1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phan tich bai tho que huong

69 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Bài Thơ Quê Hương
Tác giả Tế Hanh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Văn mẫu
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 769,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh Download vn Văn mẫu lớp 8 Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh Tổng hợp Download vn 1 Sơ đồ tư duy phân tích bài thơ Quê hương Dàn ý phân tích bài thơ Quê hư[.]

Trang 1

Sơ đồ tư duy phân tích bài thơ Quê hương

Dàn ý phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh

Dàn ý 1

1 Mở bài

 Giới thiệu nhà thơ Tế Hanh với bài thơ Quê hương

 Bài thơ thể hiện tình cảm nhớ thương đằm thắm, tha thiết của tác giả vớiquê hương Mà cụ thể là một làng quê với những con người miền biểntươi sáng, đầy sức sống và khỏe khoắn

2 Thân bài

a) Giới thiệu chung về làng quê của tác giả (2 câu thơ đầu)

b) Khung cảnh bức tranh quê hương và nỗi lòng của nhà thơ

* Miêu tả cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá (6 câu thơ tiếp)

Trang 2

 Tác giả sử dụng hình ảnh so sánh: "con tuấn mã"

 Cùng với những động từ mạnh: "phăng, hăng, vượt"

 Tính từ: "mạnh mẽ"

=> Tái hiện lại thật ấn tượng khí thế dũng mãnh của con thuyền ra khơi Toátlên một bức tranh lao động đầy hứng khởi với sức sống mãnh liệt, một vẻ đẹphùng tráng nên thơ

* Cảnh đoàn thuyền trở về bến (8 câu thơ tiếp)

 4 câu đầu: Miêu tả bức tranh lao động tấp nập, hối hả, đầy ắp niềm vui,niềm hân hoan của những người dân chài đang háo hức thu hoạch nhữngthành quả của mình

 4 câu tiếp theo: Miêu tả cảnh người dân chài và con thuyền nằm nghỉngơi sau một chuyến ra khơi Với nghệ thuật nhân hóa "con thuyền" từmột vật vô tri đã trở nên có hồn

c) Khổ kết: Nói về nỗi lòng của nhà thơ với quê hương Xa quê đã lâu nên nỗi

nhớ càng trở nên da diết, chân thành, mộc mạc và giản dị như được thốt ra từtrái tim với cái "mùi mặn nồng", nhớ những cái quen thuộc, những đặc trưngcủa thôn quê như một hương vị riêng đầy quyến rũ của quê hương mình Chỉ cómột tâm hồn yêu thương gắn bó thật sâu nặng với người dân làng chài thì nhàthơ mới cảm nhận được tinh tế như thế

3 Kết bài

 Giọng thơ sôi nổi, tha thiết, mãnh liệt

 Qua đó thấy được tình cảm đằm thắm của tác giả dành cho người dânlàng chài ven biển Một tình cảm cao đẹp và thiêng liêng Một biểu hiện

cụ thể của tình yêu quê hương đất nước

Trang 3

* Bức tranh làng quê miền biển:

● Lời giới thiệu: “vốn làm nghề chài lưới” ⇒ làng nghề đánh cá truyềnthống

● Vị trí: sát ngay bờ biển, “nước bao vây”

⇒ Lời giới thiệu giản dị, mộc mạc, không rườm rà, hoa mỹ

* Cảnh lao động của người dân làng chài:

Trang 4

● Hình ảnh cánh buồm giữa biển khơi: con thuyền như linh hồn của ngườidân làng chài, nổi bật trên nền trời bao la rộng lớn ngoài biển khơi.

⇒ Khung cảnh tuyệt đẹp, trần đầy sức sống, sự tươi mới, hứa hẹn một ngày rakhơi thắng lợi

- Cảnh con thuyền trở về sau 1 ngày lênh đênh trên biển

● Người dân: tấp nập, hớn hở với thành quả của 1 ngày đánh bắt

● Hình ảnh người dân chài: làn da “ngăm rám nắng” , thân hình “nồng thở

vị xa xăm” ⇒ khỏe mạnh, đậm chất miền biển, đầy lãng mạn với “vị xaxăm” – vị của biển khơi, của muối, của gió biển – đặc trưng cho ngườidân chài

● Hình ảnh con thuyền: động từ nhân hóa “mỏi”, “nằm”, “nghe”,… conthuyền như một con người lao động, biết tự cảm nhận thân thể của mìnhsau một ngày lao động mệt mỏi

⇒ Bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển và hình ảnh khỏekhoắn, tràn đầy sức sống, tinh thần lao động của người dân làng chài

Luận điểm 2: Nỗi nhớ da diết, tình cảm thắm thiết của tác giả với quê hương của mình

● Liệt kê một loạt các hình ảnh của làng quê: “màu nước xanh”, “cá bạc”,

“chiếc buồm vôi”, “con thuyền rẽ sóng”,… thể hiện nỗi nhớ quê hươngchân thành, da diết của tác giả

