VỢ NHẶT VỢ NHẶT Kim Lân I Tìm hiểu chung 1 Tác giả Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, thường viết về nông thôn và người nông dân Tác phẩm của ông chân thực, gần gũi, đậmmàu.......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Trang 1Ch i
VỢ NHẶT Kim Lân
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, thường viết về nông thôn và người nông dân Tác phẩm của ông chân thực, gần gũi, đậm màu sắc văn hóa vùng Đồng bằng Bắc Bộ.Qua tác phẩm của ông, ta thấy hiện lên hình ảnh con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ nhưng vẫn lạc quan, thật thà nhưng rất thông minh, dí dỏm
2 Tác phẩm
- Truyện ngắn “Vợ nhặt” là tác phẩm xuất sắc, in trong tập “Con chó xấu xí”
(1962) Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” – viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng bị dang dở và thất lạc bản thảo Sau khi hòa bình lập lại (1954), Kim Lân dựa vào một phần truyện cũ để viết nên truyện ngắn này
- Nhan đề: Cái tên “Vợ nhặt” thật lạ và giàu ý nghĩa:
+ Xưa nay chuyện dựng vợ gả chồng là chuyện trọng đại Trong “Truyện Kiều” có câu:
“Trăm năm tính cuộc vuông tròn Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”
Nhưng ở đây, “vợ” lại được đặt cạnh từ “nhặt” – động từ chỉ hành động cầm một thứ gì đó nhỏ bé lên Cách kết hợp từ ngữ như vậy làm nổi bật thân phận rẻ rúng của con người trong nạn đói
+ Nhưng tại sao lại là “Vợ nhặt” chứ không phải “Nhặt vợ”? Đưa từ “vợ” lên trước, tác giả như muốn nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa của người vợ Thật vậy, trong truyện ngắn này, ta thấy người vợ của anh Tràng đã đem đến một luồng sinh khí mới cho gia đình và cho cả xóm ngụ cư
II Đọc hiểu văn bản
1 Tình huống truyện
- Tình huống truyện: là sự kiện, hoàn cảnh đặc biệt, chứa đựng mâu thuẫn, nghịch
lí mà từ đó tính cách nhân vật và tư tưởng của tác phẩm được bộc lộ rõ nét
- Trong truyện “Vợ nhặt”, Kim Lân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo, éo le và giàu ý nghĩa, đó là: giữa cảnh tối sầm lại vì nạn đói năm 1945, anh cu Tràng có nguy cơ ế vợ bỗng nhặt được vợ
a Tình huống độc đáo, éo le
- Sự kiện anh Tràng có vợ khiến ai cũng ngạc nhiên, bất ngờ, bởi vì:
+ Trong nạn đói, người ta chỉ nghĩ đến chuyện sống chết, còn anh cu Tràng lại lấy vợ
+ Hơn nữa, anh cu Tràng vốn nghèo khổ, xấu xí, ngờ nghệch, có nguy cơ ế vợ cao, nhưng lại lấy được vợ một cách dễ dàng
- Tình huống truyện trên xen lẫn buồn và vui, lo toan và hạnh phúc Thêm một miệng ăn là thêm một nỗi lo nhưng đây cũng là dịp để anh có một mái ấm gia đình
b Tình huống giàu ý nghĩa
- Từ tình huống đó, phẩm chất của các nhân vật và tư tưởng của tác phẩm được thể hiện rõ
Trang 2Ch i
Trước hết, tình huống ấy nói lên sự thảm khốc của nạn đói:
+ Cái đói tàn phá vẻ ngoài, bóp méo nhân cách bên trong con người Nhân vật thị là minh chứng điển hình khi nói đến hậu quả của nạn đói Từ một cô gái vui vẻ, “liếc mắt, cười tít”, thị trở nên rách rưới, “gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” Thị “chao chát chỏng lỏn”, xin ăn một cách sưng sỉa
