và thương nhân nhằm giành điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường tốt nhất.

Cạnh tranh trong khoa học kinh tế được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm thu hút nhiều khách hàng hơn Mặc dù có nhiều định nghĩa và góc nhìn khác nhau về cạnh tranh, nhưng sự cạnh tranh chủ yếu diễn ra giữa những người bán hàng, mặc dù cũng có thể xảy ra giữa những người mua hàng.

Phân loại cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được phân thành hai loại dựa trên phạm vi ngành kinh tế: một là cạnh tranh giữa các chủ thể trong cùng một ngành, và hai là cạnh tranh giữa các chủ thể thuộc các ngành khác nhau.

Cạnh tranh nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một lĩnh vực hàng hóa, nhằm tối đa hóa lợi ích cho doanh nghiệp Ví dụ, Coca-Cola và Pepsi là hai công ty trong ngành nước giải khát, buộc họ phải cạnh tranh khốc liệt để chiếm lĩnh thị phần và tăng cường lợi nhuận.

Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau, nhằm thực hiện lợi ích của họ trong nền kinh tế thị trường Đây là phương thức giúp các doanh nghiệp tìm kiếm lợi ích tối ưu và xác định nơi đầu tư có lợi nhất Ví dụ điển hình về sự cạnh tranh này có thể thấy giữa ngành bảo hiểm và ngân hàng, cũng như giữa ngành may mặc, thiết bị y tế và xây dựng.

1 Bộ Giáo dục & Đào tạo, (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.73.

2 Bộ Giáo dục & Đào tạo, (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.74.

3 Lê Thị Quyên, (25/11/2021), Cạnh tranh giữa các ngành là gì trong hoat động kinh doanh, truy cập từ https://thebank.vn/blog/21083-canh-tranh-giua-cac-nganh.html.

Cạnh tranh có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm chủ thể tham gia thị trường, tính chất và mức độ cạnh tranh, cũng như các thủ đoạn được sử dụng trong quá trình cạnh tranh.

Cạnh tranh trên thị trường có thể được phân loại dựa vào các chủ thể tham gia, bao gồm cạnh tranh giữa người sản xuất và người tiêu dùng, cạnh tranh giữa các người tiêu dùng, và cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với nhau.

Cạnh tranh giữa người sản xuất và người tiêu dùng thể hiện qua việc mặc cả theo quy luật mua rẻ - bán đắt, nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân Người sản xuất mong muốn bán hàng hóa với giá cao, trong khi người tiêu dùng lại tìm cách mua hàng hóa với giá rẻ.

Cạnh tranh giữa người tiêu dùng xảy ra khi cầu vượt cung cho một loại hàng hóa hoặc dịch vụ, dẫn đến tình trạng khan hiếm Trong bối cảnh này, người tiêu dùng sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn, làm gia tăng mức độ cạnh tranh giữa họ.

Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất là hình thức cạnh tranh phổ biến và khốc liệt nhất trong nền kinh tế thị trường hiện nay Các doanh nghiệp phải nỗ lực để giành lấy những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, bao gồm vốn, lao động, nguồn nguyên liệu, và thị trường Mục tiêu của họ là tối đa hóa lợi ích để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững.

Hai, căn cứ vào hình thái, có thể chia cạnh tranh thành cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh độc quyền.

Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có nhiều người bán trên thị trường, nhưng không ai có khả năng ảnh hưởng đến giá cả do không có ưu thế về số lượng cung ứng Trong thị trường này, sản phẩm thường ít có sự khác biệt về quy cách, chất lượng và mẫu mã Do đó, giá cả sản phẩm được xác định bởi quy luật cung cầu của thị trường.

Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition) là hình thức cạnh tranh trên thị trường với sự tồn tại của các sản phẩm không đồng nhất Trong loại hình này, một sản phẩm có thể mang nhiều nhãn hiệu khác nhau để phân biệt giữa các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp, mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm có thể không đáng kể.

Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition) là hình thức cạnh tranh trong đó chỉ có một số ít người bán cung cấp các sản phẩm tương tự Các nhà độc quyền có khả năng kiểm soát hầu hết số lượng sản phẩm và dịch vụ trên thị trường, do đó, họ có quyền quyết định giá cả sản phẩm.

Các doanh nghiệp có thể điều chỉnh giá bán cao hơn hoặc thấp hơn so với giá thị trường dựa trên đặc điểm sản phẩm và uy tín của nhà cung cấp, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là tối đa hóa lợi nhuận Các doanh nghiệp nhỏ trong thị trường này thường phải chấp nhận mức giá do các nhà độc quyền quy định.

Ba, căn cứ vào tính chất của phương thức diễn ra, cạnh tranh bao gồm 2 loại là cạnh tranh lanh mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.

Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh tuân thủ pháp luật, phù hợp với các chuẩn mực xã hội và được cộng đồng công nhận Nó diễn ra một cách sòng phẳng, công bằng và minh bạch.

Cạnh tranh không lành mạnh (Unfair Competition) là hình thức cạnh tranh lợi dụng kẽ hở của pháp luật, vi phạm các chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án Các ví dụ điển hình bao gồm hành vi trốn thuế và buôn lậu.

Biện pháp cạnh tranh

Mỗi loại cạnh tranh yêu cầu các biện pháp riêng biệt, nhưng các doanh nghiệp có thể áp dụng những chiến lược chung để nâng cao sức cạnh tranh Điều này không chỉ giúp họ tạo ra lợi thế trong ngành mà còn giữa các ngành khác nhau, đồng thời đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả.

