1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phan tich 7 cau tho dau bai dong chi

19 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích 7 câu thơ đầu bài đồng chí
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 1948
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 324,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích 7 câu thơ đầu bài Đồng chí của Chính Hữu Download vn Văn mẫu lớp 9 Phân tích 7 câu thơ đầu bài Đồng chí của Chính Hữu Tổng hợp Download vn 1 Dàn ý phân tích 7 câu thơ đầu bài Đồng chí Dàn ý[.]

Trang 1

Dàn ý phân tích 7 câu thơ đầu bài Đồng chí

Dàn ý 1

Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí!

- Đoạn thơ cho thấy cơ sở hình thành tình Đồng chí Họ có chung về hoàn cảnh xuất thân (2 câu đầu)

- Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng như làm hiện lên hai gương mặt người chiến sĩ Họ như đang tâm sự cùng nhau.Giọng điệu tự nhiên, mộc mạc, đầy thân tình “Quê anh” và “làng tôi” đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là nơi “ nước mặn đồng chua” – vùng đồng bằng ven biển, là xứ sở của “đất cày lên sỏi đá” – vùng đồi núi trung du

- Tác giả đã mượn thành ngữ, tục ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu của những người chiến sĩ Điều ấy đã làm cho lời thơ mang đậm chất chân quê, dân dã đúng như con người vậy – những chàng trai dân cày chân đất,

áo nâu lần đầu mặc áo lính lên đường ra trận! Như vậy, sự đồng cảnh, cùng chung giai cấp chính là cơ sở, là cái gốc hình thành nên tình đồng chí

- Gợi lên không khí cách mạng của thời đại và cuộc đổi đời vĩ đại của giai cấp nông dân Lần đầu tiên trong lịch sử họ đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời mình

Trang 2

- Chung về lí tưởng, lòng yêu nước (2 câu tiếp):

 Từ những miền quê xa lạ, họ nhập ngũ và quen nhau trong quân ngũ

 Họ cùng chung một chiến tuyến chống kẻ thù chung

- Cùng chung nhiệm vụ, chung cuộc đời người lính:

 “Súng bên súng” -> là cách nói hàm súc,giàu hình tượng, đó là những con người cùng chung lí tưởng chiến đấu Họ cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc – “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”

 Hình ảnh “đầu sát bên đầu” lại diễn tả sự đồng ý, đồng tâm, đồng lòng của hai con người đó Và câu thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” lại là câu thơ ắp đầy kỉ niệm về một thời gian khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi “Bát cơm sẻ nửa – Chăn sui đắp cùng”

=> Từ đó hình thành tình đồng chí Đây là cả một quá trình, từ:

 “Anh” – “tôi” thành “anh với tôi” rồi “đôi tri kỉ” và “đồng chí”

 “Bên”, “sát” thành “chung”

-> Từ người xa lạ nhưng cuộc đời người lính với rất nhiều điểm tương đồng đã khiến tình cảm đượm dần lên để trở thành tình đồng chí Nói về quá trình hình thành tình đồng chí: Xa lạ -> Cùng chung mục đích -> Tri kỉ -> Đồng chí

- Khép lại đoạn thơ chỉ vẻn vẹn 2 từ “Đồng chí!” đứng tách riêng thể hiện một cảm xúc dồn nén, chân thành và gợi sự thiêng liêng, sâu nặng của tình đồng chí

> Đoạn thơ vừa lí giải cơ sở của tình đồng chí lại vừa cho thấy sự biến đổi kì diệu: từ những người nông dân xa lạ họ trở thành những đồng chí, đồng đội sống chết có nhau

Trang 3

Dàn ý 2

I Mở bài

● Giới thiệu tác giả, tác phẩm

● Nêu đoạn trích

II Thân bài

1 Giới thiệu chung

● Hoàn cảnh ra đời bài thơ: Bài thơ được sáng tác vào đầu năm 1948, thời

kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tại nơi ông phải nằm điều trị bệnh

● Nội dung đoạn trích: Cơ sở hình thành tình đồng chí

2 Phân tích

a Tình đồng chí của người lính bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân:

- Ngay từ những câu thơ mở đầu, tác giả đã lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của anh và tôi – của những người lính Cách mạng:

“Quê hương tôi nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

+ Thành ngữ “nước mặn đồng chua”, hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”

+ Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện

Trang 4

=> Các anh ra đi từ những miền quê nghèo đói, lam lũ - miền biển nước mặn, trung du đồi núi, và gặp gỡ nhau ở tình yêu Tổ quốc lớn lao Các anh là những người nông dân mặc áo lính – đó là sự đồng cảm về giai cấp

- Cũng như giọng thơ, ngôn ngữ thơ ở đây là ngôn ngữ của đời sống dân dã, mộc mạc:

“Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”.

