1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi ôn tập thi môn lý luận chính trị

59 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi ôn tập thi môn lý luận chính trị
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận chính trị
Thể loại Tài liệu ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 65,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU HỎI ÔN TẬP THI MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Câu 1 Phân tích bản chất CM và KH của CN Mác – Lênin; giá trị của CN M Mác – Lênin; giá trị của TT HCM Bản chất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đ.

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP THI MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Câu 1 Phân tích bản chất CM và KH của CN Mác – Lênin; giá trị của CN M Mác – Lênin; giá trị của TT HCM.

Bản chất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là sự cải biến về chấtcác lực lượng sản xuất trên cơ sở tri thức khoa học ngày càng trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp Triết học Mác-Lênin đóng vai trò rất quan trọng, là cơ sở lý luận phươngpháp luận cho các phát minh khoa học, cho sự tích hợp và truyền bá trí thức khoa họchiện đại

Xu thế toàn cầu hóa đang tăng lên, thực chất của toàn cầu hóa là quá trình tăng lênmạnh mẽ các mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động và phụ thuộc lẫn nhau giữa các khuvực, các quốc gia, dân tộc trên thế giới Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực tư bản chủnghĩa đang lợi dụng toàn cầu hóa để âm mưu thực hiện toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa.Chính vì vậy, toàn cầu hóa là một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa chủ nghĩa tư bản và chủnghĩa đế quốc với các nước đang phát triển và các dân tộc chậm phát triển Trong bốicảnh đó, triết học Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cáchmạng để phân tích xu hướng vận động phát triển của xã hội hiện đại

Thông qua giá trị ý nghĩa của CN M-L có thế thấy giá trị của TT HCM, TT HCM lànền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh cần đượcnghiên cứu, quán triệt trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước ở các giai đoạn phát triển của cách mạng Học tập và làm theo tư tưởng, đạođức, phong cách Hồ Chí Minh là yêu cầu, nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành trongcông cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay

Bởi đối với tiến trình cách mạng Việt TT HCM là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi củacách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua: “Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sángcon đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc tadưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”

Trang 2

Trên tinh thần đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (1991) khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc

và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ tính chặt chẽ, liên tục, nhất quán, bao quát và

toàn diện đúng như Đại hội IX (4/2001) của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh

là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.

Điều này tiếp tục được nhấn mạnh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

Và, trong tình hình hiện nay, khi các thế lực thù địch ngày càng tăng cường và đẩymạnh hơn các chiến dịch, các thủ đoạn, các hình thức từ bên ngoài, câu kết và phối hợpvới các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trongnước để chuyển tải, truyền bá các thông tin sai lệch, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc nền tảng

tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, công khai tấn công vào những vấn đề cơ bản củacách mạng Việt Nam nói chung, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nóiriêng, việc chủ động phòng và chống sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng trởnên bức thiết

Câu 2 Anh (chị) hãy làm rõ: Vật chất và sự vận động của vật chất Mqh giữa vật chất và ý thức theo quan niệm triết học Mác – Lênin Cho VD minh họa

Vật chất và sự vận động của vật chất.

Trang 3

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại

cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh vàtồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Theo định nghĩa của Lênin về vật chất, chúng ta cầnphân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với những dạng biểu hiện cụ thể củavật chất Vật chất với tư cách là phạm trù triết học là kết quả của sự khái quát hóa, trừutượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nóphản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật,những hiện tượng là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phátsinh, phát triển, chuyển hóa Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một sốdạng biểu hiện cụ thể của vật chất Vì:

+ Thứ nhất cần phải phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với “vậtchất là toàn bộ thực tại khách quan” Nó khái quát những thuộc tính cơ bản nhất, phổ biếnnhất của mọi dạng tồn tại của vật chất với khái niệm vật chất được sử dụng trong cáckhoa học chuyên ngành, hay nói cách khác là khác dùng để chỉ những dạng vật chất cụthể như: nước, lửa, không khí, nguyên tử,…

+ Thứ hai thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất chính làthuộc tính tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại vận động và phát triển của nó không lệthuộc vào tâm tư, nguyện vọng, ý chí và nhận thức của con người

+ Thứ ba vật chất dưới những hình thức tồn tại cụ thể của nó là nguồn gốc kháchquan của cảm giác, ý thức; những cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trựctiếp hay gián tiếp tác động đến các giác quan của con người

+ Thứ tư trong định nghĩa này, Lênin đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triếthọc Cụ thể là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau thể hiện ở câu “được đem lạicho con người trong cảm giác”; con người có khả năng nhận thức được thế giới thôngqua câu “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”, Lênin khẳng địnhbằng nhiều cách thức khác nhau, bằng nhiều trình độ khác nhau con người tiến hành nhậnthức thế giới

Trang 4

Đặc điểm của vật chấ bao gồmt:

– Vật chất tồn tại bằng vận động và thể hiện sự tồn tại thông qua vận động

– Không có vận động ngoài vật chất và không có vật chất không có vận động;

– Vật chất vận động trong không gian và thời gian;

– Không gian và thời gian là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể

và là hình thức tồn tại của vật chất

Do đó, xét về sự vận động của vật chất thì theo quan điểm của Ăngghen về vận

động là: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”.

Ở đây Ăngghen chỉ rõ: vận động là hình thức tồn tại của vật chất và vận động cótính liên tục Khi nói về đối tượng của khoa học tự nhiên, Ăngghen nói rõ khoa học tựnhiên nghiên cứu thế giới vật chất, những sự vật trong thế giới đó trong sự vận động, cónghĩa là trong mối quan hệ qua lại với nhau, không phải là tách rời, cô lập với nhau: “Tất

cả thế giới tự nhiên mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp cácvật thể khăng khít với nhau, nhưng ở đây, chúng ta hiểu vật thể là tất cả những thực tạivật chất, từ tinh tú đến nguyên tử, cho đến cả những hạt ête, nếu chúng ta thừa nhận sựtồn tại của hạt ête Việc các vật thể ấy đều có liên hệ qua lại với nhau đã có nghĩa là cácvật thể này tác động lẫn nhau, và sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động Ở đây,cũng đã thấy rõ rằng không thể tưởng tượng được vật chất mà không có vận động”

