Nhưng tình trạng không thống nhất,những vấn đề về việc biến lực lượng quân đội 30,000 người lên hơn 200,000, vàtình trạng tham nhũng tràn lan làm suy yếu chính quyền hành chính và quân đ
Trang 1Nội chiến Campuchia
Tháng 3, 1970, khi hoàng tử Sihanouk đang vắng mặt, tướng Lon Nol lật đổhoàng tử Sihanouk và nắm lấy quyền lực Sơn Ngọc Thành tuyên bố ông ủng hộchính phủ mới 9 tháng 10, chế độ quân chủ ở Campuchia bị bãi bỏ, và đất nướcđược đổi tên thành Cộng hoà Khmer
Hà Nội từ chối yêu cầu của chính phủ mới đòi họ rút quân 2,000-4,000 ngườiCampuchia từng tới Bắc Việt Nam năm 1954 trở về Campuchia, được các binh
sĩ Bắc Việt Nam hỗ trợ Để đáp lại, Hoa Kỳ cung cấp viện trợ vũ khí cho các lựclượng của chính phủ mới, và họ lao vào cuộc chiến chống lại cả những kẻ nổiloạn bên trong và cả những lực lượng Bắc Việt Nam
Tháng 4, 1970, Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố với công chúng rằng các lựclượng trên bộ của Mỹ và Nam Việt Nam đã tiến vào Campuchia trong một chiếndịch nhằm tiêu diệt các vùng căn cứ của NVA tại Campuchia (xem Cuộc xâmnhập Campuchia) Người Mỹ ném bom Campuchia trong hơn một năm Nhữngcuộc phản đối diễn ra tại các trường đại học Mỹ, dẫn tới cái chết của bốn sinhviên tại Kent State, ủng hộ rút quân Mỹ khỏi Việt Nam (xem Thảm sát Đại họcTiểu bang Kent)
Dù một số lượng lớn trang thiết bị đã bị Hoa Kỳ và các lực lượng Nam Việt Namchiếm được và phá huỷ, chính sách ngăn chặn các lực lượng Bắc Việt vẫn tỏ rakhông thành công Bắc Việt di chuyển sâu hơn vào bên trong Campuchia đểtránh các cuộc hành quân của Hoa Kỳ và Nam Việt Các đơn vị NVA tràn quacác vị trí quân sự của Campuchia trong khi CPK mở rộng các cuộc tấn công quy
mô nhỏ vào những đường thông tin liên lạc
Trong ban lãnh đạo Cộng hoà Khmer có tình trạng không thống nhất giữa bathành viên chính: Lon Nol, Sirik Matak anh em họ của Sihanouk, và lãnh đạoQuốc hội In Tam Lon Nol vẫn nắm quyền lực một phần nhờ bởi không có ai đãđược chuẩn bị để thế chỗ ông Năm 1972, một hiến pháp ra đời, nghị viện đượcbầu ra, và Lon Nol trở thành tổng thống Nhưng tình trạng không thống nhất,những vấn đề về việc biến lực lượng quân đội 30,000 người lên hơn 200,000, vàtình trạng tham nhũng tràn lan làm suy yếu chính quyền hành chính và quân đội.Cuộc nổi dậy của những người cộng sản bên trong Campuchia tiếp tục lớn mạnh,
và được cung cấp trang bị cũng như ủng hộ quân sự từ phía Bắc Việt Nam PolPot và Ieng Sary nắm được quyền lãnh đạo lực lượng cộng sản do người ViệtNam đào tạo, nhiều người trong số đó đã bị thanh lọc Cùng lúc đó các lực lượngcủa Đảng cộng sản Kampuchea trở nên mạnh hơn và độc lập hơn khỏi quyền
Trang 2kiểm soát của người Việt Nam Tới năm 1973, CPK đã đánh những trận lớnchống lại các lực lượng chính phủ mà không cần hoặc có rất ít sự hỗ trợ từ phíaquân Bắc Việt Nam, họ kiểm soát gần 60% lãnh thổ Campuchia và 25% dân số.Chính phủ đã ba lần nỗ lực đàm phán với những người nổi dậy nhưng khôngmang lại kết quả, nhưng tới năm 1974, CPK đã hoạt động thành những nhómtách biệt với nhau và một số lực lượng Bắc Việt Nam đã chuyển vào trong NamViệt Nam Quyền kiểm soát của Lon Nol bị giảm xuống chỉ còn những vùng baoquanh thành phố và những đường vận chuyển chính Hơn hai triệu người tị nạnchiến tranh sống ở Phnom Penh và các thành phố khác.
