GIỚI THIỆU BÀI VIẾT : ĐẨY MẠNH CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU HÓA GVC NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM Lĩnh vực ngiên cứu chính: Kinh tế, Hội nhập, Thương Mại Lời cam
Trang 2GIỚI THIỆU
BÀI VIẾT : ĐẨY MẠNH CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU HÓA GVC NHẰM NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM
Lĩnh vực ngiên cứu chính: Kinh tế, Hội nhập, Thương Mại
Lời cam đoan:
Chúng tôi xin cam đoan bài viết “Đẩy mạnh chuỗi giá trị toàn cầu hóa GVC nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh ngành thủy sản Việt Nam” chưa từng được công bố trên tạp chí nào trước đây Chúng tôi
cam đoan không gửi bài viết đến tạp chí nào khác trong thời gian chờ xét duyệt
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3ĐẨY MẠNH CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU HÓA GVC NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH NGÀNH THỦY SẢN
VIỆT NAM
Tóm tắt : Ngành thủy sản hiện đang là một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, đặc biệt là một
trong những ngành xuất khẩu hàng đầu, đóng góp lượng lớn ngoại tệ cần thiết cho sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà Xây dựng và phát triển chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu là xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế thế giới, là nhân tố quan trọng thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế giúp ngành thủy sản tái cơ cấu thành công theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Bài nghiên cứu đi sâu vào phân tích thực trạng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra những thành công, hạn chế cũng như cơ hội và thách thức với ngành thủy sản Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hóa và nâng cao năng lực
cạnh tranh ngành thủy sản
Từ khóa: Chuỗi giá trị, chuỗi giá trị toàn cầu hóa, năng lực cạnh tranh, thủy sản, Việt Nam
Abstract: The fishery is currently a key economic sector of Vietnam, especially one of the leading
export industries, contributing a large amount of foreign currency for the economic development of the country Building and developing a global fisheries value chain is an indispensable trend of the world economic integration process, which is an important factor in changing the economic growth model to help the fisheries industry restructuring successfully directions to increase added value and sustainable development The research delves into the situation of participation in global value chains and the competitiveness of Vietnam's seafood industry The research has shown the successes, limitations as well as opportunities and challenges for Vietnam's seafood industry On that basis, proposed some basic solutions to promote participation in the globalization value chain and improve the competitiveness of the fisheries sector
Key words: Value chain, GVC ( Global value chain), competitiveness, fisheries, Viet Nam
Trang 4I Đặt vấn đề
Trước xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, việc hợp tác giữa các quốc gia ngày càng được đẩy mạnh và khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu không còn xa lạ với các doanh nghiệp Nó đem lại cơ hội cho các quốc
gia khai thác hiệu quả nguồn lực kinh tế và thu về những lợi ích nhất định, từ đó, thúc đẩy kinh tế phát
triển Với lợi thế tự nhiên mà Việt Nam có được, ngành thủy sản đang được chú trọng phát triển mũi
nhọn và ngày càng khẳng định được vị thế quan trọng với những mặt hàng được ưa chuộng như: cá tra,
cá basa, tôm nước lợ, cá ngừ,… Tuy nhiên, trong quá trình khai thác, chế biến và cung ứng, ngành thủy
sản Việt Nam đã bộc lộ những mặt hạn chế về công nghệ chế biến, bảo quản và kiểm định chất lượng,
Khi tham gia các tổ chức quốc tế và việc ký kết các thỏa thuận đa phương, ngành thủy sản Việt Nam sẽ
phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các quốc gia khác, đòi hỏi chúng ta phải tập trung vào một vài công