Cạnh tranh giá cả sản phẩm là một chiến lược phổ biến mà các nhà sản xuất áp dụng để thu hút khách hàng thông qua các chương trình giảm giá, khuyến mãi và tích điểm Tuy nhiên, việc giảm giá không kiểm soát có thể gây ra sự mất cân bằng trong ngành, dẫn đến tình trạng lợi nhuận không đủ để duy trì hoạt động, buộc doanh nghiệp phải rút lui khỏi thị trường.

4 Nguyễn Tuyết Anh, (09/06/2021), Cạnh tranh là gì? Cách phân loại cạnh tranh, truy cập https://luanvan1080.com/canh-tranh-la-gi-cach-phan-loai-canh-tranh.html.

Mua lại đối thủ cạnh tranh là một chiến lược hiệu quả để giảm thị phần và số lượng đối thủ trong ngành Một ví dụ điển hình là các thương vụ mua lại thương hiệu nổi tiếng của tập đoàn Masan, bao gồm Vinmart, Vinacafe, nước khoáng Vĩnh Hảo và Phúc Long trong những năm gần đây.

Doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất lao động và chất lượng hàng hóa thông qua cải tiến kỹ thuật và hợp lý hóa sản xuất, từ đó tăng số lượng sản phẩm trong một đơn vị thời gian Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt, việc nâng cao năng suất thường đi đôi với việc cải thiện chất lượng sản phẩm Khi chất lượng hàng hóa được nâng cao, giá trị sản phẩm tăng lên, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và tạo ra giá trị xã hội lớn hơn, giúp doanh nghiệp thu hút lợi nhuận siêu ngạch.

Để tăng cường phạm vi tiếp cận và thu hút khách hàng, doanh nghiệp cần áp dụng nhiều chiến lược phân phối đa dạng Điều này có thể thực hiện bằng cách mở rộng số lượng đại lý, phát triển các kênh phân phối mới và kinh doanh trên các nền tảng trực tuyến.

Vào thứ năm, việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm hoặc dịch vụ có thể đạt được thông qua việc đa dạng hóa các phương tiện quảng cáo Hiện nay, có nhiều phương thức quảng cáo hiệu quả như truyền miệng, tổ chức sự kiện, chạy quảng cáo trên các trang mạng xã hội, và hợp tác với những người có ảnh hưởng lớn như diễn viên hoặc ca sĩ.

Cạnh tranh hiệu quả dựa trên nhu cầu của khách hàng bao gồm bốn yếu tố chính Đầu tiên, cần xác định nhu cầu của khách hàng thông qua nghiên cứu và phân tích dữ liệu Thứ hai, doanh nghiệp nên cung cấp sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng Thứ ba, việc tiện lợi hóa sản phẩm và dịch vụ qua địa điểm, thời gian và phương thức thanh toán là rất quan trọng Cuối cùng, tạo ra một môi trường tương tác tích cực giúp đáp ứng nhu cầu và giải đáp thắc mắc của khách hàng.

5 Hoàng Minh, (22/09/2021), Masan thâu tóm thương hiệu nào trước lấn sân sang viễn thông?, truy cập https://kienthuc.net.vn/kinh-doanh/.

Để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau Tuy nhiên, để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững, việc liên tục sáng tạo và cải tiến là rất quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thích ứng với sự thay đổi của thị trường.

Vai trò cạnh tranh

Cạnh tranh là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thị trường Để nâng cao sức cạnh tranh, các chủ thể sản xuất cần liên tục nghiên cứu và áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ mới Điều này không chỉ cải thiện trình độ kỹ thuật mà còn nâng cao trí tuệ của lực lượng lao động, từ đó góp phần vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của lực lượng sản xuất quốc gia.

Cạnh tranh là yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường Trong môi trường này, các chủ thể kinh tế phải hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, dẫn đến sự cạnh tranh không ngừng giữa họ Sự cạnh tranh không chỉ tạo ra cơ hội phát triển sản xuất và kinh doanh mà còn góp phần hoàn thiện nền kinh tế thị trường.

Thứ ba, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực.

Nền kinh tế thị trường yêu cầu việc phân bổ nguồn lực dựa trên nguyên tắc cạnh tranh, nhằm đảm bảo các chủ thể sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất Do đó, các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để giành cơ hội sử dụng nguồn lực phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thúc đẩy khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội Mục tiêu chính của các chủ thể kinh tế là tối đa hóa lợi nhuận, điều này chỉ đạt được khi sản phẩm và dịch vụ được người tiêu dùng lựa chọn Do đó, các nhà sản xuất cần nỗ lực tạo ra sản phẩm đa dạng, phong phú, chất lượng cao và giá cả hợp lý để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.

Cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệp và quốc gia tối ưu hóa việc sử dụng nguồn tài nguyên Trong môi trường thị trường cạnh tranh, doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng khi phân bổ nguồn lực cho hoạt động kinh doanh Việc tính toán hợp lý và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực là rất quan trọng Do đó, các nguồn tài nguyên cần được vận động và chu chuyển một cách hợp lý để phát huy tối đa khả năng, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng.

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA CỦA VIỆT

Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu

2.1.1 Khái niệm chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu

Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) là công cụ đánh giá các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô tác động đến năng lực cạnh tranh của quốc gia, giúp xác định điểm mạnh và điểm yếu của nền kinh tế các nước.

Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu (GCI) được xây dựng trên một mô hình lý thuyết đơn giản nhưng vững chắc, giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ thực tế GCI là một trong ba chỉ số đánh giá Áp lực xã hội và Khả năng phục hồi xã hội, do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) phát triển Chỉ số này phân tích nền tảng kinh tế của hầu hết các quốc gia để đánh giá khả năng cạnh tranh, từ đó hướng tới năng suất kinh tế bền vững, tăng trưởng và thịnh vượng Báo cáo GCI cung cấp cái nhìn tổng quan về các yếu tố này.