Vào ngày đầu năm 1975, quân cộng sản tung ra một cuộc tấn công kéo dài 117ngày và vô cùng ác liệt làm sụp đổ chính quyền Cộng hoà Khmer Những cuộctấn công đồng thời xung quanh vành đai Phnom Penh ghìm chặt các lực lượngcộng hoà, trong khi các đơn vị của CPK vượt qua và chiếm quyền kiểm soátvùng tiếp tế chiến lược là hạ lưu sông Cửu Long Một chiến dịch không vận cungcấp vũ khí và lượng thực do Hoa Kỳ thực hiện đã chấm dứt khi Quốc hội nướcnày từ chối viện trợ thêm cho Campuchia Phnom Penh và các thành phố khác bịtấn công bằng roket hàng ngày gây ra thương vong cho hàng nghìn thường dân.Chính phủ Lon Nol ở đầu hàng ngày 17 tháng 4 5 ngày sau khi phái đoàn Hoa
Kỳ rời khỏi Campuchia
Buổi đầu lịch sử Campuchia
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lịch sử Campuchia
Trang 3Thời kỳ suy thoái (1432-1863)
Thời thuộc địa (1863-1953)
Sau độc lập (từ 1954)
Nội chiến (1967-1975)
Khmer Đỏ (1975-1979)
Cộng hoà nhân dân Kampuchea (1979-1990)
Thời hiện đại (1990-hiện tại)
sửa
Người Khmer, một trong những dân cư đầu tiên và cũng là một trong những dântộc đầu tiên ở Đông Nam Á, chấp nhận những tư tưởng tôn giáo và các thể chếchính trị từ Ấn Độ và lập lên những vương quốc tập trung bao gồm những vùnglãnh thổ lớn
[sửa] Các vương quốc đầu tiên
Phù Nam - Vương quốc sớm nhất ở thời kỳ này được biết đến hiện nay là PhùNam (Funan), tồn tại từ đầu CN đến năm 630 tại khu vực ngày nay là Đồng bằng
Trang 4sông Cửu Long của Việt Nam và miền nam Campuchia hiện nay, các di chỉ khảo
cổ (văn hóa Óc Eo) đã được phát hiện tại khu vực ngày nay là thị trấn Núi Sập,huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Chân Lạp - Vào đầu thế kỷ 5, ở khu vực miền trung, nam Lào và đông bắc TháiLan ngày nay, hình thành một vương quốc mới có tên là Chân Lạp (Chenla) củatộc người Môn-Khmer, vương quốc này dần lớn mạnh và cuối cùng họ sát nhậpPhù Nam vào lãnh thổ của mình vào đầu thế kỷ 8
Đế quốc Khmer - thời đại hoàng kim của nền văn minh Khmer, là giai đoạn từ
thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 13, khi vương quốc Kambuja, khởi nguồn cho cái tênKampuchea, hay Campuchia hiện nay, cai quản những vùng đất đai rộng lớn màngày nay bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan, nam Việt Nam từ thủ đô của nótại vùng Angkor ở phía tây Campuchia ngày nay
Ở thời Jayavarman VII (1181 - khoảng 1218), Kambuja đạt đến tột đỉnh quyềnlực chính trị và sáng tạo văn hoá Jayavarman VII có được quyền lực và đất đaisau nhiều trận chiến thắng lợi trước đối thủ láng giềng Champa, họ đã sát nhậpkhu vực phía tây Champa (ngày nay là Tây Nguyên của Việt Nam) Sau khiJayavarman VII chết, Kambuja dần suy sụp Các nhân tố quan trọng góp phầnvào đó là sự trổi dậy của các dân tộc Thái (Ayutthaya, Sukhothai) ở phía tây và
sự trả đũa của người Champa ở phía đông, các xung đột thường xuyên trongtriều, và sự hư hỏng của hệ thống tưới tiêu phức tạp đảm bảo mùa màng Triềuđình Angkor tồn tại tới năm 1431, khi người Thái chiếm Angkor Thom và nhàvua Khmer phải chạy trốn tới miền nam đất nước
Đế quốc Khmer
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lịch sử Campuchia
Trang 5Thời kỳ suy thoái (1432-1863)
Thời thuộc địa (1863-1953)
Sau độc lập (từ 1954)
Nội chiến (1967-1975)
Khmer Đỏ (1975-1979)
Cộng hoà nhân dân Kampuchea (1979-1990)
Thời hiện đại (1990-hiện tại)
sửa
Trang 6Bản đồ châu Á và châu Âu vào khoảng 1200 CN
Đế quốc Khmer trong thời đại hoàng kim
Đế quốc Khmer là một cựu đế quốc rộng lớn nhất Đông Nam Á (với diện tíchlên đến 1 triệu km2, gấp 3 lần Việt Nam hiện nay) đóng trên phần lãnh thổ hiệnnay thuộc Campuchia Đế quốc Khmer, tách ra từ Vương quốc Chân Lạp, đãtừng cai trị và có phần đất phiên thuộc mà ngày nay thuộc lãnh thổ của các quốcgia: Lào, Thái Lan và miền nam Việt Nam
Trong quá trình tạo lập nên đế chế này, người Khmer đã có các mối quan hệthương mại với đế quốc Java và sau đó với đế quốc Srivijaya giáp biên giới đếquốc Khmer về phía nam Di sản lớn nhất của Đế quốc Khmer là Angkor - kinh
đô của Đế quốc này vào thời cực thịnh của nó Angkor là chứng tích của sứcmạnh và sự thịnh vượng của Đế quốc Khmer và cũng là hiện thân của nhiều tínngưỡng mà nó đã mang trong mình Các tôn giáo chính thức của đế chế này là:
Ấn Độ giáo, Phật giáo Đại thừa cho đến khi Phật giáo Nam truyền chiếm ưu thếsau khi được du nhập từ Sri Lanka vào thế kỷ 13
Lịch sử của Angkor với vai trò là trung tâm của đế quốc Khmer lịch sử cũng làlịch sử Khmer từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 15 Từ đế quốc Khmer và cũng từ khu vựcAngkor - không có một ghi chép bằng văn bản nào còn sót lại đến ngày này màchỉ có những văn bản được khắc chạm trên đá Do đó những gì còn được biếtđến ngày nay về nền văn minh Khmer lịch sử được chủ yếu tham khảo từ cácnguồn:
Khai quật khảo cổ, phục dựng lại và điều tra
Các bản chạm khắc trên bia và trên đá ở các đền ghi chép lại những chiếncông chính trị và tôn giáo của các triều hoàng đế
Các bức phù điều trên các bức tường của các đền đài miêu tả các cuộchành quân, cuộc sống ở trong cung, các cảnh chợ búa và các cảnh sinhhoạt thường ngày của dân chúng
Trang 7 Các ghi chép còn lưu lại được của các sứ thần, nhà buôn và những người
lũ hành Trung Hoa xưa
Sự khởi đầu của kỷ nguyên Vương quốc Khmer Angkor được cho là bắt đầu từnăm 802 sau Công nguyên Trong năm này, vua Jayavarman II đã tự xưng
"Chakravartin" (hoàng đế của thiên hạ).