+ Cái đói còn biến chuyện quan trọng thành chuyện tình cờ, tầm phào Thị theo không Tràng về là liều lĩnh, Tràng đèo bòng thêm thị cũng là liều lĩnh Hai người lấy nhau một cách chóng vánh, theo kiểu
“Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Mà xem con tạo xoay vần đến đâu”
- Từ sự thảm khốc ấy, tình huống truyện đã ngầm tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít, phong kiến Chúng đã gây ra nạn đói, khiến những người nông dân Việt Nam phải chịu nỗi đau khổ cả về thể xác lẫn tinh thần
- Nhưng quan trọng hơn, nhờ tình huống này, ta thấy được những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam: giàu lòng yêu thương và có khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc ngay cả khi đứng trên bờ vực của cái chết:
+ Lòng yêu thương thể hiện rõ ở nhân vật Tràng và bà cụ Tứ Trong lúc đói kém, Tràng sẵn sàng bỏ tiền ra đãi thị bốn bát bánh đúc, thậm chí còn đưa thị về làm vợ Đáng quý ở chỗ, Tràng “nhặt” vợ dễ dàng nhưng anh không hề khinh rẻ, mà rất yêu thương, trân trọng thị Bà cụ Tứ cũng rất nhân hậu Bà thấu hiểu cho thị, an ủi thị và khóc nghẹn lời vì thương hai con
+ Các nhân vật trong truyện còn có khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc Tràng đưa thị về không chỉ vì lòng thương người, mà sâu xa hơn, anh cũng mong muốn có một tổ ấm Từ khi lấy vợ, anh đã trưởng thành, chín chắn hơn Còn thị, thị chấp nhận bỏ qua cái duyên dáng để có được cái ăn, để được sống Thị táo bạo theo Tràng
về cũng vì khát vọng sống Và khi có hạnh phúc gia đình, cô đã trở về với bản tính tốt đẹp của mình Đặc biệt, nhân vật bà cụ Tứ tuy già yếu nhất nhưng lại nói về sự sống, về hạnh phúc nhiều nhất Trong bữa cơm ngày đói, bà đã gắng thắp lên niềm tin vào tương lai cho các con Kết truyện, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng báo hiệu một ngày mai sáng sủa cho những con người đói khổ mà giàu khát vọng ấy
=> Tóm lại, tình huống anh cu Tràng bỗng nhặt được vợ giữa nạn đói là một tình huống độc đáo, éo le và giàu tinh thần nhân văn
2 Nhân vật Tràng
- Vài nét giới thiệu về nhân vật Tràng:
+ Ngay cái tên của anh đã gợi sự thô kệch: “tràng” là một thứ đồ nghề của thợ mộc + Ngoại hình của anh cũng không được đẹp: hai con mắt nhỏ tí, quai hàm bạnh ra, cái đầu trọc nhẵn, cái lưng to như lưng gấu,
+ Về tính cách, Tràng có phần dở hơi: vừa đi vừa nói lảm nhảm, có khi ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch
+ Gia cảnh Tràng cũng nghèo khó, neo người, lại là dân xóm ngụ cư, địa vị thấp trong làng xã
=> Như vậy, bình thường Tràng đã có nguy cơ ế vợ, huống hồ bấy giờ lại đang trong lúc đói kém
Trang 3Ch i
- Nhưng Tràng lại “nhặt” được vợ trong hoàn cảnh đặc biệt:
+ Khi chở xe thóc lên tỉnh, Tràng thấy mấy chị con gái ngồi ở gần cửa nhà kho Tràng hò cho đỡ nhọc:
“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!
Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”
Mấy cô gái vừa cười vừa đẩy thị ra, và thị ton ton chạy tới đẩy xe giúp Tràng Lần thứ hai, Tràng gặp lại thị, thị rách rưới gầy gò vì đói, thị trách Tràng không giữ lời hứa đãi thị ăn Tràng bèn đãi thị bốn bát bánh đúc Trong hoàn cảnh túng đói nhưng Tràng vẫn sẵn sàng bỏ tiền ra mời thị ăn, chứng tỏ Tràng có lòng nhân hậu, nghĩa hiệp
+ Thế rồi bốn bát bánh đúc và lời bông đùa “có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” đã khiến hai người thành vợ chồng Ban đầu Tràng cũng “chợn”, sau đó thì “Chậc, kệ!” Điều đó cho thấy Tràng biết lo lắng, nhưng cũng biết vượt lên nỗi lo
để giúp đỡ, cứu nguy cho một cô gái đáng thương, và sâu xa hơn là để có được hạnh phúc gia đình
+ Sau đó, Tràng còn mua cho thị cái thúng con và đưa thị đi ăn một bữa no nê
Những hành động ga lăng ấy là sự quan tâm, nâng niu anh dành cho thị
- Trên đường về, Tràng phớn phở, tủm tỉm cười nụ một mình, hai mắt sáng lên lấp lánh Tràng rất vui sướng, thích chí, tự đắc vì mình đã có vợ Có khi anh còn định nói mấy câu lãng mạn nhưng không nói được Tràng thật đáng yêu và vui vẻ Niềm vui ấy khiến anh như quên đi tất cả những khó khăn bề bộn của hiện tại và tương lai
- Khi về đến nhà, Tràng vui vẻ xăm xăm bước vào thu dọn nhà cửa Anh nói một câu tình tứ: “Không có người đàn bà, nhà cửa thế đấy!” Anh mời thị ngồi xuống giường Thấy thị ngượng ngịu, bần thần, anh cũng hơi ngượng và sợ Những lời nói, hành động, cảm xúc của Tràng thể hiện sự trân trọng của anh với thị Không phải vì thị theo không anh về đây mà anh khinh rẻ thị Bên cạnh sự trân trọng với người vợ mới cũng là nỗi buồn lo Có lẽ Tràng lo thị thất vọng, sợ mẹ mình không chấp nhận thị, mà nếu được chấp nhận thì hai vợ chồng sẽ phải xoay xở rất vất vả để vượt qua nạn đói này
- Khi bà cụ Tứ về, Tràng “reo lên như một đứa trẻ”, “lật đật chạy ra đón”, tươi cười chào mẹ Mối duyên bất ngờ với thị khiến Tràng càng hồn nhiên, trong sáng như trẻ thơ, đúng như câu thơ của Bùi Hoàng Tám:
“Tình yêu là thứ trời hành Bắt người bạc tóc hóa thành trẻ con”
Tuy nhiên, tình yêu cũng khiến người ta trở nên chín chắn, đĩnh đạc Thường ngày, Tràng “phổi bò”, nói năng cộc lốc, nhưng hôm nay, anh lại mời mẹ ngồi ngay ngắn trên giường rồi mới trình bày câu chuyện: “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau Chẳng qua nó cũng là cái số cả ” Lời Tràng nói thật rành mạch, sâu sắc và nghĩa tình
- Bà cụ Tứ đồng ý cho Tràng lấy thị Tối hôm ấy, Tràng thắp đèn dầu lên Giữa lúc cơm còn không có mà ăn, Tràng đã khá “hoang” khi mua hẳn hai hào dầu Anh cũng biết là đắt, nhưng “vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ” Việc thắp đèn thể hiện niềm hi vọng vào một ngày mai tươi sáng hơn
- Sáng hôm sau, Tràng có nhiều suy nghĩ tích cực:
Trang 4Ch i
+ Tỉnh dậy sau đêm tân hôn, Tràng thấy êm ái, ngỡ ngàng chưa thể tin là mình đã
có vợ Người đàn ông tội nghiệp ấy không nghĩ rằng mình có thể lấy nổi vợ, nên khi hạnh phúc bất ngờ đến với mình, anh tưởng như đang mơ
+ Anh nhận ra nhà cửa đã được quét dọn sạch sẽ, gọn gàng: “Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch” Anh thấy mẹ và vợ đang nhổ cỏ, quét sân