Phân tích GCI cho thấy các yếu tố quan trọng trong việc tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi trong nước, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và quan điểm sản xuất.

Nó đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của một quốc gia, từ đó xác định các ưu tiên cần thiết để thúc đẩy việc thực hiện cải cách chính trị.

2.1.2 Các tiêu chí đánh giá chỉ số

GCI bao gồm ba giai đoạn phát triển của đất nước: định hướng yếu tố, định hướng hiệu quả và định hướng đổi mới Mỗi giai đoạn này được hỗ trợ bởi ba chỉ số phụ, tạo thành 12 trụ cột chính của năng lực cạnh tranh quốc gia.

1) Các tổ chức (công cộng)

3) Phát triển kinh tế vĩ mô

4) Sức khỏe và giáo dục tiểu học

5) Giáo dục và đào tạo đại học

6) Hiệu quả thị trường hàng hóa

7) Hiệu quả thị trường lao động

8) Sự phát triển của thị trường tài chính

9) Sự sẵn sàng về công nghệ

12 trụ cột của năng lực cạnh tranh được phân loại thành 3 nhóm yếu tố, bao gồm tổng cộng 111 thành phần Điểm số cho các trụ cột dao động từ 0 đến 7, trong khi các thành phần được đánh giá từ 0 đến 100 Cụ thể, chỉ số rất cao nằm trong khoảng từ 5,45 đến 7 điểm, chỉ số cao từ 4,51 đến 5,44 điểm, chỉ số trung bình từ 3,51 đến 4,50 điểm, chỉ số luật từ 3,01 đến 3,50 điểm, và chỉ số rất đúng luật từ 0 đến 3 điểm.

Danh sách các trụ cột và thành phần:

Trụ cột I: Thể chế - được đo bằng 22 thành phần

Lợi thế cạnh tranh được xác định bởi sáu thành phần chính: chuyển hướng quỹ đại chúng, gánh nặng quy định của chính phủ, tính minh bạch trong hoạch định chính sách, điểm mạnh của các chuẩn mực kiểm toán và báo cáo, sức mạnh của bảo vệ nhà đầu tư, và tình trạng thanh toán cùng hối lộ không thường xuyên.

Bất lợi cạnh tranh có thể được phân tích qua 16 thành phần quan trọng, bao gồm quyền tài sản và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, niềm tin của công chúng đối với chính trị gia, và độc lập về tư pháp Sự thiên vị trong quyết định của quan chức chính phủ, cùng với hiệu quả của khung pháp lý trong giải quyết tranh chấp và các quy định đầy thách thức, cũng đóng vai trò quan trọng Ngoài ra, lãng phí chi tiêu của chính phủ và cung cấp dịch vụ để cải thiện hiệu quả kinh doanh là những yếu tố cần xem xét Chi phí kinh doanh do tội phạm và bạo lực, tội phạm có tổ chức, cũng như độ tin cậy của dịch vụ cảnh sát ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh Hành vi đạo đức của doanh nghiệp, hiệu quả của hội đồng quản trị công ty, và bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số cũng là những yếu tố không thể bỏ qua, bên cạnh chi phí kinh doanh do khủng bố.

Trụ cột II: Cơ sở hạ tầng – được đo bằng 9 thành phần

– Lợi thế cạnh tranh – trong 3 yếu tố: Chất lượng cơ sở hạ tầng đường sắt; Chất lượng cung cấp điện ; Đường dây điện thoại cố định.

Bất lợi cạnh tranh trong lĩnh vực giao thông vận tải bao gồm sáu thành phần chính: chất lượng cơ sở hạ tầng tổng thể, chất lượng đường, chất lượng cơ sở hạ tầng cảng, chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông hàng không, số km chỗ ngồi còn trống của hãng hàng không, và đăng ký điện thoại di động.

Trụ cột III: Môi trường kinh tế vĩ mô – được đo bằng 5 thành phần

– Lợi thế cạnh tranh – trong 1 thành phần: Cân đối ngân sách của Chính phủ,

– Bất lợi cạnh tranh – trong 4 thành phần: Tổng tiết kiệm quốc gia, % GDP; Lạm phát, % thay đổi hàng năm ; Nợ chính phủ, % GDP; Xếp hạng tín dụng quốc gia.

Trụ cột IV: Sức khỏe và Giáo dục Tiểu học – được đo bằng 10 thành phần

– Lợi thế cạnh tranh – gồm 2 thành phần: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV; Tuyển sinh giáo dục tiểu học.

– Bất lợi cạnh tranh – trong 8 thành phần: Tác động kinh doanh của bệnh sốt rét;

Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét và bệnh lao đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, trong khi tác động kinh doanh của HIV/AIDS cũng không thể xem nhẹ Bên cạnh đó, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và tuổi thọ của người dân là những chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng cuộc sống Cuối cùng, chất lượng giáo dục tiểu học đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao nhận thức và cải thiện sức khỏe cho thế hệ tương lai.

Trụ cột V: Giáo dục và Đào tạo Đại học được đánh giá qua 8 thành phần quan trọng, bao gồm: tuyển sinh trung học cơ sở, tuyển sinh giáo dục đại học, chất lượng giáo dục toán và khoa học, truy cập Internet trong trường học, tính sẵn có của các dịch vụ nghiên cứu và đào tạo, chất lượng hệ thống giáo dục, chất lượng của các trường quản lý, và mức độ đào tạo nhân viên.