Mục lục
[giấu]
1 Lịch sử
o 1.1 Jayavarman II - người sáng lập Angkor
o 1.2 Yasodharapura - thành phố đầu tiên của Angkor
o 1.3 Suryavarman II - Angkor Wat
o 1.4 Jayavarman VII - Angkor Thom
o 1.5 Chu Đạt Quan ( 周周周 ) và thời kỳ rực rỡ cuối cùng
o 1.6 Sự suy tàn của Angkor
2 Các hoàng đế trị vì
3 Tham khảo các tài liệu tiếng Anh
[sửa] Lịch sử
[sửa] Jayavarman II - người sáng lập Angkor
Jayavarman II là một hoàng tử của triều đại Sailendra ở Java như là một con tinhoàng gia của vương quốc chư hầu của Java hay là đến để học tập (hoặc cả hai)vẫn chưa được khẳng định Nhờ thời gian ở Java, ông đã mang nghệ thuật và vănhóa của triều đình Sailendran của Java về cho triều đình Khmer Sau khi trở vềnhà ở vương quốc Chân Lạp, ông đã nhanh chóng xây dựng thế lực của mình,đánh bại nhiều vị vua khác và năm 790 trở thành hoàng đế của vương quốcKhmer Trong những năm tiếp theo, ông đã mở rộng lãnh thổ của mình và cuốicùng đã thành lập kinh đô mới Hariharalaya gần thị xã Roluos của của
Campuchia ngày nay Do vậy, ông đã đặt nền móng cho kinh đô Angkor trải dài
đến 15 km về phía tây bắc Năm 802, ông tự xưng Chakravartin (vua thiên hạ)
bằng một lễ đăng quang theo phong cách Ấn Độ giáo Bởi thế, ông không nhữngtrở thành một vị vua được thành thánh sắc phong và vô địch mà còn đồng thờituyên bố sự độc lập của vương quốc mình khỏi vương quốc Java Jayavarman IImất năm 834
[sửa] Yasodharapura - thành phố đầu tiên của Angkor
Trang 8Các vị vua kế nhiệm Jayavarman II đã liên tục mở rộng lãnh thổ vương quốcKhmer Indravarman I (trị vì từ 877 - 889) đã thành công trong việc mở rộngvương quốc của mình mà không cần chiến tranh và ông đã triển khai các dự ánxây dựng lớn nhờ vào của cải giành được thông qua mậu dịch và nông nghiệp.Công trình đầu tiên là đền Preah Ko và các công trình thủy lợi Con ông là
Yasovarman I (trị vì từ 889 - 915), là người thiết lập một kinh đô mới
Yasodharapura - thành phố đầu tiên của Angkor
Ngôi đền trung tâm của thành phố được xây ở Phnom Bakheng, một ngọn đồicao 60 m giữa đồng bằng trong khu vực Angkor Dưới triều Yasovarman I côngtrình Đông Baray cũng được tạo dựng, đây là công trình hồ chứa nước có kíchthước 7,5 x 1,8 km
Một bức phù điêu thế kỷ 12 hoặc 13 tại đền Bayon tại Angkor Thom miêu tảchiến tranh giữa Khmer và Chămpa
Vào đầu thế kỷ 10 thì đế quốc này bị chia rẽ Jayavarman IV thiết lập một kinh
đô mới ở Koh Ker, cách Angkor 100 km Chỉ có dưới triều đại của
Rajendravarman II (trị vì 944 - 968) thì hoàng cung mới được quay trở lạiYasodharapura Ông ta bắt đầu bắt đầu các dự án xây dựng lớn mà các vua đầutiên đã dự tính và đã cho thiết lập một loạt các đền ở khu vực Angkor; trong đó
có Đông Mebon, trên một cù lao của Đông Baray, và nhiều đền thờ Phật và chùa.Năm 950, chiến tranh lần đầu nổ ra giữa đế quốc Khmer và Vương quốc Chămpa
ở phía đông (ngày nay là miền Trung Việt Nam)
Từ năm 968 đến 1001 là thời kỳ trị vì của con trai Rajendravarman II,
Jayavarman V Sau khi ông ta đã đăng quang ngôi vua sau khi đã vượt qua cáchoàng thân khác, giai đoạn trị vì của ông phần lớn là thời kỳ thanh bình, đánhdấu bởi sự phát triển thịnh vượng và phát triển rực rỡ nền văn hóa Ông cho thiếtlập một kinh đô mới gần Yashodharapura, Jayenanagari Dưới triều của vuaJayavarman V có các nhà triết học, các học giả và các nghệ sỹ Các ngôi đền mớicũng được xây dựng, trong đó, quan trọng nhất là Banteay Srei, được xem nhưcông trình có tính nghệ thuật và thẩm mỹ bậc nhất của Angkor và Ta Keo là ngôiđền đầu tiên của Angkor xây hoàn toàn bằng sa thạch
Trang 9Sau cái chết của Jayavarman V là một thập kỷ xung đột Các vị vua chỉ trị vì vàinăm và bị thay thế thông qua bạo lực của các vị kế nhiệm cho mãi đến thời vua
