1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu, thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên việt nam hiện nay

177 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng, phát triển nhu cầu học tập và tích cực hoá thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên Việt Nam hiện nay.. Tăng cường đầu tư về cơ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

-

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2009

NHU CẦU, THÁI ĐỘ HỌC TẬP CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM

HIỆN NAY

Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Thị Minh Ngọc Đơn vị chủ trì: Khoa Tâm lý – Giáo dục

Hà Nội – 2009

Trang 2

2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LLCT : Lý luận chính trị CNXH : Chủ nghĩa xã hội

GD-ĐT : Giáo dục đào tạo

SV : Sinh viên

Trang 3

3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan 10

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Phương pháp nghiên cứu 14

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 15

Chương I : NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU, THÁI ĐỘ HỌC TẬP CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 17

1.1 Tổng quan về nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên 17

1.1.1 Lý luận về nhu cầu, thái độ 17

1.1.2 Nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên 31

1.2 Học tập lý luận chính trị và những biểu hiện của nhu cầu học tập lý luận chính trị 42

1.2.1 Vai trò của việc học tập các môn lý luận chính trị trong các trường đại học 42 1.2.2 Những biểu hiện của nhu cầu thái độ học tập các môn lý luận chính trị 46

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu, thái độ học tập các môn lý luận chính trị 50

Chương II : THỰC TRẠNG NHU CẦU, THÁI ĐỘ HỌC TẬP CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 56

2.1 Thực trạng nhận thức của sinh viên về sự cần thiết học tập các môn lý luận chính trị 60

2.2 Thực trạng nhu cầu, thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên nước ta hiện nay 68

2.2.1 Nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên thể hiện qua mục đích và động cơ học tập các môn lý luận chính trị 68

2.2.2 Thực trạng thái độ học tập biểu hiện ở hứng thú đối với các môn lý luận chính trị 72

2.2.3 Thực trạng nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên trước và trong giờ học các môn lý luận chính trị 76

2.2.4 Thực trạng về phương pháp học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên 84 2.2.5 Nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên về nội dung chương trình, phương pháp dạy học các môn lý luận chính trị hiện nay 90

2.2.6 Mức độ nhu cầu, thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên thể hiện qua kết quả học tập 106

Trang 4

4

2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng, phát triển nhu cầu học tập và tích cực hoá thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên Việt Nam

hiện nay 113

Chương III : GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NHU CẦU, THÁI ĐỘ HỌC TẬP CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO SINH VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 116 3.1 Nâng cao nhận thức của người học về vị trí, vai trò của các môn lý luận chính trị trong mục tiêu giáo dục toàn diện ở các trường đại học 117

3.2 Giáo dục phát triển nhu cầu, thái độ tích cực học tập các môn lý luận chính trị cho sinh viên 118

3.2.1 Giáo dục nhu cầu, thái độ tích cực học tập các môn lý luận chính trị 118

3.2.2 Xây dựng và phát triển hứng thú học tập các môn lý luận chính trị cho sinh viên 123

3.3 Nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các trường đại học 128

3.3.1 Đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy các môn lý luận chính trị theo hướng đáp ứng và nâng cao nhu cầu, tích cực hóa thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên 128

3.2.2 Kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các môn lý luận chính trị ở các trường đại học nhằm đáp ứng và phát triển nhu cầu học tập, tích cực hoá thái độ học tập các môn khoa học lý luận chính trị cho sinh viên 133

3.3.3 Đổi mới hình thức và phương pháp giảng dạy các môn lý luận chính trị 138

3.3.4 Nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên 141

3.3.5 Nâng cao hiệu quả quản lý sinh viên nhằm tích cực hoá thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên 144

3.4 Tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, phương tiện dạy - học hiện đại đáp ứng nhu cầu và tích cực hoá thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên 149

KẾT LUẬN 151

PHỤ LỤC 153

TÀI LIỆU THAM KHẢO 173

Trang 5

5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta đã xác định nhất quán mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X nêu rõ một trong những bài học rút ra trong quá trình đổi mới là: trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà làm cho sự nhận thức về chủ nghĩa xã hội đúng đắn hơn, xây dựng có hiệu quả hơn Đổi mới để vận dụng một cách sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng

và kim chỉ nam cho hành động cách mạng Để thực hiện mục tiêu phát triển

đó, đào tạo nguồn nhân lực được coi là vấn đề then chốt, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực không chỉ được xác định bằng hệ thống tri thức chuyên ngành mà còn được đo bằng việc đào tạo nên những người “vừa hồng”, “vừa chuyên”, vừa giỏi về năng lực chuyên môn vừa vững vàng kiên định lý tưởng cộng sản, phấn đấu hết mình cho sự nghiệp cách mạng cao cả của đất nước, của dân tộc Mục tiêu phát triển toàn diện được xác định thống nhất trong quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo “nhà trường đạo tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần”

Sinh viên là nguồn nhân lực trí tuệ của đất nước trong tương lai Bên cạnh tri thức chuyên ngành họ được trang bị để phục vụ đất nước, thái độ chính trị, niềm tin, lý tưởng của họ quyết định sự đóng góp trong hoạt động

xã hội nói chung, hoạt động nghề nghiệp của họ nói riêng Các môn học lý luận chính trị trong chương trình đào tạo góp phần quan trọng trong quá trình thực hiện mục tiêu đào tạo đại học hiện đại Sự thay đổi của tình hình xã hội

Trang 6

6

trong giai đoạn hiện nay đang kéo theo sự thay đổi đáng kể trong đào tạo các môn lý luận chính trị Quá trình toàn cầu hoá và tiến trình hội nhập diễn ra mạnh mẽ hiện nay đang tạo cho chúng ta nhiều cơ hội trong phát triển kinh tế, thương mại, văn hoá, giáo dục nhưng cũng khiến chúng ta phải đối mặt với những khó khăn thách thức không nhỏ trong việc giữ vững độc lập, kiên định đường lối cách mạng, phát triển các giá trị tốt đẹp mà Đảng và nhân dân ta dày công xây dựng Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta phát triển đang tạo nên sự chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế xã hội Tuy vây, mặt trái của nó cũng đang tác động mạnh mẽ, đa diện trong đời sống xã hội của sinh viên Những tác động tiêu cực, hệ lụy của tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế thị trường đang tô đậm thêm mảng tối của bức tranh xã hội Đó là tâm lý sùng bái đống tiền, coi thường giá trị nhân văn, sự phai mờ lý tưởng, suy thoái đạo đức lối sống Nghị quyết đại hội X của Đảng đã đánh giá: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân diễn ra nghiêm trọng”.1

Sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng diễn ra ngày càng phức tạp Lợi dụng một số hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, bằng phương tiền truyền thông hiện đại và cách thức thông tin đa dạng, chúng đã tuyên truyền lệch lạc đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta, gieo rắc và khoét sâu hoài nghi trong nhân dân, đặc biệt là trong thế hệ trẻ về lý tưởng cộng sản, về

sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng dân tộc Mũi nhọn phá hoại của địch hướng về thanh niên sinh viên khiến cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá càng trở nên phức tạp hơn

Dưới tác động đó, một số sinh viên có biểu hiện xa rời lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, sa sút đạo đức Một bộ phận sinh viên thờ ơ chính trị, không xác định được lý tưởng sống đúng đắn, coi nhẹ giá trị truyền thống, giá trị nhân văn của dân tộc Động cơ học tập, định hướng nghề nghiệp của một bộ phận không nhỏ sinh viên trên đà lạc hướng Đây là những biểu hiện đáng lo ngại cho sự nghiệp giáo dục đào tạo và quá trình phát triển đất nước

1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toà n quốc lần thứ X, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr 65

Trang 7

7

Đứng trước yêu cầu đẩy mạnh quá trình hội nhập, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước, chúng ta không thể tránh né những thách thức trong quá trình xây dựng đất nước, phát triển nguồn nhân lực Yêu cầu đổi mới toàn diện và nâng cao chất lượng đào tạo đại học nói chung, chất lượng dạy và học các môn lý luận chính trị nói riêng được đặt ra cấp thiết Trước áp lực của thực tiễn, Bộ Giáo dục và đào tạo đã có những đổi mới đột phá trong đào tạo các môn lý luận chính trị theo hướng tinh gọn và hiệu quả Hiện nay, các môn lý luận chính trị đào tạo cho đối tượng sinh viên không chuyên ngành lý luận ở các trường đại học và cao đẳng đã giảm thiểu đáng kể về thời lượng: từ 5 môn với 22 đơn vị học trình còn 3 môn (những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam) với 15 đơn vị học trình Mặc dù đã có sự điều chỉnh về nội dung, chương trình đào tạo nhưng chất lượng nội dung, phương pháp phải đảm bảo và nâng cao Yêu cầu này đòi hỏi chúng ta xem xét chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị trong tình hình mới Nâng cao chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị chịu sự phụ thuộc của nhiều yếu tố Trong đó có những yếu tố thuộc về chủ thể đào tạo bao gồm đội ngũ những nhà hoạch định chính sách, xây dựng chương trình, nội dung đào tạo Chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị phụ thuộc vào chất lượng giảng dạy, phương pháp giảng dạy, hình thức và chất lượng kiểm tra đánh giá của giảng viên, cơ sở vật chất, giáo trình, tài liệu phục vụ công tác giảng dạy các môn lý luận chính trị hiện nay ở các trường đại học Việc đổi mới toàn diện những yếu tố này đang được nhiều nhà khoa học quan tâm và có những thành tựu nhất định trong tìm hướng giải đáp Tuy vậy, chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị cho sinh viên không thể nâng cao nếu chúng ta không nghiên cứu một cách thấu đáo những yếu tố thuộc về đối tượng được đào tạo các môn khoa học này Chất lượng học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên là kết quả của quá trình tác động đa chiều giữa chủ thể đào tạo và bản thân đối tượng được đào tạo Chất lượng học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên vừa là kết quả của quá trình đào tạo vừa là tiêu chí đánh giá chât lượng đào tạo các môn