Như vậy, vật chất gắn liền với vận động Vật chất tồn tại vĩnh viễn và tuyệt đối thìvận động cũng là vĩnh viễn và tuyệt đối, không thể bị sáng tạo ra và cũng không thể bịtiêu diệt

Trang 5

Có thể thấy rằng, mặc dù định nghĩa vật chất của Lênin đã ra đời gần hai thế kỷsong nó vẫn giữ nguyên về giá trị thực tiễn và khoa học bởi:

+ Thứ nhất bằng việc chỉ ra thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất là thuộc tính tồntại khách quan, đã giúp chúng ta phân biệt được sự khác nhau căn bản giữa phạm trù vậtchất với tư cách là phạm trù triết học, khoa học chuyên ngành, từ đó khắc phục được hạnchế trong các quan niệm của các nhà triết học trước đó, cung cấp căn cứ khoa học để xácđịnh những gì thuộc và không thuộc về vật chất

+ Thứ hai khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho conngười trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh, Lê-nin đãgiải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết học đó là vật chất là cái có trước, ý thức là cái

có sau, vật chất quyết định ý thức Đó là con người có thể nhận thức được thế giới kháchquan thông qua sự chép lại, chụp lại, phản ánh của con người đối với thực tại khách quan.Định nghĩa vật chất của Lênin đã tạo cơ sở nền tảng, tiền đề để xây dựng quan niệm duyvật về xã hội,về lịch sử

Ví dụ: Nếu trong giới tự nhiên phát triển lên theo trật tự từ vận động thấp nên vậnđộng cao, thì điều đó phản ánh vào trong nhận thức của con người và ý thức của conngười cũng phải theo trật tự đó, người ta nhận thức những hình thức vận động thấp trướcrồi đến hình thức vận động cao Trong cuộc sống, khi nghiên cứu bản chất của sự vậnđộng phải bắt đầu từ những hình thức thấp nhất, đơn giản nhất của sự vận động ấy vàphải học tập để hiểu được những hình thức ấy, rồi mới có thể đạt tới một kết quả nào đấytrong việc giải thích những hình thức cao và phức tạp hơn

Mqh giữa vật chất và ý thức

Mqh giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng mà trong đó vật chất cótrước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định ý thức nhưng khôngthụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua hoạt động của con người Bên cạnh đó, ýthức là kết quả của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội Ý thức mang bản chất

Trang 6

là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, chính là sự phản ánh tích cực, tự giác, chủđộng thế giới khách quan và bộ não con người thông qua hoạt động thực tiễn.

Có thể thấy rằng, vật chất và ý thức có quan hệ 2 chiều và tác động qua lại lẫn nhauthể hiện qua nhận thức và thực tiễn như sau:

+ Thứ nhất: Vật chất có vai trò quyết định ý thức bởi chủ nghĩa duy vật biện chứngkhẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định

ý thức vì: Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nênchỉ khi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vậtchất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩmcủa thế giới vật chất Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu dàicủa khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa học chứng minh quan điểm:vật chất có trước, ý thức có sau

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người,thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động, ngônngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạngtồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ảnh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳngđịnh vật chất là nguồn gốc của ý thức

Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chấtnên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất Sự vận động và phát triển của ýthức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tácđộng của môi trường sống quyết định Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vậtchất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng nhưmọi sự biến đổi của ý thức

+ Thứ hai: Ý thức tác động trở lại vật chất

Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông quahoạt động thực tiễn của con người

Trang 7

Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai tròcủa con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực.Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất Song, mọihoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trựctiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tạikhách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương huớng, xây dựng kếhoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v để thực hiện mụctiêu của mình Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông quahoạt động thực tiền của con người.

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặctiêu cực Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, cónghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, conngười có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích củamình, thế giới được cải tạo – đó là sự tác động tích cực cúa ý thức Còn nếu ý thức củacon người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thìngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan,hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực kháchquan

Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thế quyếtđịnh hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thànhcông hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả

Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, của

ý thức có thể thấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năngsáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tácđộng trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thựctiễn (hoạt động vật chất) của con người Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụthuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những người

Trang 8

hành động, trình độ tổ chức của con người và những điều kiện vật chất, hoàn cảnh vậtchất, trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức.

Ví dụ: Trước khi thực hiện một trận đánh chung ta làm quyết tâm thư; thực hiện tựphê bình và phê bình; rút ra các nhược điểm để tiến bộ, khắc phục những mặt tiêu cực.Thực hiện giáo dục nhận thức thông qua các phong trào, thực tiễn tư tưởng cục bộ địaphương và đạo đức giả Hay, giữa vật chất và ý thức chỉ có những mặt đối lập tuyệt đốitrong phạm vi nhận thức luận Bên ngoài lĩnh vực đó, sự phân biệt là tương đối Vì vậymột chính sách đúng đắn là cơ sở để kết hợp hai điều này

Câu 3 PT về MLH phổ biến; nguyên lý về SPT của CN Mác – Lênin Cho VD minh họa

Nguyên lý về Mối liên hệ phổ biến

Cơ sở khách quan: là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng

có mối liên hệ rất đa dạng và phong phú: có mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài;

có những mối liên hệ chung của toàn bộ thế giới hoặc trong những lĩnh vực rộng lớn củathế giới lại có những mối liên hệ riêng từng lĩnh vực, từng sự vật, từng hiện tượng riêngbiệt; có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hoặc nhiều sự vật, hiện tượng với nhau, và cónhững mối liên hệ gián tiếp, trong đó các sự vật, hiện tượng liên hệ, tác động qua lại lẫnnhau thông qua một hay nhiều khâu trung gian mới phát huy được tác dụng; có mối liên

hệ tất nhiên, ngẫu nhiên; mối liên hệ cơ bản, thuộc về bản chất của sự vật, đóng vai tròquyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, cũng có những mối liên hệ không cơ bản,chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Cácmối liên hệ này tồn tại phổ biến trong tự nhiên, trong xã hội loài người cũng như trong ýthức của con người Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thếgiới Bởi lẽ, bản chất của thế giới là vật chất Vật chất có thuộc tính chung nhất là tồn tạikhách quan Các sự vật trong thế giới đa dạng đến đâu thì cũng chỉ là những hình thứctồn tại cụ thể của vật chất, chúng đều chịu sự chi phối của quy luật vật chất, nên chúng cóliên hệ chặt chẽ với nhau