Suryavarman I (trị vì 1010 - 1050) cuối cùng giành được ngôi báu Thời kỳ trị vìcủa ông được đánh dấu bằng các nỗ lực đảo chính liên tục của các đối thủ hònglật đổ bằng quân sự Về phía tây, ông đã mở rộng vương quốc của mình đến tỉnh
Lopburi của Thái Lan ngày nay, về phía nam đến eo đất Kra Tại Angkor, việcxây dựng Tây Baray bắt đầu dưới triều Suryavarman I, một hồ chứa nước thứ 2
và rộng hơn hồ Đông Baray với kích thước 8 x 2,2 km
[sửa] Suryavarman II - Angkor Wat
Angkor Wat, năm 2006
Thế kỷ 11 là thời kỳ của các cuộc xung đột và tranh giành quyền lực tàn bạo để
mở rộng lãnh thổ Dưới sự cai trị của ông, ngôi đền lớn nhất của Angkor đượcxây dựng trong khoảng thời gian 37 năm: Angkor Wat, là nơi thời thần Vishnu
Suryavarman II xâm chiếm vương quốc Haripunjaya của dân tộc Môn đến phíatây (ngày nay là miền Trung Thái Lan) và một khu vực xa hơn về phía tây của
vương quốc Pagan (Myanmar ngày nay), phía nam lấn về khu vực bán đảoMalay đến vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon Si Thammarat của Thái Lan),
về phía đông lấy nhiều tỉnh của Champa, về phía bắc đến biên giới phía bắc của
Lào ngày nay Sự kết thúc của hoàng đế Suryavarman II không được rõ rànglắm Văn bia cuối cùng ghi nhận tên ông có liên quan đến cuộc xâm lược ĐạiViệt là từ năm 1145 Có lẽ ông qua đời trong một cuộc hành quân trong khoảngthời gian từ năm 1145 đến 1150
Thời kỳ tiếp theo các vua trị vì trong thời gian ngắn và bị vị vua sau lật đổ bằng
vũ lực Cuối cùng, năm 1177, Khmer đã bị quân Chămpa đánh bại trong một trậnthủy chiến trên hồ Tonlé Sap và bị chiếm đóng trong một thời gian ngắn
[sửa] Jayavarman VII - Angkor Thom
Trang 10Đế quốc Khmer cuối thế kỷ 12
Vị vua tương lai Jayavarman VII (trị vì từ 1181-1219) đã là một nhà lãnh đạoquân sự như với tước vị hoàng thân dưới thời các vua trước Sau khi người Chăm
đã xâm chiếm Angkor, ông đã tập hợp một đội quân và giành lại kinh đôYasodharapura Năm 1181, ông đã lên ngôi và tiếp tục gây chiến chống lại cácvương quốc phía đông trong 22 năm cho đến khi Đế quốc Khmer đánh bại
Champa năm 1203 và xâm chiếm phần lớn lãnh thổ của Chăm Pa
Jayavarman VII được coi là vị hoàng đế vĩ đại cuối cùng của Angkor không chỉ
vì những chiến công của ông chống lại quân Chăm Pa mà còn là một người caitrị không phải là bạo chúa như cách các hoàng đế trước đó đã cai trị vì ông làngười thống nhất đế quốc này và trên cả là do các công trình xây dựng được tiếnhành dưới thời kỳ cai trị của ông Kinh đô mới có tên gọi là Angkor Thom (cónghĩa là: "Thành phố vĩ đại") được xây dựng Ở khu trung tâm, nhà vua (mộtphật tử Phật giáo Đại thừa) đã cho xây dựng làm tòa tháp quốc gia - Bayon vớicác tháp được cho là mang hình khuôn mặt của Quán Thế Âm bồ tát, mỗi thápcao vài mét được chạm khắc bằng đá Các đền chùa khác được xây dựng dướithời Jayavarman VII là Ta Prohm, Banteay Kdei và Neak Pean, cũng như hồchứa nước Srah Srang Cùng với những công trình đó, một hệ thống các đườngphố đã được xây dựng kết nối các trấn của đế quốc Bên các phố này, 121 nhànghỉ được xây cho các nhà buôn, quan chức và lữ khách Ông cũng cho thiết lập
102 bệnh xá
[sửa] Chu Đạt Quan (周周周) và thời kỳ rực rỡ cuối cùng
Sau cái chết của vua Jayavarman VII, con trai ông Indravarman II (trị vì 1243) lên ngôi Giống như cha mình, ông là một Phật tử và ông đã cho xây xongmột loạt chùa chiền được khởi công từ thời cha mình Ông không thành công vềmặt chiến tranh Năm 1220, người Khmer rút khỏi nhiều tỉnh mà trước đó đãchiếm được của Chăm-pa Về phía tây, các thần dân người Thái của ông đã nổilên chống lại và thành lập nên vương quốc Xiêm đầu tiên là Vương quốcSukhothai và đẩy lùi người Khmer Trong 200 năm tiếp theo, người Thái đã trở