=> Đến từ mọi miền đất nước, vốn là những người xa lạ, các anh đã cùng tập hợp trong một đội ngũ và trở nên thân quen

b Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

- Điệp từ, hình ảnh sóng đôi mang ý nghĩa tượng trưng

=> Tình đồng chí, đồng đội được hình thành trên cơ sở cùng chung nhiệm vụ và

lí tưởng cao đẹp Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu, các anh đã cùng tập hợp dưới quân kì, cùng kề vai sát cánh trong đội ngũ chiến đấu để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng của thời đại

c Cùng chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn:

- Mối tính tri kỉ của những người bạn chí cốt được biểu hiện bằng một hìn ảnh

cụ thể, giản dị, gợi cảm:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.

- Chính trong những ngày gian khó, các anh đã trở thành tri kỉ của nhau,để cùng chung nhau cái giá lạnh mùa đông, chia nhau cái khó khăn trong một cuộc sống đầy gian nan

Trang 5

3 Đánh giá chung

● Thể thơ tự do với những câu dài ngắn đan xen đã giúp cho nhà thơ diễn tả hiện thực và bộc lộ cảm xúc một cách linh hoạt

● Hình ảnh thơ cụ thể, xác thực mà giàu sức khái quát.Ngôn ngữ thơ hàm súc,cô đọng,giàu sức biểu cảm

III Kết bài: Khẳng định lại giá trị bài thơ

Dàn ý 3

1 Mở bài

 Giới thiệu chung về nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Đồng chí

 Dẫn dắt vào 7 câu thơ đầu của bài: Cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội của những người lính

2 Thân bài

a Những người lính có chung hoàn cảnh, xuất thân

 "quê hương", "làng": Các từ cùng trường nghĩa → Những người lính đều

có xuất thân từ những người nông dân nghèo

 "nước mặn đồng chua", "đất cày lên sỏi đá": hoàn cảnh, điều kiện sống khắc nghiệt, khó khăn → quê hương nghèo khó

=> Những người lính tương đồng về cảnh ngộ, hoàn cảnh sống

b Những người lính có chung lí tưởng cứu nước cao đẹp

 Các xưng hô "anh" - "tôi" thân thiết, gần gũi

 "Súng bên súng": Những người lính kề vai sát cánh trong chiến đấu

Trang 6

 "Đầu sát bên đầu": Cùng chung lí tưởng chiến đấu cao đẹp: Ra đi, chiến đấu để bảo vệ quê hương

c Cùng nhau trải qua những khó khăn, gian khổ trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu

 "Đêm rét": Thời tiết lạnh giá, khắc nghiệt

 "Chung chăn": chia sẻ với nhau những thứ vật chất ít ỏi, thiếu thốn

 "Thành đôi tri kỉ": tình cảm gắn bó khăng khít, thân tình

 "Đồng chí!": tình cảm keo sơn, gắn bó, khó tách rời

3 Kết bài

 Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ

Phân tích 7 câu thơ đầu bài Đồng chí - Mẫu 1

Chính Hữu là một trong những tác giả nổi bật của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp Thơ Chính Hữu giản dị, chân thật mà thấm đượm tình người, những trang thơ của ông đã mở ra trong tâm hồn người đọc những cảm xúc khó quên về vẻ đẹp của những người lính nơi chiến trận Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Chính Hữu là "Đồng chí", bài thơ viết về tình đồng đội, đồng chí cao đẹp Đặc biệt, trong 7 khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã tập trung làm sáng tỏ

cơ sở hình thành nên tình cảm cao đẹp, thiêng liêng ấy

Ngay trong phần đầu bài thơ, tác giả Chính Hữu đã mượn thành ngữ dân gian giới thiệu về quê hương, hoàn cảnh gặp gỡ của những người lính:

"Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá"

Trang 7

Các từ cùng trường nghĩa "quê hương", "làng" gắn với đặc điểm địa lý được tác giả vận dụng tinh tế để gợi liên tưởng về những vùng quê nghèo Anh và tôi đều xuất thân từ nông dân, sinh ra và lớn lên nơi sỏi đá khô cằn, nơi đồng chua nước mặn Những hình ảnh được gợi lên từ sự sáng tạo những thành ngữ dân gian"nước mặn đồng chua", "đất cày lên sỏi đá" đã cho thấy được những khó khăn, nhọc nhằn của người lao động nơi đây, họ phải kiếm sống, làm ăn nơi vùng đất không mấy thuận lợi, cỏ cây, hoa màu khó sinh trưởng Những người lính có sự tương đồng về cảnh ngộ, họ đều là những người nông dân nghèo quanh năm chân lấm tay bùn Cũng chính sự tương đồng về xuất thân, hoàn cảnh sống đã giúp những người lính trở nên gắn bó với nhau

"Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau"

Các xưng hô "anh" - "tôi" tưởng như xa lạ nhưng khi kết hợp cùng quan hệ từ

"với" lại gợi sự gắn bó, gần gũi biết bao! Đồng thời, đó cũng là cách mà người lính thể hiện tình cảm, sự trân trọng của mình dành cho người đồng chí chiến đấu "anh"- "tôi" Họ đến từ những quê hương, phương trời xa lạ, họ gặp nhau khi con tim cùng chung nhịp đập của lòng yêu nước, khi có chung mục đích chiến đấu lớn lao, khi cả hai cùng mang sứ mệnh đấu tranh bảo vệ quê hương Tình cảm gắn bó giữa hai người lính không chỉ là cùng cảnh ngộ mà còn là sự hoà hợp cả về lý tưởng và mục đích cao đẹp: chiến đấu vì Tổ quốc

"Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ"

Những người lính rời xa tay cày nơi ruộng đồng để đến nơi chiến trường khắc nghiệt theo tiếng gọi của Tổ quốc Họ sát cánh bên nhau làm nhiệm vụ, luôn trong tư thế cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu với quân thù "súng bên súng" Câu thơ sóng đôi, phép điểm từ "súng', bên cùng nhịp thơ 3/3 kết hợp với hình ảnh

Trang 8

giàu chất hội họa trong ngôn từ, Chính Hữu đã dựng lên một bức tranh đẹp của tình đồng chí trong khi thực thi nhiệm vụ m điệu nhịp nhàng, cảnh vừa thực, vừa mộng Tác giả đang thi vị hoá cái hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh nhưng không hề chối bỏ cái khốc liệt của nó, dựng lên hình ảnh "súng bên súng" để khẳng định lý tưởng yêu nước, quyết tâm chống giặc của những người lính Ở nơi chiến trường, những người lính không chỉ phải đối mặt với hiểm nguy của bom đạn mà còn đối mặt với cả nhưng thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần Nhưng cũng chính cái thiếu thốn, khắc nghiệt của hoàn cảnh sống càng làm cho tình đồng đội, đồng chí trở nên bền chặt, đáng quý:

"Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ"

Khi màn đêm buông xuống cũng là khi những người lính cảm nhận thấm thía cái lạnh cắt da cắt thịt của thời tiết nơi rừng thiêng nước độc Khó khăn là vậy, gian khổ là vậy nhưng những người lính vẫn san sẻ cho nhau chút hơi ấm ít ỏi

từ tấm chăn mỏng "Đêm rét chung chăn" "Chung" ở đây không chỉ là hành động sẻ chia về vật chất mà còn là sự gắn bó về tinh thần, tình cảm Câu thơ gợi

ra cái khắc nghiệt của hoàn cảnh sống nhưng cũng làm nổi bật lên vẻ đẹp của tình đồng đội, đồng chí giữa những người lính

Câu thơ thứ 7 trong lời mở đầu cất lên chỉ hai tiếng thân tình mà chất chứa bao tình cảm cao đẹp, thiêng liêng;

"Đồng chí!"

Anh và tôi từ "đôi người xa lạ" trở thành "đôi tri kỉ" và gắn bó thân thiết thành

"đồng chí" Hai tiếng "Đồng chí!" ngắn gọn với hai tiếng kết hợp cùng dấu chấm than vang lên như một lời khẳng định về tình cảm bình dị mà thật thiêng liêng, cao đẹp, nó được hình thành trong những ngày tháng gian khó nhất của cuộc chiến tranh vệ quốc, giữa những con người có chung xuất thân, cùng chung lí chí hướng cao cả Câu thơ thứ bảy như một nốt nhạc ngân vang, kết

Trang 9

tinh những tình cảm tuyệt diệu, thiêng liêng, chân thật nhất của những người lính trao nhau giữa chiến trường

Bêlinxki từng nói: "Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật" Quả thật, Chính Hữu đã tái hiện chính cuộc đời qua ngôn từ của mình Đoạn thơ đã thể hiện được tình đồng chí chân thực trong thời chiến với những gì giản dị, chân chất, tự nhiên nhất, mỗi lời thơ, tứ thơ đều góp phần thể hiện tình cảm cao đẹp của người cách mạng thời chiến

Phân tích 7 câu thơ đầu bài Đồng chí - Mẫu 2

Vẻ đẹp của tình đồng chí là một đề tài nổi bật trong thơ cơ Việt Nam, đặc biệt là thơ ca kháng chiến Viết về đề tài này, mỗi nhà thơ chọn cho mình một cách khai thác khác nhau góp phần làm phong phú thêm mảng thơ ca này Nhắc đến đây, ta không thể bỏ qua bài " Đồng chí" của nhà thơ Chính Hữu Bài thơ được đánh giá là tiêu biểu của thơ ca kháng chiến giai đoạn 1946-1954, nó đã làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu mà đoạn trích sau là tiêu biểu:

Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí!