đoạn trong chuỗi giá trị toàn cầu để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng Xuất phát từ thực tế trên, chúng
tôi đã chọn đề tài: “Đẩy mạnh chuỗi giá trị toàn cầu hóa GVC nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành
thủy sản Việt Nam” để nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của bài viết là những vấn đề lý luận và thực
tiễn về chuỗi giá trị thủy sản với phạm vi nghiên cứu là ngành thủy sản Việt Nam Bài viết này sẽ phân
tích tình hình hiện nay, đánh giá cụ thể về những thuận lợi và khó khăn của ngành thủy sản Việt Nam và
từ đó, đưa ra những giải pháp tối ưu, hiệu quả để nâng cao sức cạnh tranh với các quốc gia trên thế giới
khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu
II Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
1 Cơ sở lý thuyết 1.1 Chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị (Value chain) là chuỗi các hoạt động của một doanh nghiệp trong lĩnh vực cụ thể
nhằm tăng giá trị sản phẩm tại mỗi bước của quy trình, bao gồm: thiết kế, sản xuất và đưa thành phẩm
chất lượng đến người tiêu dùng Khái niệm này lần đầu tiên được đưa ra bởi Michael Porter vào năm
1985 trong cuốn sách nổi tiếng “Competitive Advantage”
Hình 1 Sơ đồ chuỗi giá trị
Trang 5Chuỗi giá trị được xây dựng dựa trên việc xem xét quá trình sản xuất như một hệ thống với 2 nhóm hoạt động chính: Hoạt động chủ yếu (Nguồn cung cấp đầu vào, Sản xuất và Đầu ra của sản phẩm)
và hoạt động hỗ trợ (nhân sự, cộng nghệ, kết cấu hạ tầng,…)
Lượng giá trị gia tăng tại các khâu trong chuỗi giá trị sản phẩm được thể hiện cụ thể qua mô hình trên Thông qua việc phân tích chuỗi giá trị, doanh nghiệp sẽ có cái nhìn tổng quan về quy trình sản
xuất, xác định chi phí và đơn giản hóa việc cái tiến quy trinh, từ đó tìm ra cách tăng hiệu quả làm việc,
tối ưu hóa công sức và tăng lợi nhuận Đồng thời mở ra những cơ hội cho các cá nhân, tổ chức tham gia
vào các công đoạn trong chuỗi cũng như nhằm cải tạo chuỗi giá trị này Từ đó, các doanh nghiệp có thể
nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của mình và tập trung chuyên môn hóa trước xu hướng toàn cầu hóa hiện
nay của thế giới
1.2 Chuỗi giá trị toàn cầu (Global value chain)
Trên thế giới đã có nhiều học thuyết đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị toàn cầu Tuy nhiên đặc
biệt nhất, trong cuốn sách “Handbook for value chain”, Raphael Kaplinsky và Mike Morris cho rằng đó
là “một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham
gia, chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo tiếp thị đến
phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng.” Đây là một kết quả tất yếu khi các rào cản về thông tin, các yếu tố
đầu vào (nguyên vật liệu, vốn và lao động), hàng hóa trên phạm vi toàn cầu giữa các quốc gia dần được
phá bỏ
Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu khổng chỉ giúp các quốc gia tham gia nâng cao hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh của cả một ngành Ở đó, mỗi quốc gia,
doanh nghiệp sẽ tập trung nâng cao hiệu quả ở công đoạn mà mình đảm nhận để đạt được hiệu quả cao
nhất mà chi phí lại thấp nhất Việc kết hợp này không chỉ gắn kết các quốc gia, đẩy mạnh các mối liên
kết tạo thành một mạng lưới chung mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế của từng quốc gia trong mạng lưới
đó Các mâu thuẫn sẽ được giải quyết triệt để nhằm khắc phục những bất đồng và cùng hướng đến sự
hợp tác toàn diện, bền vững Và cũng nhờ đó, sản phẩm được nâng cao chất lượng và toàn diện hơn
1.3 Chuỗi giá trị toàn cầu của ngành thủy sản
Chuỗi giá trị thủy sản: là tập hợp các hoạt động từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng
gồm các tác nhân: Người sản xuất (nuôi trồng và đánh bắt) → Người chế biến → Người kinh doanh, tác
động qua lại lẫn nhau dựa trên dòng thông tin, dòng hàng hóa (dịch vụ), dòng tiền trên chuỗi và chịu tác