Trang 111219-thành đối thủ chính của Kambuja Jayavarman VIII (trị vì 1243-1295) kế nhiệmIndravarman II Trái với các vua trước đó, Jayavarman VIII theo Ấn Độ giáo và
là một người chống Phật giáo một cách kịch liệt Ông đã cho phá hủy phần lớncác tượng Phật ở Đế quốc này (các nhà khảo cổ ước đoán có khoảng hơn 10.000,trong đó còn rất ít phế tích còn sót lại đến ngày nay) và cho chuyển các chùaPhật giáo thành đền thờ Ấn Độ giáo Từ bên ngoài, Đế quốc Khmer đang bị quân
Nguyên Mông của tướng Sagatu của Hốt Tất Liệt đe dọa Ông ta đã tránh đụng
độ với quân Mông Cổ (khi đó đã chiếm hết Trung Hoa) bằng cách cống nạphàng năm cho nhà Nguyên Triều đại của Jayavarman VIII kết thúc năm 1295khi ông bị con rể là Srindravarman (trị vì 1295-1309) lật đổ Vua mới là ngườitheo Phật giáo Nam truyền (Theravada), một trường phái của Phật giáo du nhậpvào Đông Nam Á từ Sri Lanka và sau đó lan ra khắp khu vực
Tháng 8/1296, một sứ thần Trung Hoa là Chu Đạt Quan đến Angkor và ở lạitriều đình của vua Srindravarman cho đến 1297 Chu Đạt Quan không phải làngười đầu tiên hay người cuối cùng viếng thâm vương quốc Khmer, nhưng cuộcviếng thăm của ông trở nên nổi tiếng vì ông đã ghi chép lại cuộc sống ở Angkormột cách chi tiết Miêu tả của ông ngày nay là nguồn tham khảo quan trọng nhất
để tìm hiểu về Angkor Ngoài các miêu tả về các đền lớn như (Bayon, Baphuon
và Angkor Wat), mà nhờ Chu Đạt Quan chúng ta được biết rằng các tháp củaBayon đã từng được dát vàng, các ghi chép của ông còn đem lại nhiều thông tin
có giá trị về cuộc sống thường nhật và các tập quán của cư dân Angkor
[sửa] Sự suy tàn của Angkor
Có rất ít tư liệu lịch sử về thời kỳ sau triều vua Srindravarman Văn bản cuốicùng người ta biết được là một bia khắc từ năm 1327 Không có ngôi đền lớnnào được xây thêm Các nhà sử học ngờ rằng có mối liên hệ giữa việc nhà vuatheo Phật giáo Nam truyền (do đó không được xem là "devaraja" nữa) và việckhông cần phải xây dựng các đền lớn cho devarajas hay để thờ các thần linh bảo
vệ cho họ Việc từ bỏ quan niệm devaraja cũng có thể dẫn đến sự đánh mấtquyền lực của hoàng gia và do đó dẫn đến thiếu nhân công Hệ thống thủy lợicũng bị thoái hóa dẫn đến mùa màng thất bát do lũ lụt và hạn hán Trong khitrước đó mỗi năm có 3 vụ lúa - điều này đã góp phần cốt yếu cho sự thịnh vượng
và quyền lực của đế quốc Khmer - sự giảm sút mùa màng đã làm cho đế quốcnày suy yếu thêm Quốc gia lân bang phía tây của đế quốc này là Vương quốcXiêm đầu tiên - Vương quốc Sukhothai, bị một vương quốc khác của người Thái(vương quốc Ayutthaya) đánh bại vào năm 1350 Sau năm 1352, người Thái đã
mở nhiều cuộc tiến công vào đế quốc Khmer nhưng đều bị đánh bật Cuối cùng,năm 1431, Ayutthaya đã chiếm được Angkor
Trang 12Trung tâm của của vương quốc Khmer còn sót lại nằm ở phía nam, ở khu vực màngày nay là Phnôm Pênh Tuy nhiên, có nhiều dấu hiệu cho thấy Angkor không
bị bỏ hoang Một chi của các vua Khmer vẫn còn ở lại Angkor Sự sụp đổ cuốicùng của Angkor vào thời ấy là sự chuyển đổi tầm quan trọng về kinh tế, và do
đó là chính trị, khi Phnôm Pênh trở thành một trung tâm mậu dịch bên sông MêKông Các công trình xây dựng tốn kém và các xung đột quyền lực trong nội bộhoàng gia cũng đánh dấu chấm hết cho đế quốc Khmer Sự hủy hoại sinh thái và
hư hỏng hạ tầng cơ sở là một cách lý giải mới khác cho sự chấm dứt của đế quốcnày Dự án Đại Angkor tin rằng người Khmer đã có một hệ thống kênh rạch và
hồ chứa phức tạp phục vụ cho mậu dịch, giao thông và thủy lợi Các kênh được