Trụ cột VI: Hiệu quả thị trường hàng hóa – được đo bằng 16 thành phần

Lợi thế cạnh tranh được xác định bởi 8 thành phần quan trọng, bao gồm phạm vi và ảnh hưởng của thuế, tổng thuế suất và tỷ lệ lợi nhuận, số thủ tục cần thiết để thành lập doanh nghiệp, cũng như số ngày cần thiết để bắt đầu kinh doanh Ngoài ra, mức độ phổ biến của các rào cản thương mại, tỷ lệ thuế thương mại, gánh nặng về thủ tục hải quan và tỷ lệ nhập khẩu so với GDP cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Bất lợi cạnh tranh bao gồm 8 thành phần quan trọng: mức độ thống lĩnh thị trường, mức độ cạnh tranh địa phương, hiệu quả của chính sách chống độc quyền, chi phí chính sách nông nghiệp, mức độ định hướng khách hàng, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tác động kinh doanh của các quy tắc đối với FDI, và mức độ tinh vi của người mua.

Trụ cột VII: Hiệu quả thị trường lao động – được đo bằng 8 thành phần

– Lợi thế cạnh tranh – gồm 3 yếu tố: Tính linh hoạt của việc xác định mức lương; Phương thức tuyển dụng và sa thải; Chi phí dự phòng, tuần lương.

Bất lợi cạnh tranh trong môi trường lao động bao gồm năm thành phần chính: sự hợp tác giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, vấn đề trả lương và năng suất làm việc, sự phụ thuộc vào quản lý chuyên nghiệp, hiện tượng chảy máu chất xám, và tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động so với nam giới.

Trụ cột VIII: Sự phát triển của thị trường tài chính – được đo bằng 8 thành phần

– Lợi thế cạnh tranh – trong 1 thành phần: Chỉ số quyền hợp pháp.

Bất lợi cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính bao gồm bảy thành phần chính: tính sẵn có của dịch vụ tài chính, khả năng tài trợ qua thị trường chứng khoán địa phương, sự dễ dàng trong việc tiếp cận các khoản vay, khả năng cung cấp vốn mạo hiểm, ảnh hưởng của các ngân hàng, quy chế giao dịch chứng khoán, và khả năng chi trả của các dịch vụ tài chính.

Trụ cột IX: Sẵn sàng công nghệ - được đo bằng 7 thành phần

– Lợi thế cạnh tranh – trong 1 thành phần: Đăng ký băng thông rộng di động

Thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2019

Diễn đàn kinh tế thế giới phân chia nền kinh tế toàn cầu thành ba giai đoạn phát triển dựa trên cuốn sách “Các giai đoạn tăng trưởng kinh tế: Tuyên ngôn phi cộng sản” của Walt W Rostow năm 1960 Giai đoạn đầu tiên là nền kinh tế dựa vào các yếu tố sản xuất sẵn có như đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên Giai đoạn thứ hai tập trung vào hiệu quả như động lực phát triển Cuối cùng, giai đoạn ba nhấn mạnh đổi mới và sáng tạo là yếu tố then chốt cho sự phát triển kinh tế.

Việt Nam hiện đang trong giai đoạn chuyển đổi từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, tiến gần tới mục tiêu chuyển nền kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu Các trụ cột trong báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu hỗ trợ lẫn nhau, cho thấy sự phát triển đồng đều của tất cả các trụ cột là cần thiết để đạt được tiến bộ bền vững Tuy nhiên, tài nguyên và nguồn lực có giới hạn, do đó việc xác định ưu tiên trong phát triển kinh tế là rất quan trọng Điểm số và thứ hạng trong báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu là công cụ hữu ích để xác định định hướng phát triển, nhưng không phải là yếu tố duy nhất Cần xem xét xu hướng phát triển của từng khía cạnh trong nền kinh tế để nhận diện các yếu tố đang phát triển tích cực và những yếu tố cần điều chỉnh kịp thời.

Năm 2017, Việt Nam đạt hạng 55 với tổng điểm 4.36 trên 7, tăng 5 hạng so với năm 2016, nhờ vào sự đầu tư và cải cách trong giáo dục tiểu học và y tế, với điểm số cao nhất là 5.8 Mặc dù Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã làm gián đoạn quá trình thực hiện, "Kích thước thị trường" vẫn là trụ cột quan trọng thứ hai của Việt Nam với điểm 4.9, xếp hạng 31 toàn cầu Thị trường lớn này không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm, hỗ trợ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tăng năng suất và giảm giá thành sản phẩm, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng.

Kinh tế xanh đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới Bài viết của Nguyễn Quang Thuấn và Nguyễn Xuân Trung (21/10/2012) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các nguyên tắc kinh tế xanh để phát triển bền vững Thông tin chi tiết có thể được truy cập tại https://quochoi.vn/hoatdongcuaquochoi/.

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mang lại cơ hội không thể bỏ lỡ cho Việt Nam Sự phát triển của quy mô thị trường sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ đó thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển mạnh mẽ.

Mặt khác, trụ cột “đổi mới” chỉ đạt 3.3 điểm và cũng là cột điểm thấp nhất trong năm

2017 bởi lúc việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Việt Nam vẫn còn hạn chế.

Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,44% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu là 2,23% Đổi mới là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững trong thời đại 4.0 Khi trụ cột "đổi mới" được phát triển mạnh mẽ, Việt Nam có thể giảm thiểu sự phụ thuộc vào sản phẩm và công nghệ nhập khẩu, từ đó giảm thâm hụt thương mại và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, Việt Nam cần chú trọng hơn vào việc phát triển lĩnh vực R&D.

Bảng 1: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam năm 2017 thông qua

Nguồn: Klaus Schwab, (2017), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu

2017-2018, Diễn đàn kinh tế thế giới, tr 308.