Trang 8

8

khoa học này Đào tạo trước hết là đáp ứng yêu cầu xã hội, theo đơn đặt hàng của xã hội Nhưng hơn hết và trước nhất đào tạo là quá trình đáp ứng nhu cầu học tập và nhận thức của bản thân người học Kết quả học tập phụ thuộc trước hết vào thái độ động cơ học tập Khi đáp ứng được nhu cầu học tập và có mục đích, động cơ học tập đúng đắn, quá trình đào tạo mới đạt mục tiêu trở thành quá trình tự đào tạo, học thường xuyên, học suốt đời như quan điểm giáo dục đào tạo mà chúng ta hướng đến Ở góc độ xem xét này, người học hay đối tượng được đào tạo các môn lý luận chính trị là nhân tố quan trọng tạo nên chất lượng đào tạo lý luận chính trị Điều 10, quyết định số 38/ 2004/ QĐ của

Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: Người học là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng đào tạo của trường đại học

Sinh viên học tập các môn lý luận chính trị là đối tượng được đào tạo đồng thời là chủ thể của hoạt động nhận thức, chủ thể của hoạt động xã hội, là lực lượng xung kích, nhanh nhạy trong tiếp nhận thông tin, năng động và nhiều mơ ước Quá trình tiếp thu tri thức lý luận chính trị của họ chịu sự phụ thuộc bởi nhận thức, nhu cầu, thái độ, hứng thú của họ Những yếu tố này hình thành bởi tác động đa chiều trong hoạt động học tập, đời sống xã hội Tổng hợp của các yếu tố đó làm nên tính tích cực trong học tập các môn lý luận chính trị, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị cho sinh viên nước ta hiện nay Bởi lẽ, sự khác biệt cơ bản giữa học tập ở bậc đại học với học tập ở phổ thông là chất lượng học tập của sinh viên không chỉ phụ thuộc vào độ chuyên cần mà còn phụ thuộc vào niềm say mê tìm tòi gốc

rễ của tri thức Có như vậy học mới nắm vững tri thức lý luận, nghiệp vụ chuyên môn, xử lý đúng đắn, khoa học những tình huống chính trị - xã hội Niềm say mê học tập không thể xuất phát từ sự ép buộc, từ quá trình chuyển tải tri thức một chiều, từ sự tiếp nhận tri thức một cách thụ động Muốn nâng cao chất lượng học tập, đào tạo các môn lý luận chính trị không có cách nào khác là chúng ta phải nghiên cứu một cách thâú đáo những yếu tố làm nên tính tích cực, chủ động, sáng tạo, những yếu tố thuộc về chủ thể của hoạt động nhận thức Nhu cầu, thái độ đối với các môn lý luận chính trị là nguồn gốc bên trong của động cơ học tập của sinh viên, tạo nên nội lực cho đối

Trang 9

9

tượng này học tập một cách chất lượng, hiệu quả Nhu cầu học tập của sinh viên là thành phần cơ bản của động cơ học tập, thúc đẩy tính tích cực và có ảnh hưởng quyết định tới kết quả học tập Nhu cầu học tập là một trong những nhu cầu tinh thần cơ bản của con người, nhu cầu này được xuất hiện khi chủ thể nhận thức sâu sắc sự cần thiết phát triển bản thân, nâng cao trình

độ của bản thân Thông qua việc học tập các môn lý luận chính trị, người học

sẽ lĩnh hội được tri thức, bù đắp những thiếu hụt về trình độ lý luận chính trị Nhu cầu học tập các môn lý luận chính trị được nảy sinh khi người học nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa của việc học đối với bản thân

Nhu cầu học tập vừa là sản phẩm của quá trình học tập vừa là động lực thúc đẩy quá trình học tập của sinh viên Nhu cầu học tập càng cao sự thúc đẩy học tập càng mạnh và càng có ảnh hưởng tích cực đối với kết quả học tập Bên cạnh đó, những kết quả tri thức thu được trong quá trình học tập là cơ sở nền tảng và là yếu tố thúc đẩy quá trình hình thành nhu cầu học tập ở một trình độ mới Nhu cầu học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên có quan

hệ mật thiết với thái độ, động cơ học tập của họ

Thái độ học tập của sinh viên là một trong những biểu hiện của động

cơ học tập, là một bộ phận cấu thành đồng thời là thuộc tính cơ bản toàn vẹn của ý thức học tập của chủ thể Thái độ học tập quy định tính tự giác, tích cực học tập và thể hiện bằng những cảm xúc, thông qua hành vi của chủ thể học tập trong những tình huống, điều kiện cụ thể Thái độ học tập của mỗi người tác động trực tiếp đến kết quả học tập Muốn có kết quả học tập tốt, người học phải có thái độ nghiêm túc, tự giác, tích cực hoàn thành kế hoạch học tập Thái độ học tập tích cực thể hiện ở tính chủ động, sáng tạo trong học tập Đây cũng là một trong những tiêu chí phấn đấu của quá trình đổi mới dạy học đại học mà chúng ta hướng tới

Nhu cầu và thái độ học tập của sinh viên đối với các môn lý luận chính trị có quan hệ mật thiết với nhau và góp phần quyết định chất lượng học tập, đào tạo các môn lý luận chính trị ở các trường đại học Việt Nam hiện nay Nâng cao nhu cầu, tích cực hoá thái độ cho người học các môn lý luận chính trị là một trong hướng nghiên cứu thiết thực nhằm nâng cao chất lượng

Trang 10

10

đào tạo các môn khoa học này Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề này một cách thấu đáo có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, nâng cao chất lượng đào tạo đại học nước ta Do vậy, chúng

tôi lựa chọn vấn đề "Nhu cầu, thái độ học tập các môn lý luận chính trị của

sinh viên Việt Nam hiện nay" làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan

2.1 Những công trình nghiên cứu về nhu cầu, thái độ học tập

A.F Ackhutốp với công trình: "Sự phụ thuộc giữa tri thức của học sinh

và hứng thú học tập" Tài liệu đã luận giải những lý luận cơ bản về hứng thú

học tập và điều kiện, khả năng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập của học sinh

Công trình nghiên cứu “Nhu cầu học tập, bổ sung kiến thức sau đại

học tại thành phố Hồ Chí Minh", đề tài khoa học cấp trường năm 2001 của

tác giả Nguyễn Thái Thảo, Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn phành phố Hồ Chí Minh Tài liệu đã phân tích những yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực Trong đó, tác giả phân loại nhu cầu học tập, các loại kiến thức người lao động cần có và phân tích sâu sắc nhu cầu học tập như một yếu

tố cần thiết đặt ra trong xây dựng mục tiêu và chương trình đào tạo

Nguyễn Tiến Thủ, "Quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể

nhận thức với việc phát huy vai trò chủ thể trong học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh Tác giả luận án đã phân tích quan hệ chủ thể và khách thể của quá trình nhận thức, mối quan hệ giữa chủ thể - khách thể trong quá trình học tập bậc đại học của sinh viên Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của sinh viên trong quá trình nhận thức

Vấn đề nhu cầu, thái độ học tập được đề cập khá nhiều trong các tạp chí nghiên cứu Giáo dục, tạp chí Tâm lý học, tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Tiêu biểu là:

Trang 11

11

“Nhu cầu học tập, vận dụng và phát triển” của tác giả Lê Ngọc Hùng,

tạp chí Xã hội học số 4 năm 2005

Nguyễn Văn Lịch, "Tăng cường thảo luận - biện pháp tích cực

nâng cao chất lượng dạy học trong trường đại học", tạp chí Giáo dục

số 22 năm 2002

Nguyễn Ngọc Bảo, “Phong cách tư duy khoa học trong hoạt động

nhận thức”, học tập Tạp chí Giáo dục số 1 năm 2001

Phan Đình Hiệp, "Đôi điều suy nghĩ về thực trạng ý thức học tập

của sinh viên hiện nay", tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp,

số 3 năm 1993

"Tác động của hệ thống đánh giá đến cách học của sinh viên đại học",

Trần thị Tuyết Oanh, Tạp chí Giáo dục số 48, năm 2003

Trần Thị Thìn, "Một số đặc điểm động cơ học tập của sinh viên sư

phạm", Tạp chí Giáo dục số 65, năm 2003

Van đề nhu cầu và thái độ học tập còn được bàn đến trên các trang

thông tin điện tử Tiêu biểu là: “Nhu cầu và vấn đề điều khiển hành vi”, đăng tải tại địa chỉ www.chungta.com.vn; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề học

tập của cán bộ” trên địa chỉ www.dangcongsan.com,vn; “Bàn về thái độ học tập” đăng tải trên trang www.tamlyhoc.net; “Tính tự giác, niềm say mê trong học tập”, trang www.thuvien.dhnh.edu.vn; “các nhân tố ảnh hưởng đến thái