sử dụng để thu hoạch mùa màng và khi dân số tăng lên thì hệ thống kênh rạch bịcản trở dẫn đến thiếu nước và bị lũ lụt hoành hành Để đáp ứng cho số dân tăngthêm, người ta đã chặt cây trên các ngọn đồi ở Kulen để lấy đất canh tác lúa Đồitrọc làm cho kênh bị bồi lấp khi mưa to Sự phá hủy hệ thống thủy lợi đã dẫn tớicác hậu quả nghiêm trọng khác[1]
Có một số bằng chứng cho thấy Angkor được sử dụng lâu hơn Dưới thời vua
Barom Reachea I (trị vì 1566 - 1576), là vị vua đã tạm thời kế vị sau khi đã đẩylùi quân Thái đã quay lại đóng đô ở Angkor trong một thời gian ngắn Từ thế kỷ
17, đã có những văn bản khắc chạm cho thấy đã có các khu định cư của ngườiNhật dọc theo phần còn lại của Đế quốc Khmer Câu chuyện nổi tiếng nhất làcủa Ukondafu Kazufusa, người đã ăn Tết Khmer ở đó vào năm 1632
Trang 13 1066-1080?: Harshavarman III (Sadasivapada)
1404: Samtac Pra Phaya
1405: Samtac Chao Phaya Phing-ya
1405-1409: Nippean-bat
1409-1416: Lampong hoặc Lampang Paramaja
1416-1425: Sorijovong, Sorijong or Lambang
1425-1429: Barom Racha, hoặc Gamkhat Ramadhapati
1429-1431: Thommo-Soccorach hoặc Dharmasoka
1432-1462: Ponhea Yat hoặc Gam Yat
Kampuchea Dân chủ
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lịch sử Campuchia
Buổi đầu lịch sử
Trang 14Cuộc di cư của người Kamboja
Phù Nam (1-630)
Chân Lạp (630-802)
Đế quốc Khmer (802-1432)
Thời kỳ suy thoái (1432-1863)
Thời thuộc địa (1863-1953)
Sau độc lập (từ 1954)
Nội chiến (1967-1975)
Khmer Đỏ (1975-1979)
Cộng hoà nhân dân Kampuchea (1979-1990)
Thời hiện đại (1990-hiện tại)
sửa
Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và
Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từthích hợp khác
Kampuchea Dân chủ là một nhà nước ở Đông Nam Á từ năm 1975 đến năm
1979 Ngay sau khi giành chiến thắng, CPK ra lệnh sơ tán dân ra khỏi tất cả cácthành phố và thị trấn, đưa những người dân thành thị tới những vùng nông thôn
để làm việc như những nông dân, bởi vì CPK đang muốn tái lập lại xã hội thànhmột hình thức mà Pol Pot đang thai nghén
Trang 15Hàng nghìn người đã chết đói và chết vì bệnh tật trước khi CPK giành đượcchính quyền Hàng nghìn người chết đói hay chết vì bệnh tật trong thời gian tản
cư sau đó và vì những hậu quả của nó Nhiều người trong số đó bị buộc phải rờikhỏi các thành phố và định cư tại những ngôi làng mới được lập nên, thiếu lươngthực, dụng cụ lao động, và chăm sóc y tế Nhiều người từng sống trong các thànhphố và đã đánh mất khả năng tự kiếm sống để tồn tại trong môi trường nôngnghiệp Hàng nghìn người chết đói trước khi mùa màng được thu hoạch Thiếu
ăn và suy dinh dưỡng - ở bờ vực của nạn đói – là điều xảy ra liên tục trong nhiềunăm Đa số các lãnh đạo quân sự và dân sự của chế độ cũ, những người khôngthể che giấu được nhân thân của mình đã bị hành quyết
Bên trong CPK, những lãnh đạo từng được đào tạo tại Pháp Pol Pot, Ieng Sary,
Nuon Chea, và Son Sen—nắm quyền lực Một hiến pháp mới vào tháng 1 năm
1976 biến nước Kampuchea dân chủ thành một nước Dân chủ nhân dân cộngsản, và một quốc hội gồm 250 thành viên đại diện cho Nhân dân Kampuchea(PRA) được chọn ra vào tháng 3 để lựa chọn một kiểu lãnh đạo nhà nước tập thể,chủ tịch của ban lãnh đạo đó trở thành nguyên thủ quốc gia
Hoàng tử Sihanouk từ chức nguyên thủ quốc gia ngày 4 tháng 4 Vào ngày 14tháng 4, sau khoá họp đầu tiên, PRA thông báo rằng Khieu Samphan sẽ làm chủtịch hội đồng lãnh đạo quốc gia trong nhiệm kỳ 5 năm Nó cũng lựa chọn ra 15thành viên chính phủ do Pol Pot lãnh đạo với chức vụ Thủ tướng Hoàng tửSihanouk bị quản thúc tại gia
Chính phủ mới tìm cách tái cơ cấu hoàn toàn lại xã hội Campuchia Những tàntích của xã hội cũ bị xoá bỏ và tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo và Thiên chúa giáo,