Tôi không biết!

Năm 2019, Việt Nam xếp hạng 67 trong số 137 quốc gia trong báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của WEF, tăng 10 bậc so với năm 2018, cho thấy sự vượt qua chỉ tiêu của Chính phủ theo Nghị quyết số 02/NQ-CP Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đứng thấp hơn nhiều quốc gia Đông Nam Á như Singapore, Malaysia và Thái Lan Từ năm 2018, một số trụ cột đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu đã được điều chỉnh, bao gồm việc thêm trụ cột công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), tách riêng trụ cột y tế, và thay thế các trụ cột giáo dục bằng trụ cột kỹ năng Đồng thời, trụ cột mức độ tinh thông trong kinh doanh đã được đổi thành sự năng động trong kinh doanh, với mục đích chung là đánh giá khả năng phát triển kinh doanh của quốc gia.

Bảng 2: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của các nước ASEAN

Nguồn: Eko Priyo Purnomo, (10/2020), ASEAN Country Global Competitiveness

Index 2017 – 2019, truy cập từ https://www.researchgate.net/figure/.

So với năm 2017, các trụ cột y tế, kích thước thị trường và thị trường lao động vẫn tiếp tục phát triển, trong khi trụ cột thể chế lại có xu hướng giảm sút Một số nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển lùi này bao gồm:

Tình trạng tham nhũng và quản lý lỏng lẻo tài sản nhà nước đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự minh bạch và công khai trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước.

Tình trạng bất động sản không rõ nguồn gốc tại Việt Nam đang gây khó khăn cho việc đầu tư và kinh doanh Nhiều người mua nhà gặp phải các vấn đề pháp lý phức tạp do chủ đầu tư thiếu giấy tờ hợp lệ, dẫn đến một số dự án bị trì hoãn hoặc ngừng xây dựng Điều này đã làm giảm uy tín của thị trường bất động sản trong nước.

Sự chậm trễ trong cải cách thủ tục hành chính và giảm bớt rào cản thương mại, đặc biệt là trong xử lý thủ tục hải quan và nhập khẩu hàng hóa, đã gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động và đầu tư.

Bảng 3: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam năm 2018 thông qua 12 trụ cột

Nguồn: Klaus Schwab, (2018), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu

2018, Diễn đàn kinh tế thế giới, tr 599.

Bảng 4: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam năm 2019 thông qua 12 trụ cột

Nguồn: Klaus Schwab, (2019), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu

2019, Diễn đàn kinh tế thế giới, tr 594.

Trụ cột “môi trường kinh tế vĩ mô” của Việt Nam đã duy trì vị thế cao trong suốt 3 năm qua, với mức tăng trưởng năm 2018 đạt trên 6%, vượt xa mức trung bình 2.9% của khu vực Đông Á Thái Bình Dương Thành công này đến từ việc kiểm soát lạm phát và giảm nợ công, giúp chính phủ có thêm nguồn lực đầu tư Chính phủ cũng áp dụng các chính sách kinh tế vĩ mô để ổn định kinh tế và giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng 4G, 5G và các dịch vụ thanh toán điện tử đã nâng cao chỉ số sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) từ 43.3 lên 69.0 điểm, xếp hạng 41 thế giới vào năm 2019 Sự đóng góp của các công ty công nghệ lớn như FPT, VNPT, Viettel cùng với các chính sách hỗ trợ công nghiệp 4.0 đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ICT tại Việt Nam.

Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam đã cải thiện rõ rệt về điểm số và thứ hạng trong giai đoạn 2017-2019, phản ánh thực tiễn quốc gia Để phát triển kinh tế bền vững, Nhà nước cần tập trung vào việc phát triển đồng đều các trụ cột khác, bao gồm đẩy mạnh cải cách kinh tế, cải cách hành chính, tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo, đổi mới công nghệ, quản lý môi trường kinh doanh, và thu hút đầu tư nước ngoài.

Lợi thế và hạn chế của Việt Nam trong công cuộc đổi mới công nghệ từ năm

2.3.1 Những lợi thế trong năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong công cuộc đổi mới công nghệ giai đoạn 2017 – 2019

Tình hình thế giới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng và phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Toàn cầu hóa và hợp tác phát triển là xu thế chung, không chỉ của thế giới mà còn của Việt Nam Để đánh giá sự phát triển, cần xem xét các trụ cột như số lượng người sử dụng Internet, khả năng phủ rộng Internet và băng thông điện thoại Những yếu tố này giúp chỉ ra lợi thế mà Việt Nam đã đạt được, từ đó có thể gìn giữ và phát huy để nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới việc trở thành một cường quốc.

Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng, đóng vai trò là động lực tăng trưởng cho khu vực và thế giới Nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, Việt Nam có diện tích 331.212 km², giáp Trung Quốc ở phía Bắc, Lào và Campuchia ở phía Tây, và biển Đông ở phía Đông và Nam Vùng biển của Việt Nam tiếp giáp với các nước như Trung Quốc, Campuchia, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, với quyền chủ quyền và quyền tài phán khoảng 1.000.000 km² Trên bản đồ, Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược, kết nối hai vùng kinh tế biển và lục địa của Đông Nam Á và châu Á, mang lại lợi thế lớn cho phát triển kinh tế.

Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi khi nằm trên ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc tế, cùng với các tuyến đường bộ và đường sắt xuyên Á Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của khoảng 300 triệu người trong khu vực Vị trí này không chỉ tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

Theo báo cáo của WEF (2017-2019), Việt Nam xếp hạng 19 và 22 về kết nối tàu biển và cảng hàng không, cho thấy vị trí quan trọng của Việt Nam trong vận tải quốc tế và sự mong muốn hợp tác cùng có lợi từ các quốc gia khác Hiện tại, Việt Nam là thành viên của gần 100 tổ chức khoa học và công nghệ quốc tế, có quan hệ hợp tác với hơn 90 quốc gia và tổ chức Hơn 600 thỏa thuận hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ đã được thực hiện, cùng với hơn 500 nhiệm vụ nghiên cứu song phương giữa các tổ chức khoa học.

Công nghệ Việt Nam đang được củng cố thông qua sự hợp tác với các tổ chức khoa học - công nghệ quốc tế, bao gồm cả các nước lớn và 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong mối quan hệ với các cường quốc toàn cầu.

Việt Nam hiện có khoảng 100 triệu người, chiếm 1.24% dân số thế giới và đứng thứ 15 toàn cầu, với tỷ lệ dân số trẻ và người dùng di động thông minh cao trên 70%, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công nghệ Từ năm 2007, Việt Nam đang trong giai đoạn "dân số vàng" với tỷ lệ trẻ em dưới 30% và người cao tuổi dưới 15%, kéo dài từ 30-35 năm Hàng năm, gần 50.000 sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT, cùng với hơn 64.000 doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ số Ngành Công nghệ thông tin có khoảng 1.030.000 lao động, chiếm 1,88% tổng số lao động và đóng góp 14,3% vào nền kinh tế.

11 Hà Thư, (25/05/2019), Cơ cấu “dân số vàng”, nếu không tận dụng, sẽ lỡ thời cơ, truy cập từ https://giadinh.suckhoedoisong.vn/.

GDP của Việt Nam đang được hưởng lợi từ thời kỳ cơ cấu dân số vàng, khi lực lượng lao động gia tăng, dẫn đến sản lượng sản phẩm tăng lên và tài sản xã hội, gia đình được bảo đảm Sự giảm sút dân số dưới 15 tuổi trong giai đoạn này tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phòng chống suy dinh dưỡng, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, cải thiện giáo dục phổ thông, đồng thời giảm bớt chi phí cho y tế và an sinh xã hội.

Thời kỳ "dân số vàng" là cơ hội quý giá cho Việt Nam để phát triển như nhiều quốc gia khác Để kéo dài giai đoạn này, cần duy trì mức sinh hợp lý, làm chậm quá trình già hóa và tăng cường cơ hội việc làm Việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đặc biệt trong ngành công nghệ, là rất quan trọng Nếu không tận dụng tốt cơ cấu "dân số vàng", Việt Nam có thể đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt khi tỷ lệ phụ thuộc gia tăng, dẫn đến nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình như một số quốc gia đã trải qua.

Chính sách ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp Công nghệ thông tin được quy định tại Nghị định số 154/2013/NĐ-CP, nhằm phát triển khu công nghệ thông tin (CNTT) tập trung vào nghiên cứu, đào tạo, sản xuất và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ CNTT Để được công nhận là khu CNTT, cần có ít nhất 2000 chuyên gia, công nhân CNTT, trong đó các đơn vị sản xuất phần mềm và dịch vụ CNTT phải có tối thiểu 1.000 nhân sự chuyên môn kỹ thuật Đối với khu vực sản xuất phần mềm, diện tích đất tối thiểu là 01 héc ta, trong khi các hoạt động khác yêu cầu tối thiểu 05 héc ta Doanh nghiệp sẽ được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 4 năm đầu và giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo.

12 chính sách ưu đãi mới dành cho doanh nghiệp công nghệ thông tin được công bố vào ngày 08/11/2013 Trong những trường hợp đặc biệt, thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể được kéo dài, tuy nhiên tổng thời gian áp dụng thuế suất 10% không được vượt quá 30 năm.

Giải pháp này được coi là hình thức chi tiêu thuế của Chính phủ, cho phép doanh nghiệp nhận một khoản tiền nhất định từ hoạt động đầu tư, dẫn đến giảm doanh thu thuế của Chính phủ Ưu đãi thuế có thể được thực hiện qua hai cách: khấu trừ tỷ lệ dựa trên số tiền đầu tư mới trong năm hoặc khấu trừ tỷ lệ dựa trên số tiền đầu tư vượt mức bình quân trong một số năm Giảm thuế đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp có đầu tư và thu nhập mới, tạo điều kiện cho doanh nghiệp công nghệ phát triển và khuyến khích sự hình thành của nhiều doanh nghiệp mới nhờ vào ưu đãi thuế từ Chính phủ.

Sự chú trọng đến nghiên cứu và phát triển (R&D) là rất quan trọng, bao gồm việc cải tiến công nghệ sản xuất và chế biến, cũng như phát triển công nghệ mới để tạo ra sản phẩm chất lượng với giá thành tối ưu Hoạt động “tình báo công nghệ” giúp doanh nghiệp học hỏi từ đối thủ và phát triển công nghệ riêng Đối với sản phẩm, cần nghiên cứu và phát triển quy trình sản xuất, trong khi doanh nghiệp dịch vụ cần cải tiến quy trình phục vụ và áp dụng quy trình tối ưu vào hoạt động Theo báo cáo năm 2019, ngân sách đầu tư cho R&D chiếm 0.5% tổng GDP, với doanh nghiệp Việt Nam đóng góp khoảng 64% vào R&D quốc gia.

Các tập đoàn lớn như Viettel, PVN, Vingroup, FPT và Rạng Đông đang tích cực tham gia vào chuyển giao công nghệ và phát triển R&D Viettel đã thành lập Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel vào năm 2010, theo mô hình của các tập đoàn lớn toàn cầu Tập đoàn này dành 10% lợi nhuận trước thuế, tương đương 2.500 tỷ đồng, để đầu tư vào Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ.