độ học tập của sinh viên”, đăng tải tại địa chỉ www.thuvien.dhnh.edu.vn

2.2 Những nghiên cứu về việc dạy và học các môn lý luận chính trị của sinh viên

Đề án "Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác -Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng"(năm 2007) đã

luận chứng khoa học sự cần thiết đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin và những căn cứ cho quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học này trước tình hình mới

Trang 12

12

Hoàng Thúc Lân, "Giảng dạy triết học Mác - Lênin với việc nâng cao

năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên các trường đại học”, Luận văn thạc

sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004 Trong tài liệu, tác giả công trình khẳng định năng lực tư duy biện chứng là nhân tố cần thiết cho sinh viên trong quá trình học tập nói riêng, quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của sinh viên nói riêng Năng lực tư duy biện chứng được hình thành trên cơ sở nhiều yếu tố của quá trình học tập và rèn luyện Triết học Mác - Lênin và các môn lý luận chính trị góp phần hình thành và phát triển năng lực tư duy biện chứng cho đối tượng này Tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư duy biện chứng trên cơ sở phát huy vai trò giảng dạy các môn lý luận chính trị cho sinh viên

Nguyễn Duy Bắc chủ biên cuốn: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về

dạy và học môn Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học",

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004.Cuốn sách đã tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu lý luận chuyên sâu Các tác giả phân tích chất lượng dạy

và học các môn lý luận chính trị Các nhà khoa học thống nhất cho rằng nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin

và chất lượng học tập các môn học này làm nên bức tranh tổng thể chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị cho sinh viên nước ta hiện nay

Nguyễn Việt Chiến, "Đổi mới phương thức đào tạo và bồi dưỡng đội

ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, Đề tài KX 10 - 09B

"Đào tạo giảng viên các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay”,

Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2008, Chủ nhiệm đề tài: TS Hoàng Đình Cúc

Trong hai tài liệu nêu trên, các tác giả đã minh chứng luận điểm: chất lượng đào tạo giảng viên các môn lý luận chính trị quyết định chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị và do đó chi phối quá trình dạy - học các môn khoa học lý luận trong các trường đại học hiện nay

Trang 13

13

Vấn đề dạy và học các môn lý luận chính trị đã thu hút sự quan tâm của đông đảo nhà khoa học như: Lê Xuân Nam, Lê Thanh Sinh, Nguyễn Thanh,

Lương Minh Cừ, Hoàng Trung (đồng chủ biên) "Một số ý kiến trao đổi về

phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin ở đại học và cao đẳng”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002; Lương Gia Ban (chủ biên)

"Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới nội dung chương trình các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội 2002; Trần Hữu Luyến, “Mục đích, cơ sở, nội dung và giải pháp

đổi mới phương pháp dạy học ở trường đại học và cao đẳng”, Tạp chí Giáo

dục số 38, năm 2002; Đào Duy Quát, “Đổi mới toàn diện, nâng cao chất

lượng hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới” Tạp

chí Tư tưởng - Văn hoá số 6 năm 2006

2.3 Khái quát nội dung các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã bước đầu hệ thống hoá và xây dựng lý thuyết về nhu cầu, thái độ dưới góc độ tâm lý học Trong đó, các tác giả luận chứng khoa học về nguồn gốc của nhu cầu và thái độ học tập, đặc điểm nhu cầu và thái độ học tập, vai trò của nhu cầu và thái độ học tập đối với kết quả học tập của sinh viên Các tác giả khẳng định nhu cầu học tập là cơ sở vững chắc cho hoạt động học tập có hiệu quả, cần phải hình thành và phát triển nhu cầu học tập cho sinh viên Một số tài liệu đã tìm ra những cách thức

cơ bản hình thành và phát triển nhu cầu học tập và xây dựng thái độ học tập đúng đắn ở chủ thể

Tuy vậy, ở phương diện những nghiên cứu tâm lý học, việc đi sâu tìm hiểu, luận chứng mối liên hệ giữa nhu cầu - thái độ học tập và kết quả học tập của sinh viên đáp ứng yêu cầu đào tạo chưa được khắc hoạ rõ nét

Dạy và học các môn lý luận chính trị ở trường đại học thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong nước Mảng tài liệu bàn về vấn đề này phong phú, đa dạng về hình thức thể hiện, sâu sắc về nội dung luận giải Trong đó, các tác giả đã phân tích, làm rõ sự cần thiết nâng cao chất lượng đào tạo các môn lý luận chính trị cho sinh viên Nhiều tài liệu đã phân tích cơ sở của quá

Trang 14

14

trình này, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới toàn diện: nội dung chương trình, phương pháp dạy và học của giảng viên và sinh viên đối với các môn lý luận chính trị

Tuy nhiên, bàn về chất lượng học tập các môn lý luận chính trị dưới lát cắt khoa học liên ngành tâm lý xã hội và khoa học lý luận dường như vẫn còn mới mẻ trong các công trình nghiên cứu đã có

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên đói với các môn lý luận chính trị, đề tài phân tích, đánh giá nhu cầu thái độ của người học các môn lý luận chính trị và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao nhu cầu, tích cực hoá thái độ học tập của sinh viên Việt Nam đối với các môn lý luận chính trị trong tinh hình hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên, những yếu tố quy định nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên đối với các môn

lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay

- Khảo sát thực trạng nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên Việt Nam đối với các môn lý luận chính trị Trên cơ sở đó đánh giá mức độ nhu cầu học tập và thực trạng thái độ học tập của sinh viên Việt Nam đối với các môn học này thông qua việc phân tích kết quả điều tra ở một số trường đại học tiêu biểu thuộc khu vực Hà Nội

- Xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao nhu cầu học tập, tích cực hoá thái độ học tập của sinh viên đối với các môn lý luận chính trị trong tinh hình hiện nay ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình triển khai nghiên cứu Đồng thời có sử dụng một số phương pháp cụ thể trong khảo sát, thu thập thông tin Cụ thể là:

Trang 15

15

4.1.Phương pháp phân tích tài liệu

Thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm những quan điểm, lý thuyết, các số liệu thống kê, các kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học Đề tài phân tích và làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Trong quá trình thu thập và phân tích tài liệu, các phương pháp logíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, hệ thống - cấu trúc được đề tài sử dụng nhằm xử lý thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu

4.2 Phương pháp điều tra xã hội học

Nhằm đánh giá mức độ nhu cầu và thái độ học tập các môn lý luận chính trị, đề tài dự kiến xây dựng mẫu phiếu phỏng vấn, tiến hành điều tra cho khoảng 1000 sinh viên thuộc các ngành học, các trường đại học đại diện cho các nhóm ngành khoa học, khối đào tạo Việc chọn mẫu điều tra ngẫu nhiên

và đại diện, đảm bảo tính khách quan của thông tin cần thu thập Quá trình làm sạch số liệu được thực hiện qua phần mềm Nvivo 2.0 và SPSS 13.0

4.3 Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Để làm rõ những vấn đề chuyên sâu trong nội dung nghiên cứu, đề tài

dự kiến tiến hành phỏng vấn sâu, lấy ý kiến của 10 chuyên gia thuộc ngành tâm lý học, giáo dục học, cán bộ quản lý của một số viện nghiên cứu và trường đại học

Đề tài dự kiến tổ chức thảo luận nhóm với chủ đề “Nhu cầu và thái độ học tập của sinh viên đối với các môn lý luận chính trị” cho sinh viên một trường đại học Trên cơ sở đó thu thâp thông tin từ đối tượng khảo sát về nhu cầu và thái độ học tập của sinh viên đối với các môn lý luận chính trị hiện nay

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 16

16

thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên Việt Nam trên cơ sở kế thừa, bổ sung, hoàn thiện quan niệm của các học giả đã quan tâm đến vấn đề này Đồng thời đề tài luận chứng một cách khoa học về nhu cầu, thái độ học tập các môn lý luận chính trị và ảnh hưởng của nó đối với kết quả học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên Việt Nam Khi hoàn thành, đề tài góp phần

bổ sung, phát triển lý luận tâm lý học, khoa học lý luận, khoa học giáo dục

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Sử dụng phương pháp đặc thù trong khoa học xã hội thu thập và xử lý thông tin, công trình nghiên cứu thực hiện trên cơ sở những thông tin tin cậy, khách quan, trung thực về nhu cầu, thái độ học tập và kết quả hoạt động học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên Việt Nam hiện nay ở nước ta Do vậy, khi hoàn thành, đề tài có thể là luận cứ khoa học cho việc quản lý và tổ chức hoạt động dạy và học các môn lý luận chính trị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Đề tài còn là tài liệu tham khảo cần thiết cho lãnh đạo Bộ Giáo dục

và Đào tạo, Ban Tuyên giáo trung ương, các trường đại học và cao đẳng, những người quan tâm đến việc hoạt động đào tạo các môn lý luận chính trị cho sinh viên