Bài thơ sáng tác mùa xuân 1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực

Trang 10

thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí, đồng đội, nhưng ở mỗi đoạn sức nặng của tư tưởng và cảm xúc được dẫn dắt để dồn tụ vào những dòng thơ gây

ấn tượng sâu đậm (các dòng 7, 17 và 20) Bảy câu thơ đầu bài thơ là sự lí giải về

cơ sở của tình đồng chí

Trước hết, ở đoạn đầu, với 7 câu tự do, dài ngắn khác nhau, có thể xem là sự lý giải về cơ sở của tình đồng chí.Mở đầu bằng hai câu đối nhau rất chỉnh:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Hai câu thơ đầu tiên giới thiệu quê hương "anh" và “tôi” – những người lính xuất thân là nông dân "Nước mặt đồng chua" là vùng đất ven biển nhiễm phèn khó làm ăn, "đất cày lên sỏi đá" là nơi đồi núi, trung du, đất bị đá ong hoá, khó canh tác Hai câu chỉ nói về đất đai - mối quan tâm hàng đầu của người nông dân, cho thấy sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó là cơ sở sự đồng cảm giai cấp của những người lính cách mạng

"Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

Từ “tôi” chỉ 2 người, 2 đối tượng chẳng thể tách rời nhau kết hợp với từ “xa lạ” làm cho ý xa lạ được nhấn mạnh hơn Tự phương trời tuy chẳng quen nhau nhưng cùng một nhịp đập của trái tim, cùng tham gia chiến đấu, giữa họ đã nảy

nở một thứ tình cảm cao đẹp: Tình đồng chí - tình cảm ấy không phải chỉ là cùng cảnh ngộ mà còn là sự gắn kết trọn vẹn cả về lý trí, lẫn lý tưởng và mục đích cao cả: chiến đấu giành độc lập tự do cho tổ quốc

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

Trang 11

Tình đồng chí còn được nảy nở và trở thành bền chặt trong sự chan hoà chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, nỗi buồn Đó là mối tình tri kỷ của những người bạn chí cốt được biểu hiện bằng hình ảnh cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ” “Chung chăn” có nghĩa là chung cái khắc nghiệt, khó khăn của cuộc đời người lính, nhất là chung hơi ấm để vượt qua cái lạnh, mà sự gắn bó là thành thật với nhau Câu thơ đầy ắp kỷ niệm và

ấm áp tình đồng chí, đồng đội.Cả 7 câu thơ có duy nhất! Từ “chung” nhưng bao hàm nhiều ý: chung cảnh ngộ, chung giai cấp, chung chí hướng, chung một khát vọng…

Nhìn lại cả 7 câu thơ đầu những từ ngữ nói về người lính: đầu tiên là “anh” và

“tôi” trên từng dòng thơ như một kiểu xưng danh khi mới gặp gỡ, dường như vẫn là hai thế giới riêng biệt Rồi “anh” với “tôi” trong cùng một dòng, đến “đôi người” nhưng là “đôi người xa lạ”, và rồi đã biến thành đôi tri kỷ - một tình bạn keo sơn, gắn bó Và cao hơn nữa là đồng chí Như vậy, từ rời rạc riêng lẻ, hai người đã dần nhập thành chung, thành một, khó tách rời

Hai tiếng “Đồng chí!” kết thúc khổ thơ thật đặc biệt, sâu lắng chỉ với hai chữ

“Đồng chí” và dấu chấm cảm, tạo một nét nhấn như một điểm tựa, điểm chốt, như đòn gánh, gánh hai đầu là những câu thơ đồ sộ Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về 2 tiếng mới mẻ, thiêng liêng ấy Câu thơ như một bản lề gắn kết hai phần bài thơ làm nổi rõ một kết luận: cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lý tưởng thì trở thành đồng chí của nhau Đồng thời nó cũng mở ra ý tiếp theo: đồng chí còn là những biểu hiện cụ thể và cảm động ở mười câu thơ sau.Như một nốt nhạc làm bừng sáng cả bài thơ, là kết tinh của 1 tình cảm Cách mạng mới mẻ chỉ có ở thời đại mới, câu thơ thứ 7 là một câu thơ đặc biệt

Nội dung này được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật đặc sắc Ngôn ngữ thơ

cô đọng hình ảnh chân thực, gợi tả, có sức khái quát cao nhằm diễn tả cụ thể

Ngày đăng: 07/04/2023, 14:55

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w