Đó là cảnh bình dị, giản đơn nhưng anh rất thấm thía, cảm động Anh thấy yêu thương gắn bó với gia đình này, có ước mơ gia đình hạnh phúc, thấy mình phải có trách nhiệm với gia đình Những suy nghĩ ấy khiến anh thấy mình “nên người” Quả là hạnh phúc gia đình có sức mạnh thật to lớn, đã giúp một người vô tư, khờ khạo trở nên trưởng thành, sâu sắc
- Trong bữa cơm ngày đói:
+ Tràng vâng dạ với mẹ rất ngoan ngoãn, tình cảm mẹ con đầm ấm, hòa hợp Khi hết cháo, phải ăn miếng cám đắng chát, nghẹn bứ mà mẹ “quảng cáo” là chè
khoán, Tràng cũng cố ăn cho xong bữa, không nói gì khiến mẹ buồn
+ Nghe vợ kể chuyện người ta phá kho thóc Nhật, Tràng đăm chiêu nghĩ ngợi Anh lại nhớ về đoàn người nghèo đói kéo nhau đi trên đê với “lá cờ đỏ to lắm” Dường như Tràng đã bắt đầu nhận thức được con đường đấu tranh Dù truyện mới khép lại
ở chi tiết “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới ” nhưng ta tin rằng sau đó Tràng sẽ tích cực tham gia cách mạng Truyện mở đầu vào lúc chiều tối chạng vạng và kết thúc vào buổi sáng chan hòa ánh nắng, như muốn nói tới một tương lai sáng sủa
2 Nhân vật thị
- Nhân vật thị không được nhà văn giới thiệu tên tuổi, quê quán, gia cảnh, như để nói lên thân phận bèo bọt, rẻ mạt của thị Không chỉ riêng thị, có biết bao con người trong nạn đói cũng có cuộc đời chua xót như thế
- Lần đầu gặp Tràng, thị ton ton ra đẩy xe giúp Tràng, nói chuyện vui vẻ, liếc mắt cười tít, cho thấy cô là người bạo dạn, cởi mở, biết giúp đỡ người khác Tuy nhiên, trong những câu đùa vui của thị đã ẩn chứa sự ám ảnh về miếng ăn: “Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?”, “Đã thật thì đẩy chứ sợ gì” Thị cũng biết chuyện “cơm trắng mấy giò” ấy là nói vui, nhưng có vẻ thị đang cố bám víu, hi vọng vào việc được mời ăn
- Và khi cái đói ngày càng dữ dội, thị đã coi chuyện đùa vui hôm trước là chuyện thật Lần thứ hai gặp Tràng, thị sầm sập chạy đến:
+ Bề ngoài thị rách rưới, gầy gò: “áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”
+ Lời nói của thị thì “chao chát chỏng lỏn” Thị sưng sỉa nói: “Điêu, người thế mà điêu! Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt” Thị gặt phăng “miếng trầu là đầu câu chuyện” mà xin ăn một cách thô thiển: “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”
+ Hành động của thị cũng không ý tứ Thị “đứng cong cớn”, “ngồi sà xuống”, “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”
Trang 5Ch i
=> Cái đói đã tàn phá dung nhan và nhân cách của thị, nhưng cô chấp nhận vô duyên để được tồn tại Đó là biểu hiện của khát vọng sống cháy bỏng, là một điều đáng quý
- Sau đó, cô liều lĩnh theo không Tràng về làm vợ, dù chưa biết rõ về anh Thị hi vọng Tràng có thể giúp mình qua được nạn đói Cái đói đã đẩy người ta đến đường cùng, đành phải
“Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Để xem con tạo xoay vần đến đâu”
Quyết định táo bạo này của thị tiếp tục thể hiện khát vọng sống mãnh liệt - Trên đường về, thị rón rén e thẹn, chân nọ bước díu vào chân kia, cái nón che nghiêng một nửa mặt, và đôi lúc thị tỏ vẻ khó chịu, càu nhàu Tất nhiên, thị không thể thay đổi hoàn toàn trong chốc lát, nhưng ta có thể nói rằng nhờ tình yêu thương, hạnh phúc, cô đang dần trở về bản tính tốt đẹp Rồi khi Tràng bỗng nhiên khoe vừa mua hai hào dầu để tối thắp, thị đã trách Tràng là “hoang” Lời trách yêu ấy cho ta thấy hình ảnh một người vợ biết lo toan cho gia đình