động bởi yếu tố bên ngoài chuỗi: hệ thống cung ứng, hoạt động marketing, hệ thống luật pháp, cung cầu
hàng hóa
Chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu: là chuỗi gồm hàng loạt các hoạt động tạo ra và hình thành giá trị
của thủy sản từ khâu đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thô (sơ chế) và phân phối, tiêu thụ trên thị trường
toàn cầu với sự tham gia của tất cả các bên liên quan từ ngư dân đánh bắt hay người dân nuôi trồng tới
các công ty chế biến, công ty thương mại và phân phối sản phẩm thủy sản cuối cùng tới người tiêu dùng
Trang 6Hình 2 Sơ đồ chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu
1.4 Năng lực cạnh tranh
Hiện nay, các thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh” được
sử dụng nhiều ở Việt Nam và chúng có thể dùng để thay thế cho nhau Theo M.Porter, hiện chưa có một
định nghĩa nào về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến Trong Từ điển thuật ngữ
chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc
gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”
Lợi thế cạnh tranh theo “Mô hình kim cương” của Michael Porter: chỉ ra 4 yếu tố chính tác độ và
quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia
Hình 3 Mô hình kim cương
Điều kiện đầu vào sẵn có: gồm vốn, con người, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng vật chất và hành chính, công nghệ thông tin, tác động đến năng suất lao động doanh nghiệp
Trang 7 Chiến lược cơ cấu và sự cạnh tranh của công ty: là những chính sách thúc đẩy năng suất lao động, cơ chế khuyến khích lao động nhằm tạo ra giá trị, tăng khả năng cạnh tranh cho công ty
Điều kiện nhu cầu: ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và mức cầu của khách hàng, đòi hỏi doanh nghiệp phải đổi mới và tạo ra các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng cao
Các ngành hỗ trợ: là sự hỗ trợ của địa phương, bộ ngành có liên quan, các chính sách của chính phủ tạo điều khiển thúc đẩy việc sản xuất, kinh doanh của các ngành công nghiệp cụ thể
2 Tổng quan nghiên cứu 2.1 Nghiên cứu ngoài nước
Khái niệm chuỗi giá trị lần đầu được đưa ra bởi Michael Porter vào năm 1985 trong cuốn sách Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance Porter đã sử dụng khung phân
tích chuỗi giá trị để xem xét công ty, xác định vị thế doanh nghiệp trên thị trường, giúp doanh nghiệp
tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh của mình
Sau Porter, có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này Trong đó có thể kể đến nghiên cứu của Gereffi and Korzeniewicz (1994), Kaplinsky (1999) Các tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận toàn cầu
về chuỗi giá trị, đưa ra khung phân tích để hiểu cách thức mà các công ty và quốc gia hội nhập toàn cầu
Nghiên cứu của Marine Change (2016) cung cấp những phát hiện và khuyến nghị chính từ nghiên cứu Phân tích chuỗi giá trị, được thực hiện vào cuối năm 2016 để đánh giá ngành công nghiệp cá
ngừ Bitung
Một nghiên cứu khác đăng trên International Journal of Business Marketing and Management (2018) đã chỉ ra và phân tích mối quan hệ giữa nông dân, sơ đồ chuỗi giá trị và giá cả, tính khả thi trong
kinh doanh nhằm thúc đẩy sản xuất sản phẩm cá da trơn
2.2 Nghiên cứu trong nước
Trong bài nghiên cứu về “Phát triển chuỗi giá trị - công cụ gia tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp” (2009), các tác giả Doris Baker, Phạm Ngọc Trâm và Hoàng Đình Tú đã đề ra phương pháp
sáng tạo phát triển chuỗi giá trị cá tra - cá basa
Trong luận án Tiến sĩ về “Phân tích chuỗi giá trị thủy sản tỉnh Nghệ An” (2014), tác giả Nguyễn Thị Thúy Vinh đã tập trung nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản nuôi trồng (tôm), đánh bắt (cá
cơm) của tỉnh Nghệ An Từ đó đề xuất định hướng và giải pháp phát triển chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh
Trang 8Lưu Tiến Thuận, Bùi Văn Trịnh, Võ Thành Danh với bài viết “ Các cách tiếp cận chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng trong phân tích ngành hàng ” (2016) đã phân tích cách tiếp cận khác có liên quan đến
việc nghiên cứu và cải thiện chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
ThS Dương Hoàng Lan Chi trong nghiên cứu về “Phát triển chuỗi liên kết giá trị trong ngành thủy sản Việt Nam” (2017) đã chỉ ra những tồn tại trong việc phát triển các doanh nghiệp thủy sản theo
liên kết chuỗi, từ đó đưa ra giải pháp nhằm tạo môi trường phát triển chuỗi liên kết
2.3 Lỗ hổng nghiên cứu
Các nghiên cứu trên đã phân tích chuỗi giá trị toàn cầu nói chung và chuỗi giá trị thủy sản nói riêng ở các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên trong tình hình hiện nay, với việc Cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư là xu thế mới, chưa có đề tài nghiên cứu ứng dụng thành tựu cách mạng công nghiệp
lần thứ tư vào quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản Việt Nam Ngoài ra, trong
lúc bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang tiến triển sâu rộng với các FTA “thế hệ mới” như CPTPP,
Viet Nam – EU… mở ra triển vọng to lớn cho thương mại và đầu tư, phổ cập hóa các tiêu chuẩn về bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ (IPR), môi trường và tiêu chuẩn lao động…, đòi hỏi phải rà soát toàn bộ chính
sách, hệ thống pháp luật, nghiên cứu, phân tích những vấn đề mới trong quá trình hội nhập Và đặc biệt
là cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung bùng nổ, liệu có tác động đến trao đổi thương mại hóa toàn
cầu, trong đó có sản phẩm thủy sản Việt Nam
III Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
Trong đó, có một số phương pháp cơ bản nhất là:
Phương pháp định tính: sử dụng hệ thống số liệu, dữ liệu lịch sử và sử dụng lý thuyết về chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu và mô hình kim cương (diamond model) của Michael Porter để phân tích năng lực cạnh tranh của các sản phẩm thủy sản Việt Nam
Phương pháp thống kê: Từ việc thu thập dữ liệu, số liệu về hoạt động phát triển thị trường hàng thủy sản của Việt Nam trong những năm qua để đưa ra những phân tích, đánh giá về thực trạng hoạt động này
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: từ những tài liệu đã có viết về ngành thủy sản, nhóm tác giả sẽ phân tích, tổng hợp lại nhằm có cái nhìn toàn diện và thực tế nhất về đối tượng nghiên cứu, để đạt được mục tiêu nghiên cứu
IV Kết quả nghiên cứu
Trang 91 Thực trạng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và năng lực cạnh tranh ngành thủy sản Việt
Nam
1.1 Thực trạng tham gia vào GVC ngành thủy sản Việt Nam
Khả năng khép kín quy trình sản xuất có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp ngành thủy sản nước ta Doanh nghiệp trong ngành có hoạt động sản xuất càng khép kín thì khả năng tự chủ nguồn
nguyên liệu và hiệu quả kinh doanh càng cao
Hình 4 Sơ đồ Mối liên kết dọc giữa các chủ thể trong ngành thủy sản
Nguồn: VASEP
Theo sơ đồ trên, hiện nay, Việt Nam đã tham gia vào tất cả các khâu của GVC ngành thủy sản
Tuy nhiên, độ hiệu quả của các khâu chưa cao do vẫn có sự can nghiệp của doanh nghiệp nước ngoài
1.1.1 Nguồn con giống trong nuôi trồng thủy sản
Năm 2018, việc sản xuất cung ứng giống thủy sản chủ lực như tôm nước lợ, cá tra và các đối tượng có giá trị kinh tế cơ bản hoàn thành mục tiêu
Về tôm nước lợ, có 2.457 cơ sở sản xuất giống, sản lượng ước đạt 120 triệu con, cơ bản cung ứng đủ nhu cầu cho trên 720.000 ha diện tích nuôi cả nước Về cá tra, với khoảng 230 cơ sở sản xuất
giống, có thể cho ra trên 25 tỷ cá tra bột Cùng với đó, sản xuất giống nhuyễn thể, cá biển; cá nước lạnh,
tôm càng xanh và một số đối tượng thủy đặc sản khác cũngđược quan tâm phát triển Năm 2018 lần đầu
tiên trong nước đã chủ động được công nghệ sản xuất giống nhân tạo 3 loài cá tầm, góp phần chủ động
con giống phục vụ nuôi thương phẩm