Trang 17

17

Chương I NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU, THÁI ĐỘ HỌC TẬP

CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA SINH VIÊN

VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Tổng quan về nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên

1.1.1 Lý luận về nhu cầu, thái độ

Khái niệm và đặc điểm nhu cầu

Nhu cầu, thái độ là một trong những hiện tượng tâm lý được nhiều nhà Tâm lý học quan tâm Với các góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đưa

ra quan điểm của mình về nhu cầu, thái độ

Các quan điểm về nhu cầu

Theo cách tiếp cận về sinh học để giải thích về nhu cầu - động cơ, một

số tác giả đã cho rằng nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người Với quan điểm này đã sinh vật hóa hệ thống nhu cầu - động cơ của con người , xem những nhu cầu của con người mang tính sinh vật, đã phủ nhận nguồn gốc xã hội, tính chủ thế của nhu cầu Vì thế ông đã khẳng định khi cơ thể con người thiếu hụt một cái gì đó như thức ăn, nước uống thì kích thích con người hành động tìm kiếm cái cơ thể cần

Đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nghiên cứu về nhu cầu của

A Maslow, K Lewin Nhà Tâm lý học Mỹ A Maslow đại diện cho trường phái Tâm lý học nhân văn đã đưa ra những quan điểm tiến bộ về bản tính của con người đó là: “Bản tính có ý thức, là nhu cầu bậc cao chứ không phải là những bản năng sinh vật, với sự phân cấp nhu cầu từ thấp đến cao là cơ sở để con người càng văn minh, thoát xa các loài vật Ông đã đưa ra luận thuyết thứ bậc về nhu cầu - động cơ Theo ông hệ thống nhu cầu của con người gồm: nhu cầu sinh học, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện

Trang 18

18

Hệ thống thứ bậc nhu cầu của A Maslow

Theo thang nhu cầu này ta thấy các nhu cầu được sắp xếp theo một hệ thống từ thấp đến cao Đó là:

- Nhu cầu sinh học là nhu cầu cơ bản nhất, cấp thiết nhất Con người trước hết phải đáp ứng nhu cầu sinh học rồi mới có thể quan tâm đến các nhu cầu tiếp theo Các nhu cầu này ở bậc thang thấp nhất chỉ cần thoả mãn tới mức cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người

- Các nhu cầu an toàn và bảo vệ tính mạng trước những hiểm họa ở bậc thang thứ hai Trong cuộc sống ai cũng muốn được an toàn, yên ổn, không bị chi phối bởi những bất trắc Đáp ứng được nhu cầu này con người mới thực

sự an tâm thực hiện các hoạt động của bản thân

- Nhu cầu xã hội về đời sống tình cảm như yêu thương, thích sống chan hoà cùng tập thể ở nấc thang thứ ba Cuộc sống con người không thể tồn tại riêng lẻ, mà sự tồn tại và phát triển của bất kỳ cá thể nào là quá trình tham gia vào các hoạt động và các quan hệ xã hội đa dạng và phong phú

Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh học

Trang 19

19

- Nhu cầu triển vọng, tự khẳng định mình, thích được tôn trọng ở nấc thang thứ tư Đó là trong quá trình con người tham gia vào các hoạt động xã hội thì con người luôn mong muốn thành công, có uy tín, được xã hội tôn trọng

- Nhu cầu tự hoàn thiện bản thân là thứ bậc nhu cầu cao nhất của con người, thể hiện sự khát vọng cao ở mỗi người, đồng thời là sự thể hiện đầy đủ nhất về giá trị của con người Con người chủ động thực hiện quá trình xã hội hoá, sự ý thức để điều chỉnh hành vi với mục đích hoàn thiện nhân cách, tự học hỏi, khám phá, tìm hiểu để nâng cao kiến thức hiểu biết, sáng tạo

Theo Maslow các nhu cầu trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của con người có quan hệ với nhau và chúng rất linh hoạt và thay đổi vị thế phù hợp với hoạt động của chủ thể

Theo quan điểm của K Lewin, nhân tố thúc đẩy hoạt động của con người không chỉ có nhu cầu cơ thể mà còn có cả nhu cầu xã hội Khi xuất hiện một nhu cầu nào đó thì đồng thời xuất hiện những hiện tượng có liên quan đến nhu cầu đó ở chủ thể Mọi ý kiến của con người đều liên quan đến các nhu cầu khác nhau

Henry Mursay đã khẳng định nhu cầu là một tổ chức cơ động và nó luôn thúc đẩy hành vi Nhu cầu ở mỗi người là khác nhau về cường độ, mức

độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thế cũng khác nhau ở mỗi người Ông đã nêu ra các loại nhu cầu của con người như: nhu cầu thành đạt, nhu cầu tôn trọng, nhu cầu vui chơi, nhu cầu tự vệ… Các nhu cầu này là sự cần thiết của con người và cần thiết cho hoạt động sống và nó gây ra cho chủ thể tính tích cực hoạt động nhất định

Các nhà Tâm lý học Xô viết đã khẳng định nhu cầu là yếu tố bên trong, quan trọng đầu tiên thúc đẩy con người hoạt động Một trong những người đầu tiên trong số các nhà Tâm lý học Xô viết nghiên cứu về nhu cầu đó là D

N Hznatze Ông cho rằng không có gì có thể đặc trưng cho một cơ thể sống hơn là sự có mặt của nó ở nhu cầu Đó là cội nguồn của tính tích cực Nhu cầu

là một thuộc tính đặc trưng, giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành

Trang 20

20

vi Ông đã khẳng định: nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực, không có nhu cầu thì không thể có tính tích cực, chính nhu cầu xác định xu hướng và tính chất của hành vi Ông cho rằng giữa nhu cầu và hành vi có mối quan hệ mật thiết với nhau

Nhà Tâm lý học X L Rubinstêvin đã khẳng định: để tồn tại và phát triển con người luôn phải hoạt động nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định Nhu cầu là sự đòi hỏi về một cái gì đó nằm ngoài chủ thể: “Cái gì đó chính là đối tượng của nhu cầu, có khả năng đem lại sự thoả mãn nhu cầu thông qua hoạt động của chủ thể Trong quá trình hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu không chỉ phụ thuộc vào yếu tố khách quan mà còn phụ thuộc vào sự nỗ lực, năng lực của chủ thể Tính tích cực của nhu cầu thể hiện nhu cầu thúc đẩy chủ thể tích cực hoạt động tìm kiếm cách thức, phương tiện, điều kiện, đối tượng nhằm thoả mãn nó

Theo A G Côvaliốp nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển Đó là các sự vật, hiện tượng khách quan mà chủ thể nhận thấy cần thiết

để đảm bảo sự tồn tại công bằng của nó với thế giới xung quanh

C Mác khi bàn về nhu cầu đã khẳng định: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử nhưng muốn sống được trước hết phải

có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo mặc… Song để có thức ăn con người phải lao động Từ góc độ tiếp cận này của C Mác, Ph Ănghen đã viết: “Mác

là người phát hiện ra quy luật phát triển của lịch sử loài người, nghĩa là tìm ra các sự thật giản đơn là trước hết con người cần phải ăn uống, rồi mới làm khoa học và chính trị…”Toàn bộ hoạt động của con người là để thoả mãn nhu cầu nào đó của chính mình Điều này được C Mác chỉ ra rằng: Nhu cầu vừa

là mục đích, vừa là động cơ với tư cách là mục đích, nhu cầu là sự hiện thân cho sự phát triển của con người và xã hội Với tư cách là động cơ, nhu cầu thúc đẩy mọi hoạt động của con người để thoả mãn nhu cầu đó

Trang 21

21

Có thể thấy rằng nhu cầu là sự đòi hỏi của con người về những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân được phản ánh trong ý thức và trở thành yếu tố kích thích, thúc đẩy, điều chỉnh hành vi của con người trong mọi hoạt động Nhu cầu là một thuộc tính tâm lý biểu hiện gắn bó con người với thế giới xung quanh Sự gắn bó này chính là nguồn gốc tính tích cực của nhân cách Mỗi cá nhân có rất nhiều nhu cầu Các nhu cầu ấy hợp thành một hệ thống nhu cầu, hệ thống này đó luôn biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh Trong một hoàn cảnh xác định, nhu cầu nào đó nổi lên sẽ trở thành động cơ chủ yếu thúc đẩy cá nhân hành động để thoả mãn nhu cầu đó Sự thoả mãn nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân Chính nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn ý nghĩ, tình cảm, xúc cảm và ý chí của cá nhân

Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó, dần dần nó được cá nhân nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn về ý nghĩa của nó đối với sự tồn tại và phát triển của mình (thiếu nó thì cá nhân không thể tồn tại và phát triển), lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động nhằm mục đích thoả mãn chính nhu cầu này Nhờ vậy, trong sự gắn bó với thế giới xung quanh, con người không phụ thuộc vào thế giới một cách thụ động mà trái lại, trong mối quan hệ này con người xuất hiện như một chủ thể hành động tích cực và sáng tạo Đúng như C Mác nói: Không phải tư duy của con người là nguyên nhân thúc đẩy nó hành động mà nhu cầu mới là động lực đầu tiên thúc đẩy hành động của con người Không có nhu cầu của con người thì

sẽ không có bất cứ hoạt động nào của họ

Đặc điểm của nhu cầu

Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng xác định Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thoả mãn nhu cầu Bản thân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi chủ thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi Đối tượng đáp ứng nhu cầu chỉ bộc lộ khi chủ thể tiến hành hoạt động, nhờ vậy mà nhu cầu có tính đối tượng

Trang 22

22

Đối tượng nhu cầu khi được chủ thể ý thức trở thành nội dung đối tượng của nhu cầu Nhu cầu thực sự là một sức mạnh nội tại, sức mạnh tâm lý kích thích và hướng dẫn hoạt động khi nhu cầu mang tính đối tượng, nghĩa là nhu cầu về một cái gì đó Tính đối tượng của nhu cầu được xuất hiện trong hoạt động có đối tượng của chủ thể Nhu cầu với tư cách là một năng lực hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động chỉ khi được đối tượng hoá, tức là nhu cầu

có đối tượng Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con người với hiện thực khách quan Khi xem xét mức độ của một nhu cầu nào

đó ở con người phải chú ý đến mức độ nhận thức, ý thức, sự giác ngộ của chủ thể về đối tượng cũng như phương thức thoả mãn nó

Nhu cầu nào cũng có một nội dung cụ thể tuỳ theo nó được thoả mãn trong những điều kiện nào và theo một phương thức nào Nội dung của nhu cầu chính là nội dung đối tượng hoạt động Quá trình phát triển của nhu cầu thực chất là quá trình phát triển nội dung đối tượng của các nhu cầu, đó là sự phát triển của những động cơ hoạt động cụ thể của con người Các nhu cầu phát triển thông qua sự biến đổi phạm vi các đối tượng để thoả mãn nhu cầu

ấy và thông qua những biến đổi các phương thức thoả mãn nhu cầu Sự phong phú đa dạng của nhu cầu phụ thuộc vào sự phong phú, đa dạng của đối tượng hoạt động, phụ thuộc vào trình độ nền văn hoá đương thời mà mỗi cá nhân tiếp thu Sự xuất hiện nhu cầu mới gắn liền với sự xuất hiện các phương thức mới thoả mãn nhu cầu ấy

Đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn được phản ánh vào đầu óc con người dưới dạng biểu tượng, với tính chất là một hiện tượng tinh thần

Tâm lý học Mác xít khẳng định, nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực,

là động lực đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con người, nhưng nó không có sẵn mà được hình thành thông qua hoạt động Về nguyên tắc, K Marx đã chỉ rõ: Không có động lực nào lại tồn tại có sẵn trước hoạt động Nhu cầu được hình thành trong quá trình hoạt động Do đó, khi nghiên cứu nhu cầu cần thiết phải xem xét nó dưới hai góc độ đồng thời: Một là, nhu cầu với tư cách

Trang 23

23

là điều kiện bên trong, là một tiền đề bắt buộc của hoạt động Hai là, nhu cầu với tư cách là cái hướng dẫn điều khiển hoạt động của chủ thể trong thế giới đối tượng khách quan

Nhu cầu được thoả mãn thông qua hoạt động Chỉ có thông qua hoạt động thì đối tượng của nhu cầu mới được bộc lộ và được cụ thể hóa và được thoả mãn Chính vì lẽ đó nhu cầu luôn có mối liên hệ mật thiết với động cơ Mỗi loại nhu cầu cụ thể được thoả mãn trong quá trình chủ thể tiến hành hoạt động tương ứng

Như vậy, nhu cầu và hoạt động luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Nhà Tâm lý học A N Lêônchiev đã khẳng định tâm lý con người nói chung

và nhu cầu nói riêng có nguồn gốc từ hoạt động thực tiễn, nhu cầu với tính chất là một sức mạnh nội tại chỉ có thể được thực thi trong hoạt động Mặt khác nhu cầu một khi đã hình thành ở cấp độ tâm lý lại phát huy tính tích cực, trở thành nội lực thúc đẩy con người hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu A N Lêônchiev xem nhu cầu là điều kiện bên trong của hoạt động Thông qua hoạt động cụ thể làm xuất hiện các nhu cầu chức năng như: Nhu cầu lao động, nhu cầu học tập, nhu cầu giao tiếp

Nhu cầu thường đi kèm với các ý chí và cảm xúc của con người Những trạng thái cảm xúc tiêu biểu như tính hấp dẫn của một đối tượng có liên quan đến một nhu cầu nhất định, sự không hài lòng khi nhu cầu không được thoả mãn ý chí - cảm xúc luôn thúc đẩy hoạt động tìm kiếm cách thức cần thiết nhằm thoả mãn nó Chính vì vậy nhu cầu trở thành một trong những động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chủ thể hoạt động và thực hiện các hành vi ý chí

Có thể khẳng định rằng: bản chất của nhu cầu là sự đòi hỏi của chủ thể

về một đối tượng nào đó, cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể với điều kiện sống Nhu cầu là nguồn gốc tính tích cực được bộc lộ thông qua tính tích cực của chủ thể Chính hoạt động là phương thức thoả mãn nhu cầu và thông qua hoạt động nhu cầu và cả hoạt động của con người không ngừng phát triển

Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú Có thể phân chia nhu cầu thành nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần

Trang 24

24

Nhu cầu vật chất có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của cơ thể con người, có cội nguồn sâu xa từ bên trong cơ thể như nhu cầu về thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo mặc… Chính những nhu cầu này thúc đẩy con người hoạt động lao động và sáng tạo để làm ra của cải vật chất, tạo ra cơ sở của toàn bộ lịch sử tồn tại của loài người

Nhu cầu tinh thần có liên quan trực tiếp với những đòi hỏi về cái đẹp, đối xử với nhau cho hợp đạo lý, hợp tình người… có cội nguồn sâu xa từ trong nền văn minh, cái làm nên lực lượng bản chất người Chẳng hạn như nhu cầu về nghệ thuật, nhu cầu về khoa học, nhu cầu học tập vươn lên nắm bắt, lĩnh hội tri thức khoa học…

Nhu cầu của con người mang bản chất xã hội - lịch sử, vận động và phát triển không ngừng cùng với sự vận động, phát triển của xã hội thông quan hoạt động của chủ thể Sự phát triển nhu cầu của mỗi cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ tiếp thu nền văn minh đương thời của cá nhân đó Nhu cầu xuất hiện như là cái đòi hỏi khách quan của xã hội, do điều kiện xã hội quy định, là thuộc tính của mỗi cá nhân với những biểu hiện phong phú Nhu cầu đó không phải lúc nào con người cũng ý thức được đầy đủ, nó được củng

cố và phát triển khi con người thấy được ý nghĩa xã hội của nó Chẳng hạn, đối với người sinh viên nhu cầu đọc sách, nhu cầu học tập, nhu cầu giao tiếp nhu cầu tham gia các hoạt động xã hội… làm cho kết quả học tập mỗi ngày một tốt hơn ở lứa tuổi sinh viên nhu cầu của các em được phát triển chủ yếu trong hoạt động học tập và các hoạt động xã hội giao lưu Chủ động tổ chức một cách khoa học tối ưu các hoạt động đó chính là làm cho nhu cầu của các

em phát triển, thúc đẩy sự hoàn thiện nhân cách

Lý luận về thái độ

Khái niệm thái độ

Thái độ là một hiện tượng tâm lý phức tạp, được nhiều học giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tuỳ vào góc độ nghiên cứu mà họ đưa ra quan niệm của mình về thái độ

Trang 25

25

Nhà nghiên cứu người Mỹ W T Thomas khi nghiên cứu thái độ đã khẳng định: “Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị”, hay “Thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân đối với một giá trị này hay một giá trị khác làm cho cá nhân có hành động này hay hành động khác mà được xã hội chấp nhận”

Nhà Tâm lý học G N Allport đã đưa ra định nghĩa thái độ như sau:

“Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được hình thành thông qua kinh nghiệm có khả năng điều chỉnh hành vi”

Trong Tâm lý học mác xít thái độ là sự sẵn sàng, ổn định của cá nhân

để phản ứng với một tình huống, thái độ có xu hướng rõ rệt, hình thành theo quy luật nhất quán phương thức xử thế của cá nhân Khi nói về vấn đề ý thức trước hết là vấn đề thái độ chủ quan của cá nhân, Mác đã viết: “Thái độ của tôi đối với môi trường của tôi chính là ý thức của tôi”

Trong từ điển Tiếng Việt, thái độ là cách nhìn nhận hành động của cá nhân theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết

Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó

Từ điển Xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh

“Tâm thế - Thái độ - Xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi”

Trong Từ điển các thuật ngữ Tâm lý xuất bản tại New York năm 1996 cho rằng: “Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng

Như vậy, các từ điển khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là cách ứng xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội Nó được cấu thành rất phức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành

Trang 26

26

Qua những quan điểm trên ta thấy “thái độ” thường được lý giải dưới các góc độ chức năng của nó Thái độ định hướng hành vi, ứng xử của con người Nó thúc đẩy, tăng cường tính sẵn sàng của những hành vi, phản ứng của con người tới đối tượng có liên quan

Từ những quan điểm trên đây về thái độ, ta có thể rút ra khái niệm thái

độ như sau:

- Thái độ là một thuộc tính của nhân cách, phản ánh mối quan hệ chủ quan của con người đối với hiện thực, biểu thị sự thống nhất của nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi

- Thái độ được hình thành trong mối quan hệ xã hội, nó định hướng hành động của con người theo một hướng nào đó trước một tình huống cụ thể

- Thái độ được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt

và lời nói của người đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể

- Thái độ của một người trước một sự kiện xã hội thông qua sự tán thành hoặc phản đối, thông qua hành vi tham gia sự kiện đó tích cực hay thờ ơ

Chức năng của thái độ

Thái độ bao gồm các chức năng cơ bản sau:

- Chức năng thích nghi: Thể hiện việc cá nhân thay đổi thái độ cho phù hợp với môi trường nhằm đạt được mục đích đề ra

- Chức năng thể hiện giá trị: Thể hiện ở chỗ thông qua sự đánh giá một cách có chọn lọc về đối tượng qua biểu lộ cảm xúc, tình cảm và hành động, qua hành động của cá nhân, tính sẵn sàng hành động của cá nhân thể hiện giá trị nhân cách

- Chức năng điều chỉnh hành vi và hành động: Trong các chức năng của thái độ thì chức năng này được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn Các tác giả đã tập trung làm rõ cơ chế thực hiện các chức năng của thái độ, tìm ra các điều kiện để các chức năng đó được thể hiện

Trang 27

27

Phân loại thái độ

Đứng trên các góc độ khác nhau, các nhà tâm lý học phân loại thái độ theo những cách khác nhau

Dựa vào tính chất của thái độ V N Miasixev đã chia thái độ thành các loại: thái độ tích cực hay thái độ tiêu cực, thái độ phân tính hay phân cực Biểu hiện của nó có thể là phản ứng hoặc đánh giá thích hay không thích, đồng ý hay phản đối

Dựa vào tính chi phối của thái độ, B Ph Lomov đã chia thái độ thành hai loại, đó là thái độ chủ đạo hay thứ yếu Các thái độ chủ đạo là các thái độ

có liên quan đến mục đích sống và động cơ chủ đạo của cá nhân, chi phối hệ thống thái độ

Các mức độ của thái độ

Dựa vào các chỉ số khác nhau của thái độ, các nhà Tâm lý học đã phân chia thái độ thành các mức độ khác nhau

Theo H Benesch – Nhà Tâm lý học người Đức, thái độ gồm các mức độ sau:

- Về mức độ: nhiều hay ít, thường xuyên hay không thường xuyên

- Về cường độ, thái độ gồm các mức độ tích cực, nhiệt tình, chủ động, cao hay thấp

Theo B Ph Lovnov

- Xét về cường độ, thái độ gồm các mức độ: mạnh hay yếu

- Xét về mức độ tích cực thể hiện mức độ ảnh hưởng của thái độ đối với tính tích cực của cá nhân

- Mức độ ý thức, thái độ của cá nhân là thái độ có ý thức, cá nhân nhận thức được thái độ của mình

Theo Likert, người nghiên cứu chỉ cần viết một loạt câu hỏi theo thứ tự

về vấn đề cần nghiên cứu, những người được điều tra chỉ cần chỉ ra là họ rất đồng ý, đồng ý, không đồng ý hoặc rất không đồng ý với từng câu hỏi nêu ra

Ý kiến của họ được đưa ra giá trị số Thái độ của cá nhân đó đối với vấn đề được nghiên cứu được xác định như là tổng hợp của những giá trị số đó

Trang 28

28

Mối quan hệ giữa thái độ và các hiện tượng tâm lý của con người

Thái độ là một hiện tượng tâm lý phức tạp của con người nên khi nghiên cứu bản chất của thái độ đòi hỏi phải khảo sát các biểu hiện đa dạng, phong phú của thái độ trong các mối quan hệ với các hiện tượng tâm lý khác

có liên quan

Thái độ và ý thức cá nhân

Trong Tâm lý học, ý thức là hình thức phản ánh tâm lý bậc cao, đặc trưng của loài người, là năng lực nhận thức được cái phổ biến và cái bản chất trong hiện thực khách quan, nó định hướng, điều khiển một cách tự giác thái

độ, hành vi, quan hệ giữa con người và hoàn cảnh tự nhiên và xã hội Trong cấu trúc của ý thức bao gồm ba thành phần cơ bản:

Thái độ và nhu cầu

Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người cần phải thoả mãn để tồn tại

và phát triển trong điều kiện xã hội lịch sử nhất định, là động lực đầu tiên thúc đẩy hoạt động, là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động của con người Nó vừa là điều kiện bên trong, yếu tố bắt buộc phải có của hoạt động, vừa là cái hướng dẫn và điều khiển hoạt động chủ quan của chủ thể trong thế giới đối tượng khách quan

Nhu cầu có vai trò nòng cốt, quyết định sự phát triển của nhân cách làm nền tảng của động cơ, mục đích hoạt động Quá trình thoả mãn nhu cầu đồng

Trang 29

29

thời cũng là quá trình hình thành sự sẵn sàng hành động Nhu cầu của con người có tác dụng xác định theo hướng thái độ của cá nhân đối với hiện thực, với trách nhiệm của bản thân Trong quá trình đó, con người xác định cho mình thái độ đúng đắn, say sưa hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng, thái độ có tác dụng làm nảy sinh, phát triển và điều khiển các nhu cầu

Trong quá trình hoạt động, nhu cầu được biểu thị ra bằng thái độ Thái

độ phản ánh tính chất và mức độ thoả mãn của nhu cầu Nhu cầu là nguồn gốc, là cơ sở bên trong của thái độ Cho nên nhu cầu và thái độ có mối quan

hệ khăng khít với nhau, thông qua các biểu hiện của nhu cầu để nắm bắt thái

độ của cá nhân Thông qua quá trình thoả mãn nhu cầu con người củng cố các thành phần của thái độ như quan điểm, nhận thức tình cảm cũng như cách xử thế đối với đối tượng thoả mãn nhu cầu

Thái độ và hứng thú

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoan khoái cho

cá nhân trong quá trình hoạt động

Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê hấp dẫn bởi nội dung của đối tượng Đặc trưng của hứng thú là chủ thể có ý thức, thái độ say sưa, thái độ lựa chọn, có các cảm xúc khác nhau trước đối tượng Hứng thú còn là điều kiện quan trọng để cá nhân có thái độ sáng tạo đối với hoạt động, tăng hiệu quả và sức làm việc, nó cuốn hút ý nghĩ, tình cảm, hoạt động của cá nhân Vì thế nếu ta biết cá nhân có hứng thú đối với đối tượng nào đó hay không thì ta có thể biết thái độ của họ đối với đối tượng như thế nào

Trang 30

30

Ý chí và thái độ cũng là thành phần hữu cơ của ý thức cá nhân, biểu hiện thái độ trong hành động, đặc biệt là thái độ đối với các khó khăn, trở ngại trong hành động Các phẩm chất ý chí như tính quyết đoán, tính kiên trì, nhẫn nại… đều được hình thành, phát triển và bộc lộ qua thái độ tương ứng Do đó

có thể sử dụng ý chí như là một chỉ báo quan trọng của thái độ cá nhân

Thái độ và hoạt động của cá nhân

Hoạt động là phương thức tác động có mục đích của con người với hiện thực nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội

Sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức và nhân cách của con người chỉ có thể bằng hoạt động và thông qua hoạt động của cá nhân mà thôi Hoạt động là điều kiện, là nhân tố quyết định trực tiếp đến nhân cách của con người., quyết định thái độ của cá nhân đối với hiện thực

Trong quá trình sống con người chủ động tác động vào thế giới thể hiện thái độ tích cực nhận thức và cải tạo thế giới của chủ thể đối với môi trường xung quanh… Tháí độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng hoạt động Chính việc xác định mục đích, động cơ, lập kế hoạch lựa chọn các hình thức, công cụ của hoạt động không chỉ phụ thuộc vào những yêu cầu của hoàn cảnh hiện tại mà còn phụ thuộc vào tính chất của hệ thống thái độ của bản thân

Thái độ và xúc cảm, tình cảm

Xúc cảm, tình cảm của con người là những thái độ của cá nhân đối với

sự vật, hiện tượng, nó phản ánh ý nghĩa của sự vật, hiện tượng có liên quan đến sự thoả mãn những nhu cầu và động cơ của con người Trước một hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội, con người thường bộc lộ thái độ của mình rất cụ thể, đa dạng và phong phú như vui, buồn, yêu, ghét, tích cực… đó là các nét biểu hiện xúc cảm, tình cảm của con người

Xúc cảm, tình cảm phản ánh những rung cảm của cá nhân đối với đối tượng nào đó Trong quá trình hoạt động con người tác động vào đối tượng nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó thì thái độ, xúc cảm, tình cảm xuất hiện và