- Khi về đến nhà Tràng, thấy nhà anh không khá giả gì, chỉ có “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, thị đã “nén một tiếng thở dài”, thị cũng gắng “nhếch mép cười nhạt nhẽo” Thị đang cố che giấu nỗi thất vọng, không muốn làm Tràng buồn, bởi anh là người vừa cưu mang mình Khi được mời ngồi, thị “ngồi mớm xuống mép giường” và ngượng nghịu Lúc này, thị thật tế nhị, lịch sự Thực ra khi thấy nhà Tràng nghèo, thị hoàn toàn có thể bỏ đi ngay, nhưng cô vẫn ngồi chờ, và khi mẹ Tràng về, cô đã chào bà bằng “u”, nghĩa là thị xác định mình sẽ là dâu con nhà này
- Sáng hôm sau, nàng dâu mới đã quét tước, thu dọn nhà cửa tươm tất Thị như cô Tấm chăm chỉ, đảm đang, vun vén cho gia đình Thị cũng vâng dạ rất lễ phép với mẹ chồng Có thể khẳng định, hạnh phúc gia đình và tình thương yêu đã cảm hóa thị, giúp thị trở nên hiền dịu, nết na
- Trong bữa cơm ngày đói:
+ Dù “tiệc” đón nàng dâu mới chỉ có niêu cháo lõng bõng và chút rau chuối thái rối, nhưng cả nhà đều ăn ngon lành Đến khi nhận bát cháo cám, mắt thị “tối lại”
nhưng thị vẫn “điềm nhiên và vào miệng” Cách ứng xử ấy cho thấy dù thị thất vọng nhưng vẫn thản nhiên và ý thức rõ về sự đồng cam cộng khổ với gia đình nhà chồng
+ Cũng trong bữa cơm, qua việc kể chuyện về những người phá kho thóc Nhật, thị
đã khơi gợi cho Tràng những suy nghĩ về con đường cách mạng
3 Nhân vật bà cụ Tứ
- Nhân vật bà cụ Tứ có mặt từ khoảng giữa câu chuyện, là nhân vật không thể thiếu
để làm nổi bật giá trị nhân văn của tác phẩm
- Bà xuất hiện với dáng vẻ “lọng khọng”, “húng hắng ho”, “vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán” Đó là hình ảnh một người mẹ già nua mà vẫn phải lo toan, trăn trở
- Về đến nhà, thấy Tràng vồ vập, bà đã “phấp phỏng” Khi thấy thị trong nhà, bà cụ càng ngạc nhiên, thầm đặt ra bao câu hỏi trước sự hiện diện của người đàn bà lạ Cuộc sống khó khăn khiến bà mất đi sự nhạy cảm tối thiểu, rằng con bà đã đến tuổi lấy vợ Hoặc có thể bà cũng đoán được điều đó, nhưng bà không dám tin
Trang 6Ch i
- Khi đã hiểu cơ sự, lòng bà chất chứa nhiều xúc cảm:
+ Bà lão “cúi đầu nín lặng” Trong cái cúi đầu ấy có biết bao đau đớn, tủi cực, buồn thương Bà “vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”, cũng có phần trách mình không lo được cho con Bà còn lo lắng không biết “chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”
+ Rồi bà nhìn thị và có ý nghĩ rất nhân hậu về cô con dâu mới: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có vợ được” Bà cụ không khinh rẻ mà lại thương cảm, thấu hiểu cho hoàn cảnh của thị Hơn nữa, bà còn có sự hàm ơn, trân trọng với thị vì cô đã đồng ý lấy con trai bà + Không chỉ dừng lại ở suy nghĩ, bà cụ Tứ còn nói ra những lời rất tình cảm: “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng ” Khi nói “các con”, bà đã coi thị là người trong nhà Dùng mấy chữ “phải duyên phải kiếp”, bà cụ như đang thanh minh cho thị, rằng không phải thị theo không Tràng về, mà đây là trời se duyên cho hai người nên vợ nên chồng Và bà “mừng lòng”, nghĩa là chấp nhận một cách vui mừng, chứ không đơn thuần chỉ là bằng lòng với chuyện đã rồi Sau đó, bà kể về gia đình mình và động viên con dâu bằng một triết lí dân gian đầy lạc quan: “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”