● Câu thơ cuối: “mùi nồng mặn” – mùi của biển khơi, cá tôm, mùi của conngười ⇒ hương vị đặc trưng của quê hương miền biển Câu cảm thán nhưmột lời nói thốt ra từ chính trái tim của người con xa quê với một tình yêuthủy chung, gắn bó với nơi đã bao bọc mình

Trang 5

Luận điểm 3: Nghệ thuật

● Thể thơ tám chữ phóng khoáng, phù hợp với việc bộc lộ cảm xúc giản dị,

tự nhiên

● Các hình ảnh liên tưởng, so sánh, nhân hóa vô cùng độc đáo

● Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, giọng điệu nhẹ nhàng, da diết

3 Kết bài:

● Khẳng định lại giá trị : Với những đặc sắc nghệ thuật bài thơ “Quê

hương” không chỉ là thành công lớn trong sự nghiệp thơ Tế Hanh mà cònthể hiện tình cảm yêu thương, nỗi lòng sâu sắc, cảm động của tác giả đốivới quê hương của mình

● Liên hệ và đánh giá tác phẩm: Đây là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơdạt dào tình cảm của Tế Hanh và cũng là một trong những bài thơ haynhất viết về tình cảm quê hương

Phân tích bài thơ Quê hương ngắn gọn

Quê hương là nguồn cảm hứng lớn suốt đời thơ của Tế Hanh Dưới ngòi bút củaông, nguồn cảm hứng này đã tạo thành một dòng chảy tâm tình với nhiều bàithơ nổi tiếng Bài thơ "Quê hương" được sáng tác năm 1939, in trong tập thơ

"Hoa Niên", là tác phẩm mở đầu cho mạch cảm hứng viết về đề tài này của ông.Gói ghém trong bài thơ là lời yêu, nỗi nhớ và niềm tự hào tha thiết chân thànhcủa Tế Hanh về sông nước quê hương mình

Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh quê hương hiện lên trong nỗi nhớ của người con

xa quê Nổi bật trong bức tranh quê hương là làng chài ven biển tươi sáng, đẹp

đẽ, sống động, cùng với hình ảnh những người ngư dân lao động khỏe khoắntươi vui trong công việc của chính mình

Trang 6

Trước hết, hai câu thơ mở đầu là lời giới thiệu về quê hương của nhà thơ:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:

Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.

Lời thơ ngắn gọn, tự nhiên như một câu văn xuôi thông thường nhưng đã giớithiệu một cách đầy đủ từ công việc thường làm đến vị trí của "làng tôi" Đó làmột làng nghề chài lưới ven biển xinh xắn với con sông Trà Bồng thơ mộng uốnkhúc, bao quanh Người đọc nhận ra trong lời kể hàm chứa một nỗi xúc độngnghẹn ngào và nỗi nhớ nhung da diết của một người con xa xứ Và từ đó, hìnhảnh làng chài quê hương cứ lần lượt hiện lên như một thước phim quay chậmtrong tâm trí, chiếm lĩnh tâm hồn của nhà thơ

Nhớ về quê hương, ấn tượng đẹp và in sâu đậm nhất trong lòng Tế Hanh đó làhình ảnh về những con người lao động đang đưa thuyền ra khơi đánh bắt cá:

Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.

Khung cảnh của biển cả thiên nhiên hiện lên thật nhẹ nhàng, thơ mộng Ánh mặttrời mới nhú lên khỏi mặt biển, ánh nắng hồng dịu nhẹ trải khắp muôn nơi Vàkhi ấy, những người ngư dân lại bắt đầu cuộc hành trình lao động của chínhmình Họ bắt đầu nhổ neo, đẩy thuyền tiến ra khơi xa Nghệ thuật so sánh, kếthợp với những động từ mạnh như "hăng", "phăng", "vượt" không chỉ cho thấysức mạnh khỏe khoắn, đầy tự tin của chiếc thuyền khi ra khơi mà còn thể hiệnkhí thế hăng hái, căng tràn sinh lực và cả sự hăng say trong lao động của nhữngcon người làm chủ vũ trụ, làm chủ biển lớn đại dương mênh mông Khi ấy, conthuyền hiện lên thật chứa chan sức sống, tâm hồn của làng chài ven sông:

Trang 7

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

Cánh buồm được gió trời thổi căng như chứa đựng cả hồn thiêng quê hương, ẩnchứa trong đó biết bao nhiêu là niềm tin, sự hi vọng của những người ngư dân

về một cuộc thủy trình đánh bắt cá bình yên và thu được những mẻ lưới bội thu.Động từ "rướn" vừa cho thấy sự khéo léo, uyển chuyển linh hoạt; lại vừa chothấy sức mạnh vươn lên, rướn cao lên cùng mây gió của con thuyền khi ra khơi