Trang 31

Mối quan hệ giữa thái độ và hành vi luôn gắn chặt với nhau Đó là quan

hệ tác động hai chiều, qua lại với nhau Thái độ trực tiếp ảnh hưởng đến hành

vi của con người Ngược lại, khi con người thực hiện lại làm nảy nở các thái

độ tiếp theo

Thái độ tác động đến hành vi nhất định, đó là cách xử sự của họ đối với đối tượng đó Cho nên có thể khẳng định rằng thái độ về mặt cấu trúc, bao hàm cả mặt nhận thức, mặt cảm xúc và mặt hành vi

Tóm lại, thái độ có liên quan đến nhiều thuộc tính tâm lý cá nhân Nó là một thành phần cấu trúc của ý thức cá nhân, được biểu hiện trong những hình thức đặc biệt như hứng thú, xúc cảm, tình cảm… Thái độ được hình thành và phát triển, biểu hiện thông qua hoạt động của cá nhân Vì thế nghiên cứu thái

độ của cá nhân phải thông qua những biểu hiện của nó trong cấu trúc nhân cách, trong hoạt động của họ

1.1.2 Nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên

Nhu cầu học tập của sinh viên

Hoạt động học tập của sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” theo tiếng Latinh có nghĩa là người làm việc học tập nhiệt tình, đang khai thác, tìm kiếm tri thức Thuật ngữ này xuất hiện đã từ lâu và được sử dụng từ khi bắt đầu hình thành các trung tâm giáo dục đại học

Theo Xã hội học và Tâm lý học thì sinh viên là đại biểu của một nhóm

xã hội đặc biệt gồm những người đang chuẩn bị cho hoạt động lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định Ở cấp độ xã hội, sinh viên là người đang chuẩn bị để gia nhập vào đội ngũ tri thức của xã hội Ở cấp độ cá nhân thì sinh viên là giai đoạn của quá trình trưởng thành về xã hội chín muồi về thể lực, sự

Trang 32

Theo Lênin, thanh niên sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất trong giới trí thức Vì vậy, phải quan tâm đến giáo dục rèn luyện thế hệ trẻ trong đó có sinh viên Giáo dục là biện pháp hàng đầu có ảnh hưởng đến việc phát triển nhân cách của họ, đến tiến trình phát triển của xã hội

Xác định vị trí, vai trò của sinh viên đối với tương lai của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,

vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Theo Bác, trong giáo dục phải chú ý đến đào tạo thế hệ trẻ thành những người vừa “hồng”, vừa “chuyên” Quan điểm chiến lược của Đảng ta về thanh niên, sinh viên đã được trình bày một cách cụ thể trong Nghị quyết lần thứ IV của Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, đã chỉ rõ, thanh niên sinh viên là lực lượng đóng vai trò xung kích trong

sự nghiệp đổi mới và đưa đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Như vậy, thanh niên, sinh viên là những người trẻ, khoẻ, có hiểu biết về khoa học và kỹ thuật, năng lực nhận thức phát triển mạnh mẽ, họ trưởng thành về thể chất và tinh thần Điều đó cho phép họ có thể giải quyết độc lập những vấn đề đặt ra trong cuộc sống Thanh niên, sinh viên còn mang trong mình khát vọng được cống hiến, họ có lòng khát khao vươn lên tự hoàn thiện bản thân Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, thanh niên, sinh viên chú trọng đến việc học hành, nâng cao trình độ nhận thức của bản thân, tiếp thu thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, có nhu cầu, thái độ học tập để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững

Trang 33

vụ có trình độ cao Muốn vậy, trong hoạt động học tập của sinh viên trước hết

họ phải xác định nhu cầu, thái độ học tập đúng đắn, tích cực để nâng cao kết quả của quá trình học tập của mình

Hoạt động học tập của sinh viên là một loại hoạt động nhận thức cơ bản, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên nhằm nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng về một loại nghề nghiệp nào đó làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp tương lai

Đặc điểm của hoạt động học tập của sinh viên

Hoạt động học tập là hoạt động hướng vào sự tái tạo tri thức ở người học, giúp cho người học tích luỹ vốn liếng tinh thần cho bản thân Để tái tạo lại, người học không có cách gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân thông qua động cơ, ý chí … Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học Mặc

dù hoạt động học có thể cũng có thể làm thay đổi khách thể Nhưng như thế

Trang 34

Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của sinh viên, giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách của người học

Nếu gọi chủ thể của hoạt động học là người học thì đối tượng của hoạt động học hướng tới đó là tri thức Nhưng tri thức mà sinh viên phải học được lựa chọn từ những khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định, làm thành những môn học tương ứng, được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: khái niệm, kĩ năng, thái độ… Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học Tuy vậy, có sự khác nhau về nguyên tắc giữa hoạt động học và hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động học là hoạt động tái tạo lại những tri thức đã có từ trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân lý khoa học mà loài người chưa biết đến

Hoạt động học tập chỉ diễn ra khi có sự tham gia của các yếu tố bên ngoài (ngoại lực) như: có sự hướng dẫn của thầy, sách, vở, bút, máy tính, giáo trình…và có sự vận động của chính bản thân người học hay còn gọi là yếu tố nội lực Đó là những tri thức mà người học học được, trình độ trí tuệ hiện có của người học, động cơ, ý chí, hứng thú của người học Học tập là quá trình tương tác các yếu tố ngoại lực và yếu tố nội lực thông qua hoạt động dạy và học Trong đó, yếu tố nội lực ở đây đóng vai trò quan trọng trong hoạt động học của người học

Trang 35

- Đối tượng nghiên cứu của sinh viên là những tri thức khoa học và những thông tin về nghề nghiệp tương lai

- Hoạt động học tập của sinh viên thể hiện tính độc lập, trí tuệ cao, người sinh viên phải chịu sự căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ, áp lực lớn trong các kỳ kiểm tra, thi và bảo vệ khoá luận, luận văn… Sinh viên phải tự ý thức đầy đủ về học tập của bản thân R A Nhizamov đã khẳng định học tập ở đại học, sinh viên phải là chủ thể tích cực dưới sự hướng dẫn của giảng viên Tính độc lập, tự chủ trong học tập của sinh viên thể hiện trong suốt quá trình học tập, từ việc tích cực giải quyết các nhiệm vụ học tập đến việc tìm tài liệu tham khảo, tự lập kế hoạch học tập… Tự ý thức về học tập là vấn đề cốt lõi trong học tập của sinh viên, nó thể hiện ở sự giác ngộ, nhận thức về nhu cầu, thái độ học tập của mình

- Hoạt động học tập của sinh viên gắn với thực tiễn

Quá trình học tập của sinh viên là quá trình lĩnh hội tri thức khoa học

và ứng dụng vào thực tiễn, phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp tương lai

Cái cốt lõi của hoạt động học tập ở sinh viên là sự tự ý thức về hoạt động học tập của mình Tự ý thức về động cơ, mục đích, biện pháp học tập, hình thành nhu cầu, thái độ tích cực trong học tập, hiểu sâu sắc rằng chính mình là chủ thể của hoạt động học và chịu trách nhiệm trước học tập của mình

Hoạt động học tập của sinh viên bao gồm cả hoạt động ở trên lớp và hoạt động ở ngoài lớp Hoạt động trên lớp theo kế hoạch giảng dạy của nhà trường được quy định bởi thời khoá biểu nhất định Hoạt động ở ngoài lớp do bản thân

Trang 36

36

sinh viên tự lựa chọn, sắp xếp, thực hiện như tự học, tự tìm tài liệu tham khảo, tập dượt nghiên cứu khoa học… Hoạt động ngoài lớp giúp sinh viên mở rộng tầm hiểu biết và đào sâu kiến thức theo chuyên môn mà mình đã lựa chọn

Như vậy, trong các hoạt động của sinh viên, hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội… thì hoạt động học tập là hoạt động giữ vai trò chủ đạo, nó ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển các quá trình

và thuộc tính tâm lý của người sinh viên, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp Do đó, người sinh viên phải thực sự làm chủ quá trình học tập, biết biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

Nhu cầu học tập của sinh viên

Nhu cầu học tập của sinh viên là đòi hỏi của người sinh viên đối với việc lĩnh hội tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phương pháp học tập nhằm trau dồi, phát triển vốn liếng nghề nghiệp và hoàn thiện nhân cách

Nhu cầu học tập của sinh viên là thành phần cơ bản của động cơ học tập, thúc đẩy tính tích cực và có ảnh hưởng quyết định tới kết quả học tập Nhu cầu học tập là sự phản ánh trạng thái thiếu hụt kiến thức khoa học, thiếu hụt kỹ năng mới và phương pháp nhận thức và thực hành của chủ thể học tập Nhu cầu học tập là một trong những nhu cầu tinh thần cơ bản của con người, nhu cầu này được xuất hiện khi chủ thể nhận thức sâu sắc sự cần thiết phát triển bản thân, nâng cao trình độ của bản thân