bị đàn áp Nông nghiệp được hợp tác hoá, và những gì còn sót lại của một cơ sởcông nghiệp bị vứt bỏ hay bị đưa vào dưới quyền kiểm soát của nhà nước.Campuchia không có hệ thống tiền tệ cũng như hệ thống ngân hàng
Cuộc sống ở nước 'Kampuchea dân chủ' rất ngặt nghèo và bạo tàn Ở nhiều vùngtrong nước, người dân bị bố ráp và bị hành quyết vì tội nói tiếng nước ngoài, đeokính, bới rác kiếm thức ăn, và thậm chí là than khóc khi có người thân qua đời.Những nhà doanh nghiệp thời trước và các quan chức bị săn đuổi một cách tànnhẫn và bị giết chết cùng toàn bộ gia đình họ Khmer đỏ sợ rằng những người đó
có lòng tin là họ có thể sẽ đứng lên phản đối lại chế độ của chúng Một số kẻtrung thành với Khmer đỏ thậm chí còn bị giết vì tội không thể kiếm đủ số ‘phảncách mạng’ để hành quyết
Những ước tính chính sác về số lượng người đã chết trong giai đoạn 1975 và
1979 vẫn chưa có được, nhưng có lẽ hàng trăm ngàn người đã bị hành quyết tànnhẫn bởi chế độ đó Hàng trăm ngàn người chết vì đói và bệnh tật (cả dưới thời
Trang 16Khmer đỏ và thời cai trị của Việt Nam từ năm 1978) Một số ước tính về sốngười chết trong khoảng từ 1 đến 3 triệu người, trong tổng số dân năm 1975 củanước này là 7.3 triệu CIA ước tính 50,000-100,000 đã bị hành quyết từ 1975 đến
1979, đa số là ở khoảng thời gian tấn công chiếm đóng của Việt Nam
Các quan hệ của nước Kampuchea dân chủ với Việt Nam và Thái Lan trở nênxấu đi nhanh chóng và gây ra các cuộc xung đột biên giới và những khác biệt về
ý thức hệ Trong khi là cộng sản thì CPK cũng là người Campuchia từ gốc rễ, và
đa số các thành viên từng sống tại Việt Nam của nó đã bị thanh trừng.Kampuchea dân chủ thiết lập những mối quan hệ chặt chẽ với Cộng hoà nhândân Trung Hoa, và xung đột Campuchia-Việt Nam đã trở thành một phẩn của sựđối đầu giữa Trung Hoa-Sô viết với sự hỗ trợ của Moscow cho Việt Nam Cáccuộc xung đột biên giới ngày càng tệ hại khi Kampuchea dân chủ tấn công quân
sự vào các làng bên trong Việt Nam Nước này chấm dứt quan hệ với Hà Nộivào tháng 12 năm 1977, phản đối ý định thành lập một Liên bang Đông Dươngcủa Việt Nam Giữa năm 1978, các lực lượng Việt Nam tấn công Campuchia,tiến sâu khoảng 30 km trước khi mùa mưa diễn ra
Lý do để Trung Quốc ủng hộ CPK là vì họ muốn ngăn chặn phong trào liên kếttoàn thể Đông Dương, và giữ vững ưu thế quân sự Trung Quốc trong vùng Liênbang xô viết ủng hộ mạnh mẽ cho Việt Nam để giữ một mặt trận thứ hai chốnglại Trung Quốc trong trường hợp xảy ra xung đột giữa họ với Trung Quốc vàngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc Từ khi Stalin qua đời, các quan hệgiữa nước Trung Quốc của Mao Trạch Đông và Liên bang xô viết trở nên lạnhnhạt hơn bao giờ hết Cuối thập niên 1970 và đầu 1980, giữa Trung Quốc và ViệtNam đã xảy ra một cuộc chiến tranh ngắn (Chiến tranh Trung-Việt) về vấn đềnày
Tháng 12, 1978, Việt Nam thông báo thành lập Mặt trận Kampuchea thống nhấtbảo vệ quốc gia (KUFNS) dưới sự lãnh đạo của Heng Samrin, một cựu chỉ huytrong quân đội Kampuchea dân chủ Nó bao gồm những người Khmer cộng sảncòn ở lại Việt Nam sau năm 1975 và các viên chức ở khu vực phía đông – nhưHeng Samrin và Hun Sen – người từng chạy sang Việt Nam từ Campuchia năm
1978 Cuối tháng 12, 1978, các lực lượng Việt Nam tấn công tổng lực vàoCampuchia, chiếm Phnom Penh ngày 7 tháng 1, và đuổi những tàn quân củanước Kampuchea dân chủ chạy về phía tây sang Thái Lan
Cộng hòa Nhân dân Campuchia
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cộng hoà nhân dân Kampuchea)
Trang 17Bước tới: menu, tìm kiếm
Bài này hoặc đoạn này đang được viết.