Trang 9

Ví dụ: vận động của vật thể có liên hệ hữu cơ với khối lượng của nó bởi sự thay đổi

vận tốc vận động tất yếu làm cho khối lượng của nó thay đổi

Nội dung: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: là nguyên tắc lý luận xem xét sự

vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnhhưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của mộthiện tượng trong thế giới Nguyên lý này biểu hiện thông qua sáu cặp phạm trù cơ bản:1) Cái chung và cái riêng

2) Bản chất và hiện tượng

3) Nội dung và hình thức

4) Nguyên nhân và kết quả5) Khả năng và hiện thực6) Tất nhiên và ngẫu nhiênMuốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, cácmối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó dựa vào 3 tính chất cơ bản (tính kháchquan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú) theo không gian và thời gian cụ thể

+ Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể

thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ củachỉnh thể đó, “cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ

và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”, tức trong chỉnh thể thống nhất của “tổng hòanhững quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với những sự vật khác”

+ Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng

đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ có như vậy, nhận thứcmới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mốiliên hệ, quan hệ và tác động qua lại của đối tượng

+ Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với

môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp, trongkhông gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối tượngtrong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó

Trang 10

+ Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy

mặt này mà không thấy mặt khác, hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải,không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiếttrung

- Ý nghĩa phương pháp luận:

Quan điểm toàn diện đòi hỏi ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệđến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất, cái quan trọng nhất của sự vật, hiện tượng Điềunày không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê

Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng,chúng ta rút ra quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử – cụ thể trong nhận thức và hoạtđộng thực tiễn

Trong nhận thức:

+ Một là, xem xét các mối quan hệ bên trong của sự vật, hiện tượng nghĩa là xem

xét những mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các tuộc tính khác nhaucủa chính sự vật, hiện tượng đó

+ Hai là, xem xét các mối quan hệ bên ngoài của sự vật, hiện tượng tức là, xem xét

sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật,hiện tượng khác, kể cả trực tiếp và gián tiếp

+ Ba là, xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn nghĩa

là ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, conngười bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số hữu hạn những mối liên hệ Do đó, trí thứcđạt được về sự vật, hiện tượng chỉ là tương đối, không trọn vẹn, đầy đủ.Khi ý thức đượcđiều này sẽ giúp ta tránh được tuyệt đối hóa những tri thức đã có, tránh xem đó là những

Trang 11

chân lý luôn luôn đúng Để nhận thức được sự vật, chúng ta phải nghiên cứu tất cả nhữngmối liên hệ.

+ Bốn là, tuyệt đối tránh quan điểm phiến diện khi xem xét sự vật, hiện tượng tức là

chỉ chú ý đến một hoặc một số ít những mối quan hệ Cũng có nghĩa là xem xét nhiềumối liên hệ nhưng đều là những mối liên hệ không bản chất, thứ yếu… Đó cũng là cáchtạo nên những thuộc tính, những tính quy định trong bản thân mỗi sự vật

– Trong hoạt động thực tiễn

+ Quan điểm toàn diện đòi hỏi, để cải tạo được sự vật, chúng ta phải dùng hoạtđộng thực tiễn để biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật và những mối liên hệ qualại giữa sự vật đó với những sự vật khác Để đạt được mục đích đó, ta phải sử dụng đồng

bộ nhiều biện pháp, phương tiện khác nhau để tác động nhằm làm thay đổi những mốiliên hệ tương ứng

+ Quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữ “chính sáchdàn đều” và “chính sách có trọng điểm”

Ví dụ: trong thực tiễn xây dựng, triển khai chính sách Đổi Mới, Đảng Cộng sản Việt

Nam vừa coi trọng đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…, vừa nhấnmạnh đổi mới kinh tế là trọng tâm

Về Quan điểm lịch sử – cụ thể mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong không –

thời gian nhất định và mang dấu ấn của không – thời gian Do đó, ta nhất thiết phảiquán triệt quan điểm lịch sử – cụ thể khi xem xét, giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặtra

Nội dung cốt lõi của quan điểm này là chúng ta phải chú ý đúng mức đến hoàn cảnhlịch sử – cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó đến bối cảnh hiện thực, cả khách quan và chủquan, của sự ra đời và phát triển của vấn đề

Trang 12

Nếu không quán triệt quan điểm lịch sử – cụ thể cái mà chúng ta coi là chân lý sẽtrở nên sai lầm Vì chân lý cũng phải có giới hạn tồn tại, có không – thời gian của nó.

Nguyên lý về sự phát triển

- Cơ sở khách quan: thể hiện ở chỗ nguồn gốc của nó nằm trong chính bản thân sự vật,

hiện tượng chứ không phải do tác động từ bên ngoài và đặc biệt không phụ thuộc vào

ý thích, ý muốn chủ quan của con người

- Nội dung: Nguyên lý về sự phát triển: là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi

xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luônvận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từkém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật) Nguyên lý này biểu hiện thông qua baquy luật cơ bản:

1) Quy luật mâu thuẫn: chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển

2) Quy luật lượng – chất: chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển

3) Quy luật phủ định: chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển

- Yêu cầu:

+ Thứ nhất, khi nghiên cứu, cần đặt đối tượng vào sự vận động, phát hiện xu hướng

biến đổi của nó để không chỉ nhận thức nó ở trạng thái hiện tại, mà còn dự báo đượckhuynh hướng phát triển của nó trong tương lai

+ Thứ hai, cần nhận thức được rằng, phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn,

mỗi giai đoạn có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm hình thức, phươngpháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển đó

+ Thứ ba, phải sớm phát hiện và ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo điều kiện

cho nó phát triển; chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến

Trang 13

+ Thứ tư, trong quá trình thay thế đối tượng cũ bằng đối tượng mới phải biết kế thừa

các yếu tố tích cực từ đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới

- Ý nghĩa phương pháp luận:

Quan điểm phát triển hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến.Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật có được trong một hoàn cảnh lịch sử nhấtđịnh, xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếptheo của nó sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng Lênin cho rằng: “ Phép BC đòi hỏingười ta phải chú ý đến tất cả các mặt của những mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể

cả những mối quan hệ đó ” Như vậy, với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và

sự phát triển, phép BCDV của CN Mác – Lênin giữ một vai trò rất quan trọng trong nhậnthức và thực tiễn bởi:

+ Khi xem xét các sự vật, hiện tượng, ta phải đặt nó trong sự vận động và phát triển

Ta cần phải nắm được sự vật không chỉ như là cái nó đang có, đang hiện hữu trước mắt,

mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển tương lai, khả năng chuyển hóa của nó.Bằng tư duy khoa học, ta phải làm sáng tỏ được xu hướng chủ đạo của tất cả những biếnđổi khác nhau đó

+ Không dao động trước những quanh co, phức tạp của sự phát triển trong thực tiễn Ta cần phải xác quyết rằng các sự vật, hiện tượng phát triển theo một quá trình biện

chứng đầy mâu thuẫn Do đó ta phải công nhận tính quanh co, phức tạp của quá trìnhphát triển như một hiện tượng phổ biến, đương nhiên Quan điểm phát triển đòi hỏi phải

có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan đối với mỗi bước thụt lùi tương đối của sự vật, hiệntượng, bi quan về sự thụt lùi tương đối sẽ khiến chúng ta gặp phải những sai lầm tai hại

+ Phải chủ động tìm ra phương pháp thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng

chúng ta cần phải tích cực, chủ động nghiên cứu, tìm ra những mâu thuẫn trong mỗi sựvật, hiện tượng Từ đó, xác định biện pháp phù hợp giải quyết mâu thuẫn để thúc đẩy sựvật, hiện tượng phát triển

Trang 14

Việc xác định những biện pháp cũng cần căn cứ vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụthể của sự vật, hiện tượng Vì sự phát triển diễn ra theo nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao,

từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Bởi trong sự phát triển có sự kế thừa, ta phải chủđộng phát hiện, cổ vũ cái mới phù hợp, tìm cách thúc đẩy để cái mới đó chiếm vai trò chủđạo Và cũng phải tìm cách kế thừa những bộ phận, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ,đồng thời kiên quyết loại bỏ những gì thuộc cái cũ mà lạc hậu, cản trở sự phát triển Tíchcực học hỏi, tích lũy kiến thức khoa học và kiến thức thực tiễn Tuyệt đối tránh bảo thủ,trì trệ trong tư duy và hành động

Ví dụ: Sự phát triển được thực hiện bằng con đường tích lũy về lượng để tạo ra sự thay

đổi về chất Do đó, chúng ta phải luôn nỗ lực, chăm chỉ lao động để làm cho sự vật, hiệntượng tích lũy đủ về lượng rồi dẫn đến sự thay đổi về chất

Câu 4 Nêu tên các quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế hàng hóa: Trình bày nội dung quy luật cung – cầu Cho VD

Các quy luật kinh tế cơ bản của KT hàng hóa gồm:

1 Quy luật cung – cầu

Nguyên lý cung – cầu, hay quy luật cung cầu, phát biểu rằng thông qua sự điềuchỉnh của thị trường, một mức giá cân bằng (còn gọi là mức giá thị trường) và một lượnggiao dịch hàng cân bằng sẽ được xác định Mức giá và lượng hàng đó tương ứng với giaođiểm của đường cung và đường cầu Trạng thái cân bằng của một mặt hàng như thế gọi làcân bằng bộ phận Khi đạt trạng thái cân bằng của cùng lúc tất cả các mặt hàng, kinh tếhọc gọi đó là cân bằng tổng thể hay cân bằng chung Ở trạng thái cân bằng, sẽ không có

dư cung (lượng cung lớn hơn lượng cầu) hay dư cầu (lượng cầu lớn hơn lượng cung)

Ví dụ thực tế về quy luật cung cầu: Với mức giá 30.000 VNĐ/kg cam, người tiêudùng A sẵn sàng mua 2 kg cam cho gia đình ăn một ngày trong các tháng hè nóng nực

Trang 15

năm 2021 tại TP Hồ Chí Minh Tuy nhiên, khi giá lên tới 60.000 VNĐ/kg cam, ngườitiêu dùng đó chỉ có mong muốn mua và chỉ có khả năng mua 1 kg cam mà thôi.

Khi giá cam là 30.000 VNĐ/kg thì hàng ngày trên thị trường TP Hồ Chí Minhlượng cam được bán ra đến 10 tấn cam Nhưng khi giá lên tới 60.000 VNĐ/kg thì lượngcam được bán ra có 4 tấn cam một ngày

Như vậy, với mỗi một mức giá khác nhau, người tiêu dùng sẽ có mong muốn và cókhả năng mua được một lượng hàng hóa khác nhau Qua đó chúng ta thấy lượng cầu camcủa người tiêu dùng Cầu về trái cây A sống tại TP Hồ Chí Minh bằng 2 kg/ngày trong khicầu thị trường TP Hồ Chí Minh là 10 tấn cam/ngày khi giá là 30.000 VNĐ/kg vào mùa hènăm 2021

2 Quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó quy định bảnchất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa

Nội dung của quy luật giá trị là: Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trịcủa nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết

Thứ nhất: Sản xuất hàng hóa được thực hiện theo sự hao phí sức lao động xã hộicần thiết, tức là cần phải tiết kiệm lao động nhằm: đối với một hàng hóa thì giá trị của nóphải nhỏ hơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó,tức là giá cả thị trường của hàng hóa, có như vậy, việc sản xuất ra hàng hóa mới đem lạilợi thế cạnh tranh cao

Thứ hai: Trong trao đổi hàng hóa phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phảiđảm bảo bù đắp được chi phí chí người sản xuất (chi phí hợp lý) và đảm bảo hoạt độngsản xuất đó có lãi để tiếp tục tái sản xuất

Trang 16

Sự tác động, vận hành của quy luật giá trị được thể hiện thông qua sự vận động củagiá cả hàng hóa Vì giá trị là tiền đề của giá cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền củagiá trị Vì vậy nên phụ thuộc vào giá trị của hàng hóa.