Tôi không biết!

Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp nhận thức rõ rằng đầu tư vào R&D là giải pháp bền vững để nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập thị trường Sự gia tăng đầu tư vào các trung tâm R&D của các tập đoàn lớn đã tạo ra môi trường thuận lợi cho việc sở hữu bằng sáng chế sản phẩm mới, từ đó giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, điều chỉnh giá trị cạnh tranh và tăng lợi nhuận Điều này không chỉ chứng minh năng lực và tầm nhìn của doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong công cuộc đổi mới công nghệ hiện nay

Khoa học và công nghệ là động lực chính cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế Tiềm năng công nghệ phản ánh trí tuệ và sự sáng tạo của toàn xã hội.

Việt Nam, với tiềm lực khoa học và công nghệ còn yếu, đang trong quá trình chuyển mình từ nền kinh tế kém phát triển sang chủ nghĩa xã hội Để thực hiện thành công công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cần xây dựng một nền tảng khoa học và công nghệ vững chắc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp này Đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển với ngành công nghiệp hiện đại và tiên tiến trong nhiều lĩnh vực then chốt Quá trình này yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng sâu rộng, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh, dựa vào tri thức, đổi mới và sáng tạo, trở thành yếu tố thiết yếu trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu.

Tôi không biết!

Để phát triển đất nước bền vững, cần chuyển đổi tư duy từ phát triển công nghiệp phụ thuộc sang sáng tạo và làm chủ công nghệ Việc thoát khỏi lao động giá rẻ và các ngành công nghiệp gia công là cần thiết, vì hiện tại, công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn chậm phát triển và phụ thuộc vào nhập khẩu Đại hội XIII đã chỉ ra rằng mô hình tăng trưởng chưa dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, do đó cần phát triển các sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng và thân thiện với môi trường Cần chú trọng vào công nghệ hiện đại trong các lĩnh vực then chốt và mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế, với mục tiêu tạo đột phá trong công nghệ cao và giải quyết việc làm thông qua công nghệ sử dụng nhiều lao động.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và khoa học xã hội, nhằm làm rõ nhận thức về chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam Để xây dựng cơ sở khoa học vững chắc, cần vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo tiền đề cho việc hoạch định và triển khai hiệu quả các chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều này sẽ giúp giải quyết những vấn đề mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đổi mới hệ thống.

22 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t I, tr.211.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với mục tiêu giữ vững ổn định chính trị và phát triển con người Đảng Cộng sản Việt Nam cần đóng vai trò lãnh đạo duy nhất và toàn diện trong mọi hoạt động xã hội, nhằm huy động nguồn lực quốc gia đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại Việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải tuân theo đường lối và quan điểm của Đảng, đảm bảo thành công cho sự nghiệp này theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc quản lý kinh tế - xã hội, thực hiện đường lối công nghiệp hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam Qua việc thi hành các cơ chế và chính sách, Nhà nước điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thành công của quá trình này phụ thuộc trực tiếp vào sự quản lý hiệu quả của Nhà nước.

Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sang giai đoạn mới: thâm dụng tri thức và đột phá đổi mới sáng tạo.

Trình độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa của nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn chưa đạt đến mức của các nước tiên tiến, nhưng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã mở ra cơ hội cho Việt Nam phát triển thông qua nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, đặc biệt trong các lĩnh vực mà nước ta có nhu cầu và thế mạnh Theo Đại hội XIII, cần "đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng," nhằm bắt kịp và vượt lên so với khu vực và thế giới.

Việt Nam cần tăng cường nghiên cứu để hiểu rõ tiềm lực quốc gia và tiếp cận công nghệ cao cùng các thành tựu khoa học mới Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc điều tra và thống kê là rất cần thiết để phát triển bền vững.

Để thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng công nghệ và tăng năng suất lao động, cần đánh giá nhu cầu công nghệ và khả năng cung ứng, đồng thời khai thác nguồn tài sản trí tuệ Việc thực hiện các báo cáo phân tích xu hướng công nghệ sẽ tạo áp lực cạnh tranh trong môi trường kinh doanh Hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn cần được mở rộng và nâng cao, hài hoà với tiêu chuẩn quốc tế Từ đó, triển khai kế hoạch và đề ra chiến lược hợp lý cho việc vận dụng công nghệ cao vào các ngành kinh tế - xã hội, đồng thời bảo vệ và sử dụng lâu dài các tiềm lực quốc gia.

Mở rộng hợp tác khoa học - công nghệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế là cần thiết để tiếp cận và kế thừa những thành tựu khoa học - công nghệ toàn cầu, đồng thời thu hút sự ủng hộ và hỗ trợ từ quốc tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ và hiệu quả của quan hệ kinh tế đối ngoại đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Việc mở rộng quan hệ này không chỉ thu hút nguồn vốn từ bên ngoài mà còn tiếp nhận công nghệ và kỹ thuật hiện đại, đồng thời mở rộng thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng.

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cùng với xu thế toàn cầu hoá kinh tế đã tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia Việc mở rộng quan hệ kinh tế với các nước khác là cần thiết, giúp các nước chậm phát triển tiếp cận vốn, kỹ thuật và công nghệ để thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, để biến khả năng này thành hiện thực, cần có một đường lối kinh tế đối ngoại đúng đắn, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ năm, để phát triển một nền khoa học tiên tiến, cần xây dựng tiềm lực thông qua việc đẩy mạnh đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học, chú trọng vào nguồn nhân lực và tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các ngành khoa học và công nghệ Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia không chỉ phụ thuộc vào vốn, kỹ thuật và tài nguyên, mà còn cần phát triển năng lực con người tương xứng Nguồn nhân lực này phải là những cá nhân có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh, sáng tạo, và làm việc vì sự độc lập và phồn vinh của Tổ quốc; họ cần được trang bị kiến thức văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sản xuất kinh doanh, và khả năng điều hành vĩ mô nền kinh tế, đạt trình độ khoa học - kỹ thuật ngang tầm thế giới.