+ Tuy bà muốn gieo cho các con niềm hi vọng nhưng thực tế đang rất phũ phàng:
“mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt” Vì vậy, trong sâu thẳm, bà vẫn lo phiền Bà nghĩ đến ông lão, đến đứa con gái út, đến cuộc đời dài dằng dặc của mình, và lo lắng cho đôi vợ chồng mới cưới
+ Rồi bà lão lại mời con dâu ngồi một cách trìu mến: “Con ngồi xuống đây Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân” Bà hạ thấp giọng cho thân mật, bày tỏ nỗi lòng, rằng
bà cũng muốn làm dăm ba mâm cơm để chào đón người con dâu mới, nhưng vì nghèo đói nên đành lực bất tòng tâm, bà chỉ biết thương hai vợ chồng thôi Những lời gan ruột của bà cụ đã cho thấy sự trân trọng, thương yêu vô bờ mà bà dành cho nàng dâu
+ Xúc động lên đến cao trào, bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy ròng ròng Đọc truyện ngắn này, ta biết bà cụ Tứ có bản lĩnh sống vững vàng, nhưng lòng mẹ bao giờ cũng rất thương con, nên khi ấy bà không kìm được những giọt lệ xót xa
+ Đúng lúc ấy, Tràng đã vào nhà thắp đèn lên Bà cụ lau nước mắt, hướng lên nhìn ngọn đèn dầu, như đang hướng về những điều tốt đẹp ở phía trước
- Trong bữa cơm ngày đói:
+ Bà nói toàn điều vui, động viên các con chuyện làm ăn: “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà”
+ Bà còn chuẩn bị một món quà bí mật, đó là nồi cháo cám Bà “lăng xê” rất nhiệt tình: “cái này hay lắm cơ”, “lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc nghi ngút”, vừa khuấy vừa cười: “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ” Khi phải nói
đó là cám chứ chẳng có chè khoán nào cả, bà cụ vẫn đon đả, cố dặn ra tiếng cười
“hì” và an ủi các con: “Ngon đáo để, cứ ăn thử mà xem Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”
+ Dù đó chỉ là nồi cám đắng chát, thứ thức ăn dành cho loài vật, nhưng hành động, lời nói của bà đều toát lên niềm vui Chi tiết nồi cháo cám phản ánh cuộc sống thê
Trang 7Ch i
thảm của dân nghèo trong nạn đói, nhưng cũng cho thấy tấm lòng người mẹ
thương con, muốn thắp lên niềm hi vọng, lạc quan cho các con, chứ thực ra trong lòng bà cụ cũng rất ngổn ngang: “Bà lão ngoảnh vội ra ngoài”, “không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc” Qua đó, ta mới thấy tình thương và bản lĩnh của các bà, các
mẹ, của người lao động thật khiến ta ngưỡng mộ Ta chợt nhớ đến bài ca dao miền Trung “Mười cái trứng” đầy cay cực mà đầy lạc quan:
“Chớ than phận khó ai ơi Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”
III Tổng kết
1 Nội dung
- Truyện ngắn “Vợ nhặt” nói lên tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói năm 1945, đồng thời ca ngợi bản chất tốt đẹp, sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực cái chết, họ vẫn có khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc gia đình và thương yêu đùm bọc lẫn nhau
2 Nghệ thuật
- Xây dựng tình huống truyện độc đáo
- Cách kể chuyện hấp dẫn
- Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế
- Dựng đối thoại sinh động, tự nhiên