3 Quy luật lưu thông tiền tệ

Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định lượng tiền cần thiết cho lưu thônghàng hóa trong một thời kỳ nhất định quy luật này được thể hiện như sau:

Lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa trong một thời kỳ nhất định được xácđịnh bằng tổng giá cả của hàng hóa lưu thông trong thời kỳ đó chia cho tốc độ lưu thôngcủa đồng tiền

– Trong tính tổng giá cả phải loại bỏ những hàng hóa không được đưa ra lưu thôngtrong thời kỳ đó như: Hàng hóa dự trữ hay tồn kho không được đem ra bán hoặc để bántrong thời kỳ sau; hàng hóa bán (mua) chịu đến thời kỳ sau mới cần thanh toán bằng tiền;hàng hóa dùng để trao đổi trực tiếp với hàng hóa khác; hàng hóa được mua (bán) bằnghình thức thanh toán không dùng tiền mặt như ký sổ, chuyển khoản…

– Phải cộng thêm vào lượng tiền cần thiết cho lưu thông lượng tiền dùng để ứngtrước, để đặt hàng trong thời kỳ này nhưng lại chỉ nhận hàng trong thời kỳ sau và lượngtiền mua (bán) hàng hóa chịu đã đến kỳ thanh toán

Trang 17

+ V: số vòng lưu thông trung bình của tiền tệ

Trong tính tổng giá cả (P*Q) phải loại bỏ những hàng hóa không được đưa ra lưuthông trong thời kỳ đó như: Hàng hóa dự trữ hay tồn kho không được đem ra bán hoặc đểbán trong thời kỳ sau; hàng hóa bán (mua) chịu đến thời kỳ sau mới cần thanh toán bằngtiền; hàng hóa dùng để trao đổi trực tiếp với hàng hóa khác; hàng hóa được mua (bán)bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như ký sổ, chuyển khoản

Quy luật về số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông hàng hóa, là “một trong nhữngquy luật kinh tế quan trọng có ý nghĩa phổ biến” (Mac) Theo học thuyết của Mac,QLLTTT được biểu hiện: với tốc độ chu chuyển nhất định của tổng phương tiện thanhtoán, tổng số tiền đang nằm trong lưu thông trong một thời gian bằng tổng số giá cả hànghóa và dịch vụ cần thực hiện, cộng với tổng số các khoản thanh toán đã đến hạn, trừ đicác khoản thanh toán đã bù trừ lẫn nhau, và cuối cùng chia cho tổng số vòng quay (haytốc độ lưu thông của đồng tiền), trong khi đó cùng những đồng tiền ấy, lần lượt khi thìlàm chức năng phương tiện lưu thông, khi thì làm chức năng phương tiện thanh toán.Yêu cầu của quy luật kinh tế là khối lượng tiền thực tế trong lưu thông phải thíchứng với khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông Tùy theo loại hình lưu thông tiền tệ (lưuthông tiền kim loại, lưu thông tiền giấy, lưu thông tiền tín dụng ngân hàng), QLLTTTchứa đựng các biểu thị khác nhau: quy luật số lượng tiền tệ thực sự cần thiết cho lưuthông; quy luật giá trị thực tế của các dấu hiệu tiền tệ danh nghĩa; quy luật lưu thông tiềntín dụng – giấy bạc ngân hàng Lạm phát là biểu hiện sự vi phạm các yêu cầu củaQLLTTT trong thời kì nhất định của sự phát triển kinh tế – xã hội ở các nước

4 Quy luật cạnh tranh

Câu 5 Làm rõ nội dung sứ mệnh LS của GCCN trong thời đại ngày nay và vai trò của ĐCS trong quá trình thực hiện sứ mệnh LS của GCCN Liên hệ với CMVN

Trang 18

GCCN là chủ thể và là sản phẩm xã hội của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa.GCCN đã trở thành luận chứng thực tiễn cho phát hiện lý luận vĩ đại của C.Mác và Ăng-ghen về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN.

GCCN có thể được định nghĩa là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến,lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Ở các nước tư bản chủ nghĩa, GCCN là những người không có hoặc về cơ bảnkhông có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp này bóc lột Ởcác nước xã hội chủ nghĩa, GCCN cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sảnxuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

- Nội dung kinh tế: Theo quan niệm của Mác, sở dĩ GCCN có sứ mệnh lịch sử vì họ là

giai cấp đại diện cho xu thế xã hội hóa của lực lượng sản xuất hiện đại GCCN là đại biểucho quan hệ sản xuất mới, tiên tiến nhất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.GCCN là giai cấp duy nhất không có lợi ích riêng với nghĩa là tư hữu mà phấn đấu chungcho lợi ích toàn xã hội, đóng vai trò nòng cốt trong thực hiện công nghiệp hóa - hiện đạihóa đất nước và hội nhập quốc tế

- Nội dung chính trị: GCCN cùng nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng

sản tiến hành cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, thiết lậpnhà nước mới, thực hiện quyền dân chủ, sử dụng nhà nước như một công cụ cải tạo xãhội cũ, xây dựng và phát triển văn hóa - kinh tế

- Nội dung văn hóa tư tưởng: GCCN tập trung xây dựng hệ giá trị mới: lao động, công

bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do Cuộc cách mạng về văn hóa tư tưởng bao gồm cải tạocái cũ, xây dựng cái mới, cái tiến bộ trong tư tưởng, lối sống tinh thần theo chủ nghĩaMác - Lênin

Những điều kiện quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Trang 19

- Điều kiện khách quan: Do địa vị kinh tế của GCCN quy định, bởi GCCN sinh ra

từ nền đại công nghiệp TBCN, mâu thuẫn trực tiếp với giai cấp tư sản, do vậy đâu là lựclượng cách mạng quan trọng nhất – nhân tố kinh tế quyết định đến khả năng phá vỡ quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Điều kiện chủ quan: Sự phát triển của bản thân GCCN về cả chất và lượng đã đảm

bảo trình độ trưởng thành về ý thức tự giác nhận thức về vai trò của mình đối với sứmệnh lịch sử Ngoài ra, Đảng Cộng sản cũng là nhân tố chủ quan quan trọng nhất đểGCCN thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình

Đảng cộng sản là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.Đảng viên là những người được trang bị lý luận, nắm được quan điểm, đường lối củađảng, do vậy họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điềukiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản Cán bộ, đảng viên phải tuyêntruyền phổ biến quan điểm, đường lối của đảng tới các tầng lớp nhân dân làm cho quầnchúng nhân dân hiểu và phải bằng hành động gương mẫu của mình để tập hợp, lôi cuốnquần chúng nhân dân vào các phong trào cách mạng

Đảng cộng sản có những lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của giai cấp côngnhân và quần chúng nhân dân lao động, vì thế đảng có thể thực hiện giác ngộ quần chúngnhân dân, đưa họ tham gia các phong trào cách mạng Có tập hợp được quần chúng nhândân, huy động được quần chúng tham gia các phong trào cách mạng thì những chủtrương, đường lối của đảng mới được thực hiện và khi đó đảng mới có sức mạnh, sứmệnh lịch sử của giai cấp công nhân mới thực hiện được

Đảng cộng sản là bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và cả dân tộc Khinói tới vai trò tham mưu chiến đầu của đảng là muốn nói tới vai trò đưa ra những quyếtđịnh của đảng, nhất là trong những thời điểm lịch sử quan trọng Những quyết định đúngđắn sẽ tạo điều kiện đưa phong trào cách mạng tiên lên, ngược lại có thể gây ra những tổnthất cho cách mạng Sở dĩ đảng cộng sản trở thành đội tham mưu chiến đấu của giai cấpcông nhân vì đảng bao gồm những người tiên tiến trong giai cấp công nhân, được trang bị

Trang 20

lý luận khoa học, cách mạng và là những người được tôi luyện từ trong thực tiễn phongtrào cách mạng.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay:

Đầu tiên khi nói tới sứ mệnh lịch sử của công nhân ta đã từng biết tới sứ mệnh của

họ trên toàn thế giới của giai cấp công nhân do C Mác (1818 – 1883) phát hiện và luậnchứng từ cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên, đến nay đã trải qua ba lần tiến hóa.Những nội hàm cơ bản của lý luận này đã thể hiện và tiếp tục được bổ sung từ thực tiễncác cuộc công nghiệp và cách mạng xã hội chủ nghĩa Hiện nay sự phát triển của côngnghiệp 4.0, về đại thể, sẽ vẫn tiếp tục những lí luận và những nội dung mà C Mác đã đưa

ra, tiếp nối nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại phát triểnthông tin

Hiện nay chúng ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy sự phát triển không ngừng và vượttrội của cách mạng công nghiệp 4.0 có đặc điểm là “Tốc độ vận động ngày càng nhanhchứ không đều đặn”, với quy mô là “thúc đẩy những chuyển đổi mô hình chưa từng cótrên các khía cạnh kinh tế, kinh doanh, xã hội và cá nhân”, có những tác động “dẫn đến

sự chuyển đổi của toàn bộ các hệ thống giữa các (và trong mỗi) quốc gia, doanh nghiệpngành công nghiệp và toàn xã hội” Như vậy nên đây cũng là cơ sở để chúng ta có thểnêu ra những quan điểm của mình đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân từ lô-gíc chung của các cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra và từ những nhận thức ban đầu

về Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, cũng như những dự báo

Căn cứ dựa trên các chứng minh của chủ nghĩa Mác – Lênin giai cấp công nhânđược biết tới là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có

sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phónggiai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự ápbức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộngsản chủ nghĩa

Trang 21

Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân bắt nguồn từ địa vị kinh tế - xã hộikhách quan cụ thể như sau:

– Giai cấp công nhân có xuất phát điểm ra đời dưới chủ nghĩa tư bản, có thể nói giaicấp công nhân là lực lượng và cũng là một bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất củalực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao

– Giai cấp công nhân họ ra đời là những người không có tư liệu sản xuất và việc bánsức lao động của mình cho nhà tư bản để sống và duy trì các hoạt động ở thời điểm hiệntại là điều đương nhiên Họ bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư mà họ đã tạo ratrong thời gian lao động

– Không những rất yếu về tư liệu và kinh tế, những điều khó khăn đó cũng đã giúpcho giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để và có khả năng thực hiện sứmệnh lịch sử, đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân và các dân tộc bị ápbức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc

Như vậy đối với dự phát triển như hiện nay ta thấy giai cấp công nhân Việt Nam đãkhẳng định được tầm cỡ và vị trí của chính họ, để có thể xứng đáng là bộ phận của giaicấp công nhân thế giới, tiếp tục lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh lànền tảng tư tưởng Ngày nay, công nhân Việt Nam chủ động tham gia giải quyết các vấn

đề là thu hút sự quan tâm hàng đầu của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung Cácvấn đề đó có tính thời sự cao như dân số, môi trường, văn hóa, năng lượng, lương thực,…Giai cấp công nhân là lực lượng kiên định bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa, không chấp nhận chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị

Giai cấp công nhân tham gia đông đảo vào các thành phần kinh tế, lấy mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh để phấn đấu

Trang 22

Giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong trong đấu tranh phòng chống tiêu cực,tham nhũng, tệ nạn xã hội, là lực lượng chính trị – xã hội quan trọng trong việc bảo vệ tổquốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Qua những phân tích nêu trên ta kết luận: từ các thông tin đưa ra như trên ta thấyđược những sứ mệnh lịch sử lớn lao của giai cấp công nhân Việt Nam là xóa bỏ chế độ tưbản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ bóc lột, tự giải phóng, giải phóng nhân dân lao động vàtoàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột, xây dựng thành công xã hội cộng sản chủnghĩa

Như vậy nên chúng hiện nay việc phát triển về số lượng và chất lượng, nâng caogiác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp thực hiện “tri thức hóacông nhân”, cũng như việc nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ vào sản xuất nhằmtăng năng suất, chất lượng và hiệu quả làm việc của công nhân, xứng đáng với vai tròlãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới là một vấn đề cần thiết và quan trọng cần đượcthực hiện