Trong bối cảnh phát triển nguồn nhân lực mới, việc xây dựng giai cấp công nhân có vai trò then chốt, vì chỉ có một giai cấp công nhân vững mạnh về chính trị, tổ chức và chuyên môn mới có thể liên kết với nông dân và trí thức, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Đầu tư cho giáo dục và đào tạo cần được xem là ưu tiên hàng đầu, nhằm tạo ra một nguồn nhân lực đồng bộ trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội, công nghệ và quản lý Quá trình xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần được thực hiện với tốc độ và quy mô phù hợp, đồng thời phát huy tối đa khả năng và sáng tạo của người lao động để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, góp phần vào công cuộc đổi mới công nghệ và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Cuối cùng, tăng cường các hoạt động tôn vinh, truyền thông, nâng cao nhận thức về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Ngày đăng: 16/04/2023, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục & Đào tạo, (2006), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị Mác –Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
2. Bộ Giáo dục & Đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị Mác –Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2019
3. Bộ Giáo dục & Đào tạo, (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị Mác –Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2021
4. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định 02/NĐ-CP Về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định02/NĐ-CP Về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môitrường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và địnhhướng đến năm 2021
5. Nguyễn Tuyết Anh, (09/06/2021), Cạnh tranh là gì? Cách phân loại cạnh tranh, truy cập từ https://luanvan1080.com/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh là gì? Cách phân loạicạnh tranh
6. Nguyễn Chinh, (12/05/2020), Chính sách chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, truy cập từ https://mof.gov.vn/webcenter/portal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách chuyển giao công nghệ tạiViệt Nam
7. Daniel Costa & Timothy J. Kehoe, (22/03/2016), The Stage of Economic Growth Revisited, Part 1, truy cập từ https://www.minneapolisfed.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Stage of EconomicGrowth Revisited
8. Tô Thị Phương Dung, (20/11/2022), Phân tích vị trí địa lý Việt Nam có thuận lợi và khó khăn gì?, truy cập từ: https://luatminhkhue.vn/phan-tich-vi-tri-dia-ly-viet-nam-co-thuan-loi-va-kho-khan-gi.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích vị trí địa lý Việt Nam cóthuận lợi và khó khăn gì
9. Eko Priyo Purnomo, (10/2020), ASEAN Country Global Competitiveness Index 2017 – 2019, truy cập từ https://www.researchgate.net/figure/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN Country Global CompetitivenessIndex 2017 – 2019
10. Hoàng Giang, (5/10/2021), Tăng mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ vượt cú sốc COVID-19, truy cập từ https://baochinhphu.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệvượt cú sốc COVID-19
11. Hoàng Giang, (04/09/2021), Đầu tư vào R&D tại Việt Nam: Cần sự vào cuộc hơn nữa của các DN lớn, truy cập từ: https://baochinhphu.vn/dau-tu-vao-rd-tai-viet-nam-can-su-vao-cuoc-hon-nua-cua-cac-dn-lon-102299707.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư vào R&D tại Việt Nam: Cần sự vàocuộc hơn nữa của các DN lớn
12. Nguyễn Chí Hải & Huỳnh Thị Ly Na, (10/03/2021), Đổi mới sáng tạo trong bối cảnh phát triển nền kinh tế số ở Việt Nam, truy cập từ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới sáng tạotrong bối cảnh phát triển nền kinh tế số ở Việt Nam
13. Vân Khanh & Hồng Sơn, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP): Cơ hội không thể bỏ lỡ, truy cập từ http://www.hanoimoi.com.vn/ban-in/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương(TPP): Cơ hội không thể bỏ lỡ
14. Klaus Schwab, (2017), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017, Diễn đàn kinh tế thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu2017
Tác giả: Klaus Schwab
Năm: 2017
15. Klaus Schwab, (2018), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 2018, Diễn đàn kinh tế thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu2018
Tác giả: Klaus Schwab
Năm: 2018
16. Klaus Schwab, (2019), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019, Diễn đàn kinh tế thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu2019
Tác giả: Klaus Schwab
Năm: 2019
17. Nguyên Long, (22/12/2022), Xung đột Nga - Ukraine thổi bùng khủng hoảng năng lượng toàn cầu, truy cập từ: https://thanhnien.vn/xung-dot-nga-ukraine-thoi-bung-khung-hoang-nang-luong-toan-cau-1851533310.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột Nga - Ukraine thổi bùng khủnghoảng năng lượng toàn cầu
18. Hoàng Minh, (22/09/2021), Masan thâu tóm thương hiệu nào trước lấn sân sang viễn thông?, truy cập https://kienthuc.net.vn/kinh-doanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Masan thâu tóm thương hiệu nào trước lấnsân sang viễn thông
19. Hạnh Nguyên, (26/01/2021), Bốn trụ cột phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam, truy cập từ http://tsc.edu.vn/tin-tuc/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn trụ cột phát triển khoa học, công nghệvà đổi mới sáng tạo Việt Nam
20. Bích Ngọc, (24/04/2019), Việt Nam: Mức độ sẵn sàng tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0, truy cập từ https://consosukien.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: Mức độ sẵn sàng tham gia Cáchmạng công nghiệp 4.0

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w