Bạn có thể viết thêm cho bài này được hoàn thiện hơn Xem phần trợ giúp
để biết thêm về cách sửa đổi bài
Thời kỳ suy thoái (1432-1863)
Thời thuộc địa (1863-1953)
Sau độc lập (từ 1954)
Nội chiến (1967-1975)
Khmer Đỏ (1975-1979)
Trang 18Cộng hoà nhân dân Kampuchea (1979-1990)
Thời hiện đại (1990-hiện tại)
[sửa] Xung đột với Việt Nam
Giai đoạn Việt Nam đóng quân tại Campuchia từ năm 1979 đến năm 1989 bắtnguồn từ Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam (cách gọi của Việt Nam) làmột loạt các chiến dịch quân sự do Việt Nam tiến hành nhằm trả đũa các hoạtđộng quân sự của quân Khmer Đỏ tấn công vào biên giới Việt Nam, giết chócngười dân Việt Nam, và đốt phá làng mạc Việt Nam trong các năm 1975-1978.Sau các xung đột biên giới lẻ tẻ từ năm 1975 đến 1978, cuộc chiến thực sự bùngphát vào tháng 12 năm 1978 sau khi Trung Quốc hậu thuẩn và ủng hộ mạnh cácphương tiện vũ khí cho chế độ Khmer Đỏ Ngày 25 tháng 12 năm 1978, 150.000quân Việt Nam dưới sự chỉ của tổng tư lệnh Lê Trọng Tấn, một viên tướng từngtrải qua các cuộc chiến với Pháp và Mỹ, đã tiến vào lãnh thổ Campuchia Haituần sau, ngày 7 tháng 1 năm 1979 quân Việt Nam đã tiến vào Phnom Penh, họ
đã thiết lập một chính quyền mới thân Việt Nam mà nòng cốt là lực lượng
KNUFNS
[sửa] Thành lập chính quyền mới
Trang 19Ngày 5 tháng 1 năm 1979, 66 đại biểu Campuchia được triệu tập họp ở Mimot
để bàn về việc thành lập một đảng cộng sản Campuchia mới Đảng này lấy lạitên Đảng Nhân dân Cách mạng có từ thời 1951 Pen Sovan, một cán bộCampuchia tập kết về Hà Nội năm 1954, được đề cử giữ chức chủ tịch đảng.Những Uỷ viên thường vụ của đảng gồm Hun Sen,Heng Samrin, Bou Thang,Chan Kiri và Chia Soth
Ngày 8 tháng 1 năm 1979, đài phát thanh Phnom Penh loan báo Phnom Penh đãđược giải phóng bởi những lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia MộtHội đồng cách mạng được thành lập do Heng Samrin làm chủ tịch Khoảng mườingày sau, hội đồng này ký một hiệp ước với Việt Nam, hợp thức hoá sự hiệndiện của quân đội Việt Nam trên đất Campuchia
Tới mùa xuân 1981, hiến pháp mới của Campuchia được thông qua, sau đó làcuộc bầu cử toàn quốc để chọn ra 117 đại biểu quốc hội Hun Sen được bầu làm
Bộ trưởng Ngoại giao, Heng Samrin làm Chủ tịch nước Ba sư đoàn mới đượcthành lập và đặt dưới Bộ Quốc phòng, nhưng an ninh vẫn được duy trì chủ yếudựa vào sự hiện diện của 180.000 quân Việt Nam mà lực lượng chủ chốt là Quânđoàn 4 do tướng Lê Đức Anh chỉ huy Tuy vậy chính quyền này chỉ được một sốnước cộng sản công nhận Các nước phương Tây, Trung Quốc và khối ASEAN
tiếp tục công nhận chính phủ của Pol Pot
[sửa] Nguyên nhân Việt Nam đóng quân 10 năm
Xe tăng T-54 của VN rút về nước năm 1988
Cuối tháng 1 năm 1979 cuộc phản công kết thúc thắng lợi Đến ngày 17 tháng 1thị xã cuối cùng là Ko Kong rơi vào tay quân đội Việt Nam và chính quyền mớicủa Campuchia Cho tới cuối tháng 3, quân đội Việt Nam coi như chiếm đượchết những thành phố và tỉnh lỵ quan trọng của Campuchia và tiến sát tới biêngiới Thái Lan Tuy nhiên tàn quân Pol Pot vẫn tiếp tục chống cự và quấy nhiễu,gây ra nhiều thương vong cho quân đội Việt Nam đồn trú tại Campuchia