Câu 6 Làm rõ nội dung của CNH ở nước ta; Các vấn đề đặt ra trong quá trình tiến hành CNH và liên hệ giải pháp của Đảng, Nhà nước để giải quyết các vấn đề hiện nay

– Công nghiệp hóa, hiện đại trong sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất:

+ Thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội nhờ chuyển nền kinh tế từ chỗ dựa trên

kỹ thuật thủ công sang nền kinh tế dựa vào kỹ thuật cơ khí thủ công

+ Đồng thời chuyển nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp.Nếu áp dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ vào những ngành trong nền kinh

tế quốc dân thì những thành tựu này được kết nối, gắn liền với quá trình hiện đại hóa vàcuộc cách mạng khoa học công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 23

– Củng cố và làm tăng cường các địa vị lãnh đạo trong quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa Đồng thời, hướng tới việc xác lập địa vị thống trị trong các mối quan hệ sản xuất

xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

– Xây dựng cơ cấu kinh tế một cách hợp lý, hiện đại và đạt hiệu quả cao:

+ Cơ cấu kinh tế chính là tổng thể hữu cơ giữa các thành phần kinh tế Có hai loại

cơ cấu kinh tế là cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế Trong khi đó cơ cấucủa ngành kinh tế sẽ đóng vai trò trung tâm quan trọng và cốt lõi nhất

+ Cơ cấu lao động cũng sẽ được chuyển dịch theo hướng gắn với phát triển kinh tếtri thức Đây là một trong những tiền đề làm chi phối theo xu hướng chuyển dịch cơ cấulao động từng thời kỳ ở nước ta

+ Tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nghĩa là chuyển dịch cơ cấu,cấu trúc của nền kinh tế kém hiệu quả, bị tụt hậu theo hướng nền kinh tế hiện đạo và hiệuquả hơn

+ Xu hướng của sự chuyển dịch, thay đổi này là hướng từ một nền cơ cấu kinh tếnông nghiệp sang cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và sau đó phát triển thành cơcấu kinh tế công, nông nghiệp và dịch vụ

Bên cạnh một số thành tựu cũng có một số hạn chế mà trong tiến trình CNH màĐảng còn gặp phải đó là:

+ Hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, côngnghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm chưa tạo được chuyển biến căn bản về mô hình tăngtrưởng, năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao

+ Đổi mới giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành độnglực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Năng lực trình độ công nghệ của nền kinh

Trang 24

tế còn thấp Lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường chưa có nhiều đột phá, hiệu quảchưa cao.

+ Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị Chưa thực sựtrở thành nguồn lực, động lực nội dung của sự phát triển bền vững Môi trường văn hóa

xã hội tiếp tục bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tiêu cực

Năm 2020, nước ta chưa cơ bản trở thành nước công nghiệp Trước tình hình đó,Đàng và Nhà nước đã đề ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy CNH – HĐH, khắc phụcnhững tình trạng tụt hậu yếu kém trong quá trình tiến hành CNH với một số chủ trương,quan điểm:

+ Thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành nhiệm vụ trung tâm củathời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội của nước ta trên cơ sở nhận thức đầy đủ sâu sắc quanniệm hiện đại, vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ trung tâm đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa của thời kỳ phát triển mới của nước ta từ 2020 đến 2045 để đưa nội dungđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào chủ đề của Báo cáo chính trị và trong phầntầm nhìn và định hướng phát triển

+ Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước

+ Thứ ba, xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường; nâng

cao năng lực ngành xây dựng

+ Thứ tư, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; tiếp

tục cơ cấu lại ngành dịch vụ dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo,phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao đápứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 25

+ Cuối cùng không thể không nói đến vai trò của con người Thông qua việc pháthuy giá trị văn hóa, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam, xây dựng giai cấp công nhânhiện đại, lớn mạnh; đội ngũ tri thức và doanh nhân xung kích, đi đầu trong công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốt an sinh xã hội.

Câu 7 Làm rõ SXVC và PTSX

Sản xuất vật chất: là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tựnhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãnnhu cầu tồn tại và phát triển của con người

+ Các tính chất cơ bản: Tính khách quan; tính mục đích; tính lịch sử - xã hội, tínhsáng tạo

+ Các nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất vật chất: hoàn cảnh địa lý TN, điều kiệndân số, phương thức SX Các nhân tố này có mối quan hệ với nhau, phương thức sản xuấtđóng vai trò quyết định

- Lực lượng sản xuất là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần tạo thành sức mạnhthực tiễn cải biến thế giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn, phát triển của con người

+ Biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất

+ Thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vậtchất

+ Bao gồm:

Người lao động: Trí lực và thể lực

Tư liệu SX: Tư liệu lao động (Công cụ lao động và tư liệu khác)

Đối tượng lao động (Có sẵn tự nhiên và đã qua chế biến)

Trang 26

- Phương thức sản xuất dùng để chỉ cách thức con người thực hiện quá trình sảnxuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội Phương thức sản xuất là sựthống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tương ứng.

- Quan hệ sản xuất: là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sảnxuất và tái sản xuất xã hội)

+ Bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ thức và quản

lý sản xuất, quan hệ trong phân phối SP lao động Ba mặt trong QHSX luôn gắn bó vớinhau, quan hệ sở hữu có ý nghĩa quyết định đối với các quan hệ khác

Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất

* Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

- Quan hệ sản xuất phụ thuộc lực lượng sản xuất

- Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất thống nhất trong phương thức sản xuất,chúng tồn tại không tách rời nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề

- Trong 2 yếu tố cấu tạo nên phương thức sản xuất:

+ LLSX làm thay đổi phương thức SX, sự thay đổi này là do sự thay đổi của công

cụ lao động, công cụ lao động thay đổi là do trình độ con người áp dụng vào quy trìnhsản xuất

+ Sự vận động và phát triển của LLSX quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuấtcho phù hợp

- Sự thống nhất giữa LLSX và QHSX có nhiều mâu thuẫn:

Trang 27

+ LLSX thường xuyên biến đổi, QHSX tương đối ổn định Sự phát triển của LLSXđến 1 trình độ nhất định làm cho QHSX từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp, lúc ấyQHSX trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của LLSX

+ Sự phát triển của LLSX dẫn đến sự thay thế QHSX cũ bằng QHSX mới => PTSX

cũ mất đi, PTSX mới ra đời

* Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất:

- Nếu QHSX phù hợp trình độ LLSX sẽ làm cho LLSX phát triển

- Nếu QHSX không phù hợp với trình độ của LLSX thì nó sẽ là xiềng xích làm kìmhãm LLSX phát triển

- Việc giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX phải thông qua nhận thức và cảitạo xã hội của con người, trong xã hội có giai cấp thì phải thông qua đấu tranh giai cấp vàcách mạng xã hội

Ý nghĩa của việc nắm vững quy luật này trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

- Để xác lập, hoàn thiện hệ thống quan hệ sản xuất của xã hội, cần phải căn cứ vàothực trạng (tình hình thực tế) phát triển của lực lượng sản xuất hiện có để xác lập nó chophù hợp chứ không phải căn cứ vào ý muốn chủ quan Chỉ có như vậy mới có thể tạo rađược hình thức kinh tế thích hợp cho việc bảo tồn, khai thác - sử dụng, tái tạo và pháttriển lực lượng sản xuất của xã hội

- Khi đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất vớiquan hệ sản xuất đang kìm hãm sự phát triển đó thì cần phải có những cuộc cải biến (cảicách, đổi mới, ) mà cao hơn là một cuộc cách mạng chính trị để có thể giải quyết đượcmâu thuẫn này

Trang 28

- Phát triển lực lượng sản xuất: công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng lực lượngsản xuất tiên tiến Coi trọng yếu tố con người trong lực lượng sản xuất.

- Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đảm bảo sự phù hợp của quan hệ sản xuấtvới trình độ phát triển của LLSX, nhằm phát huy mọi tiềm năng vốn có của lực lượng sảnxuất ở nước ta

- Từng bước hoàn thiện QHSX XHCN Phát huy vai trò chủ đạo của thành phầnkinh tế nhà nước Nâng cao sự quản lý của nhà nước đối với các thành phần kinh tế, đảmbảo các thành phần kinh tế phát triển theo định hướng XHCN

Câu 8 Trình bày CM lý luận không ngừng của CN Mác – Lênin Liên hệ sự vận dụng của cơ quan, đơn vị trong thời gian qua

C Mác và Ph Ănghen là những người đầu tiên nêu lên tư tưởng về cách mạngkhông ngừng Các ông quan niệm rằng: Cách mạng của giai cấp công nhân phát triểnkhông ngừng nhưng phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong phạm vi một nướccũng như trên toàn thế giới Mỗi giai đoạn có những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể tạo tiền

đề cho giai đoạn phát triển tiếp theo Tư tưởng đó thể hiện tính giai đoạn và tính liên tụccủa sự phát triển cách mạng

Các ông còn chỉ ra rằng trong các quốc gia còn tồn tại chế độ quân chủ, phong tràocông nhân chưa đủ mạnh, lúc đầu giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng chính trị xãhội độc lập phải chủ động tích cực tham gia vào cuộc cách mạng dân chủ do giai cấp tưsản lãnh đạo để đánh đổ chế độ quân chủ Sau đó, giai cấp công nhân liên minh với cáctầng lớp nhân dân lao động, trước hết là nông dân chuyển sang đấu tranh chống lại giaicấp tư sản và các thế lực đại diện cho chúng

Trong lời kêu gọi của Uỷ ban Trung ương gửi Đồng minh những người cộng sản

1850, C Mác – Ph Ăngghen viết: “Lợi ích của chúng ta là phải làm cho cách mạng trởthành cách mạng không ngừng, cho đến khi tất cả các giai cấp ít hay nhiều hữu sản đều bị

Trang 29

gạt ra khỏi chính quyền nhà nước, cho đến khi chẳng những ở một nước mà ở tất cả mọinước thống trị trên thế giới, các hội liên hiệp những người vô sản đã tiến bộ đến mức cóthể chấm dứt sự cạnh tranh giữa những người vô sản ở các nước đó, và ít nhất là tập trungnhững lực lượng sản xuất quyết định vào tay mình” Hay C Mác còn nói: “Chủ nghĩa xãhội này là lời tuyên bố cách mạng không ngừng”

– Sự phát triển của V.I Lênin

Dựa trên tư tưởng cách mạng không ngừng của C Mác – Ph Ănghen, căn cứ vàođiều kiện lịch sử mới: chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản

đã trở thành giai cấp phản động, bỏ rơi ngọn cờ dân chủ, tiến hành những cuộc chiếntranh xâm lược, biến những nước lạc hậu thành thuộc địa của chúng Trong phong tràocông nhân đã xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, tư tưởng cách mạng không ngừng của C Mác –

Ph Ăngghen đã bị họ phủ định, V.I Lênin đã đấu tranh chống lại những tư tưởng đó vàphát triển tư tưởng cách mạng không ngừng của C Mác – Ph.Ăngghen thành lý luận về

sự chuyển biến cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.Xuất phát từ tình hình nước Nga vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, là nơi tậptrung những mâu thuẫn, là khâu yếu nhất trong dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc đã xuấthiện cùng một lúc tiền đề của hai cuộc cách mạng, V.I Lênin cho rằng: “Giai cấp côngnhân Nga phải nắm lấy ngọn cờ cách mạng dân chủ tư sản (hay còn gọi là cách mạng dânchủ tư sản kiểu mới), tiến hành cách mạng một cách triệt để, thực hiện chuyển biến lêncách mạng xã hội chủ nghĩa

Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới là màn mở đầu, là nhịp cầu để chuyển lên cáchmạng xã hội chủ nghĩa Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới và cách mạng xã hội chủnghĩa là hai giai đoạn khác nhau nhưng cùng nằm trong một quá trình vận động khôngngừng, giữa chúng có sự gắn kết, không có bức tường nào ngăn cách cả Thắng lợi củacách mạng dân chủ nhân dân tạo tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa

Ngày đăng: 07/04/2023, 12:43

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w