Trong thời gian vừa qua nhu cầu về con giống chất lượng cao tăng lên nên Bộ NN&PTNT tăng cường nguồn lực đầu tư cho các viện nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ sản xuất giống của hầu hết các
đối tượng nuôi chủ lực; doanh nghiệp cũng chọn tạo, mở rộng quy mô và sản xuất đủ con giống bố mẹ
Trang 10chất lượng cao Tuy nhiên, đối với tôm nước lợ, đã có tổng số gần 200.000 con tôm giống bố mẹ nhập
khẩu được cung cấp chủ yếu từ Công ty SIS Hawaii, SIS Singapore và Công ty CP - Thái Lan
1.1.2 Thức ăn cho vùng nuôi thủy sản
Theo Tổng cục thủy sản, năm 2018, nước ta có khoảng 130 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản với sản lượng 3,77 triệu tấn, đáp ứng 85,6% nhu cầu trong nước Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu trong
nước chưa đủ đáp ứng như cầu sản xuất thức ăn toàn ngành nên nước ta vẫn phải nhập khẩu 50%
nguyên liệu từ nước ngoài, tương đương 5,5 tỷ USD Hiện thị phần thức ăn thủy sản gần như nằm trong
tay các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước hầu như không chen chân vào được
1.1.3 Hoạt động nuôi trồng thủy sản
Năm 2018, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 1,3 triệu ha, bằng 106% so với cùng kỳ 2017; sản lượng nuôi dự kiến đạt 4,3 triệu tấn, tăng 8,3% (tôm các loại 800 nghìn tấn, tăng 10,5%; cá tra
1,42 triệu tấn, tăng 14,0%) Về tình hình nuôi biển (cá biển, nhuyễn thể, tôm hùm, rong biển, cua ghẹ ),
tiếp tục có sự tăng trưởng tốt, diện tích nuôi cá biển 6.000 ha, sản lượng 32 nghìn tấn Giá trị sản xuất
thủy sản ước đạt khoảng 228.139,8 tỷ đồng, tăng 7,7% so với năm 2017 Các đối tượng nuôi khác tiếp
tục phát triển ổn định, góp phần nâng cao sản lượng, giá trị của ngành
1.1.4 Hoạt động khai thác thủy sản
Tính đến năm 2018, cả nước có 96.000 tàu cá; số tàu lưới kéo đạt khoảng 19.170 chiếc, chiếm 20% tổng số tàu Đến nay, trên toàn quốc có 82 cảng cá đang hoạt động tại địa bàn của 27 tỉnh, thành
phố ven biển, đạt 65% so với quy hoạch Tổng sản lượng khai thác thủy sản năm 2018 ước đạt 3.590,7
nghìn tấn (tăng 5,9% so với năm 2017), trong đó khai thác biển đạt 3.372,7 nghìn tấn, khai thác nội địa
đạt 218 nghìn tấn
1.1.5 Thu gom, sơ chế thủy sản
Đối với tôm, tôm nguyên liệu được thu gom từ nhiều nguồn manh mún, nhỏ lẻ làm cho chất lượng không đồng nhất, rất khó kiểm soát dư lượng hóa chất, kháng sinh bị cấm Việc chế biến các sản
phẩm GTGT từ tôm còn ít, khoảng 30%, 70% là xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu, sơ chế, bán thành
Trang 11Chế biến thủy sản tiêu thụ nội địa: từ năm 2001 đến nay, sản phẩm thủy sản qua chế biến tiêu thụ nội địa không ngừng tăng lên Sản phẩm thủy sản chế biến ngày càng đa dạng về chủng loại, chất lượng
ngày một nâng cao, giá bán ngày càng cao hơn
Chế biến thủy sản xuất khẩu: Trong giai đoạn 2008 – 2018, số nhà máy và công suất cấp đông của các cơ sở chế biến tăng rất nhanh Trong giai đoạn này, có sự phân khúc rõ rệt về phân bố và quy
mô các doanh nghiêp chế biến thủy sản xuất khẩu theo vùng Hiện nay tỷ lệ sản phẩm GTGT ngày càng
tăng, ước đạt khoảng 35% Các sản phẩm sushi, sashimi, surimi đã có mặt ở hầu hết các nhà máy chế
biến thủy sản xuất khẩu Một xu hướng mới là chế biến phụ phẩm đạt hiệu quả cao, mang lại lợi ích kinh
tế lớn và giảm thiểu tác động đến môi trường
1.1.7 Xuất khẩu thủy sản
Bảng1 Số liệu nhập khẩu thủy sản Việt Nam của 1 số quốc gia tiêu biểu
(Mã HS 03: Cá và động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thủy sinh không xương sống khác)
Nước
nhập
khẩu
Kim ngạch xuất khẩu năm 2018 (nghìn USD)
Cán cân thương mại 2018 (nghìn USD)
Tỷ lệ trong tổng xuất khẩu của Việt Nam (%)
Tỷ lệ nhập khẩu của các nước đối tác trong tổng nhập khẩu thế giới (%)
Tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu của
VN giai đoạn 2014-
2018 (%)
Xếp hạng của nước đối tác trên tổng nhập khẩu của thế giới
Mức thuế nhập khẩu trung bình
áp dụng với Việt Nam (ước tính) (%)