Trạng thái thiếu hụt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mới thể hiện ở sự ước

ao, mong muốn nâng cao khả năng nhận thức của bản thân Khi gặp được đối tượng có khả năng thoả mãn nhu cầu học tập trở thành động cơ hướng dẫn và kích thích chủ thể chiếm lĩnh kiến thức đó Khi người học được kích thích bởi tình huống có vấn đề, họ ý thức được mâu thuẫn trong nhận thức của mình làm nảy sinh nhu cầu và tính tích cực tìm kiếm cái mới

Thông qua việc học người học sẽ lĩnh hội được tri thức, kinh nghiệm lịch sử của loài người, của dân tộc biến thành tri thức của bản thân, bù đắp những thiếu hụt về trình độ của mình Chính hoạt động học tập là phương thức thoả mãn nhu cầu học tập Nhu cầu học tập được nảy sinh là do người học nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa của việc học đối với bản thân Vì vậy để

Trang 37

37

hình thành và phát triển nhu cầu học tập phải làm cho người học ý thức được việc học là cần thiết với bản thân, kích thích được sự ham học tập, ham hiểu biết và hứng thú đối với việc học

Nhu cầu học tập thực chất là nhu cầu làm giàu vốn hiều biết kinh nghiệm của cá nhân đáp ứng yêu cầu của xã hội Việc thoả mãn nhu cầu học tập của cá nhân sẽ làm cho họ phát triển, tự khẳng định năng lực nghề nghiệp của mình Cho nên để đạt được kết quả cao trong hoạt động học tập của sinh viên thì phải làm nảy sinh nhu cầu học tập của họ Nhờ sự xuất hiện nhu cầu học tập của người sinh viên sẽ thúc đẩy tính tự giác, tích cực, tính sáng tạo, sự tìm tòi, say mê, hứng thú trong học tập… Nhu cầu học tập chính là nguồn gốc của tính tích cực học tập Cho nên không có nhu cầu học tập sẽ không có động cơ học tập và người sinh viên học với sự thờ ơ, lơ là, không tự giác và không có ý thức về việc học của mình

Nhu cầu học tập có mối quan hệ chặt chẽ và là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến kết quả học tập và tính tích cực, tự giác học tập Tính tích cực học tập thể hiện ở nhu cầu học tập và nhu cầu học tập là nguồn gốc của tính tích cực học tập Nhờ có tính tích cực học tập nó như là một động cơ cực mạnh thúc đẩy chủ thể tìm tòi những kiến thức mới, phát triển năng lực mới, vượt qua những khó khăn, trở ngại trong hoạt động học tập

Khi chủ thể có nhu cầu học tập thì thường là thời gian dành cho việc học tập sẽ nhiều hơn, việc học diễn ra chất lượng hơn, chủ thể có tình cảm đối với việc học, họ thích thú không bị gò ép căng thẳng Việc thoả mãn nhu cầu học tập sẽ đem lại niềm vui, sự phấn khởi, thoải mái trong học tập và lại làm xuất hiện nhu cầu mới cao hơn, thúc đẩy chủ thể tiến hành hoạt động học tập

Đặc điểm nhu cầu học tập

Đối tượng của nhu cầu học tập là sự học tập, là sự lĩnh hội hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phương thức chiếm lĩnh chúng Nhu cầu học tập không thể tồn tại tự thân vì chúng không phải là thực thể mà là những hiện tượng tâm lý đặc trưng của con người Khi chủ thể học tập ý thức được ý nghĩa của đối tượng nhu cầu học tập sẽ tạo nên nội dung của nhu cầu học tập

Trang 38

38

Hoạt động học tập hướng tới việc chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng, kỹ xảo mới, làm phong phú kinh nghiệm, làm giàu vốn liếng tinh thần cho bản thân, thoả mãn nhu cầu học tập của chủ thể

Phương thức thoả mãn nhu cầu học tập là hoạt động học tập, bao gồm hoạt động học tập trên lớp, ngoài lớp Để thoả mãn nhu cầu học tập chủ thể phải tiến hành hoạt động học tập bằng cách lĩnh hội, chiếm lĩnh hệ thống kiến thức, kỹ năng mới…

Hoạt động học tập luôn được thúc đẩy bởi nhu cầu học tập và nhu cầu học tập là nguồn gốc của tính tích cực học tập Tính tích cực học tập đó là sự mong muốn học tập, tìm kiếm cái mới, đó là sự khát vọng học tập, có ý thức,

tự giác, có ý chí và nghị lực trong hoạt động học tập của mình Chính nhu cầu học tập với sự khát khao đó đã thúc đẩy con người học tập, làm phát triển tính tích cực học tập ở chủ thể Nhu cầu học tập là trạng thái hoạt động của người học, nó

là nguồn năng lượng bên trong được chuyển tải sang tính tích cực học tập khi con người tiến hành hoạt động học tập Cho nên nếu không có nhu cầu học tập sẽ không có tính tích cực học tập ở sinh viên Ngược lại, nhu cầu học tập được biểu hiện, thoả mãn và không ngừng phát triển thông qua tính tích cực học tập

Trong qúa trình học tập ở bậc đại học, người sinh viên được nghiên cứu, học tập nhiều môn học khác nhau thuộc các lĩnh vực khoa học như: các môn khoa học thuộc chuyên ngành, cơ sở ngành, những môn khoa học tự nhiên và các môn lý luận chính trị Các môn học đó đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Vì vậy việc hình thành và phát triển nhu cầu, thái độ học các môn lý luận chính trị cho sinh viên ở các trường đại học là một vấn đề được đặt ra Làm cho sinh viên hiểu việc học tập các môn lý luận chính trị là cần thiết, nó là một mặt không thể thiếu được trong qúa trình đào tạo ở bậc đại học

Việc hình thành nhu cầu học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên chỉ có thể diễn ra trong hoạt động học tập các môn học lý luận chính trị Do

đó cần phải tổ chức tốt quá trình học tập để hình thành thói quen tốt đối với

Trang 39

39

việc học tập các môn học lý luận chính trị Nhu cầu học tập được phát triển khi phương tiện thoả mãn các nhu cầu học tập đó đa dạng và phong phú Vì vậy phải tối ưu hoá các điều kiện và phương tiện học tập để thoả mãn nhu cầu học tập các môn lý luận chính trị Nhu cầu học tập các môn lý luận chính trị được củng cố khi chủ thể ý thức được ý nghĩa của nó đối với bản thân và

xã hội Vì thế cần coi trọng công tác giáo dục, xây dựng ý thức học cho sinh viên ngay từ những ngày đầu vào trường, ngay từ những tiết học đầu tiên của các môn học này Đồng thời, cần tạo ra sức hấp dẫn của nghệ thuật giảng dạy các môn lý luận chính trị, gắn lý thuyết với thực tiễn cuộc sống, đưa dẫn chứng thực tế để minh hoạ cho bài giảng làm cho người học hiểu được tri thức lý luận và ý nghĩa thực tiễn của các môn lý luận chính trị Để hình thành, phát triển nhu cầu học tập thì vai trò của người giáo viên có ảnh hưởng quan trọng Người thầy với việc sắp xếp, chế biển bài giảng một cách sinh động, sáng tạo, với nội dung, chương trình vừa sức, thiết thực phù hợp với đối tưọng mới hấp dẫn người học, từ đó lối cuốn, thúc đẩy họ học tập tích cực, chủ động với tư các là chủ thể của hoạt động học tập

Như vậy, để hình thành và phát triển nhu cầu học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên ở các trường đại học phải có những biện pháp tác động vào nhận thức, thái độ đến việc xây dựng thói quen tích cực học tập của chủ thể, đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu từ phía khách quan như đa dạng hoá, hiện đại hoá các phương thức và điều kiện thoả mãn, tạo môi trường kích thích và phát triển nhu cầu học tập các môn học này

Thái độ học tập của sinh viên

Trong lịch sử nghiên cứu về thái độ, người ta không nghiên cứu thái độ một cách chung chung, mà nghiên cứu thái độ trong một lĩnh vực cụ thể như thái độ xã hội, thái độ nghề nghiệp, thái độ học tập… Trong đó thái độ học tập được nhiều người quan tâm đặc biệt là thái độ học tập của sinh viên

Thái độ học tập là thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện ở ý thức, tình cảm, hứng thú, ý chí… của chủ thể trong hoạt động học tập, thông qua

Trang 40

Thái độ học tập của sinh viên thường được thể hiện thông qua:

- Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của các môn học

Việc nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của môn học đối với bản thân sẽ giúp người học có thái độ đúng đắn trong quá trình lĩnh hội kiến thức mới Điều này sẽ làm cho người học điều khiển hoạt động học của mình một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

- Biểu hiện về mặt thái độ học tập

Mặt thái độ bao gồm thái độ cảm xúc tích cực hay không tích cực với hoạt động học như:

+ Tâm trạng háo hức, chờ đón hay không háo hức, chờ đón các môn học + Có niềm vui nhận thức cùng với sự thích thú khi tiếp nhận các tri thức hay ngược lại

+ Thích thú hay không thích thú tìm tòi tài liệu học tập

+ Dành thời gian tự học hay không

+ Có tham gia tích cực phát biểu xây dựng bài hay không

+ Biểu hiện về mặt hành vi

+ Hành vi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của thái độ Hành vi học tập của sinh viên là:

Ngày đăng: 25/11/2021, 08:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w