Vì thế, con thuyền như càng trở nên kì vĩ hơn, lớn lao hơn và hùng tráng hơntrước vụ trụ thiên nhiên Chắc hẳn phải có một tâm hồn lãng mạn, sức liêntưởng dồi dào cùng với tình yêu quê hương sâu sắc thì Tế Hanh mới có đượcnhững cảm nhận độc đáo về "mảnh hồn làng" trên "cánh buồm giương to" đếnnhư vậy

Đến khổ ba, cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong niềm náo nức, phấn khởi,tấp nập, đông vui:

Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhớ ơn trời biển lặng cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Dưới ngòi bút tài hoa của Tế Hanh, bức tranh lao động hiện lên thật chân thực,khỏe khoắn, náo nhiệt, đầy ắp tiếng cười nói của con người Và người ngư dânhiện lên thật hồn hậu, chất phác khi gửi lời biết ơn chân thành tới người mẹ biểnkhơi đã che chắn, bảo vệ và cho họ một cuộc sống ấm no, hạnh phúc Lời thơnhư thể hiện niềm vui tràn đầy, ngây ngất của Tế Hanh như đang cùng với ngưdân quê mình hát lên bài ca lao động Trong niềm phấn khởi, say mê và niềm tựhào về người lao động, nhà thơ đã viết lên hai câu thơ thật đẹp về người ngư

Trang 8

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Vẻ đẹp ngoại hình với làn da ngăm đen rám nắng với những bắp thịt cuồn cuộn,rắn rỏi, mạnh mẽ đã tạo nên một thần thái phong trần, dẻo dai, kiên cường khilàm chủ biển khơi của họ Chính cái vị mặn mòi của muối biển, nồng đượm đãthấm sâu trong từng thớ thịt, từng hơi thở của người dân chài làng chài Cụm từ

"vị xa xăm" còn gợi lên hơi thở của đại dương mênh mông, của lòng biển sâu,của những chân trời tít tắp, của phong ba dữ dội Cho nên, người ngư dân hiệnlên như những chiến binh, những người anh hùng phi thường, kì diệu

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Nghệ thuật nhân hóa đã thổi hồn cho con thuyền vô tri, vô giác Những động từchỉ trạng thái: "im, mỏi, trở về, nằm, nghe" khiến cho con thuyền hiện lên nhưcon người, biết nghỉ ngơi, thư giãn sau một hành trình ra khơi vất vả Nghệthuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác qua động từ "nghe" đã làm cho con thuyền cótâm hồn, có suy nghĩ như đang tự cảm nhận "chất muối" – hương vị biển cả quêhương đang dần thấm vào cơ thể Phải chăng sự cảm nhận đó của con thuyềncũng chính là sự cảm nhận con người ngư dân nơi đây, đó là vẻ đẹp tâm hồnmặn mà, nồng hậu, chan chứa tình yêu thương luôn tồn tại trong họ Chắc hẳn

Tế Hanh phải là một người con đằm cả hồn mình vào quê hương với tình yêuquê da diết thì mới có thể có được những cảm nhận sâu sắc đến như thế

Khép lại bài thơ là lời bộc bạch chân thành về nỗi nhớ làng da diết, khôn nguôi:

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,

Trang 9

Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Lúc viết bài thơ này, Tế Hanh khi ấy mới 18 tuổi, còn rất trẻ và đang phải xaquê hương – nơi gắn bó với biết bao nhiêu kỉ niệm của tuổi thơ Có lẽ vì thế mànỗi nhớ quê luôn trở đi trở lại trong tâm hồn nhạy cảm của ông Điệp khúc

"luôn tưởng nhớ" , "tôi thấy nhớ" đã diễn tả tấm lòng tha thiết, thành thực vềlàng quê với cả hình ảnh, màu sắc và hương vị của Tế Hanh Tất cả đều khắcsâu, in đậm mà không bao giờ có thể quên đi được đối với người con xa xứ này

Về mặt nghệ thuật, bài thơ có sự kết hợp hài hòa giữa miêu tả và biểu cảm Nếunhư miêu tả được thể hiện ở hệ thống hình ảnh, từ ngữ phong phú, gợi hình, vớimột loạt các nghệ thuật so sánh, nhân hóa, ẩn dụ đã góp phần tái hiện một bứctranh rộng lớn về làng chài ven sông: rộn rã, náo nức, khỏe khoắn, lãng mạn thìphương thức biểu cảm lại diễn tả thật cảm động nỗi nhớ, tình yêu và niềm tựhào sâu sắc của nhà thơ đối với quê hương, xứ xở Đặt bài thơ vào trong dòngchảy của phong trào thơ Mới, chúng ta mới thấy hết được cái độc đáo, cái khácbiệt và giá trị của bài thơ Nếu như các nhà thơ mới cùng thời đang say sưatrong tháp ngà cá nhân, bi lụy, trốn tránh thực tại thì Tế Hanh lại hướng hồn thơcủa mình đến quê hương, với một tình yêu tha thiết, chân thành Đó là trái timthổn thức của một người con xa quê, luôn một lòng thủy chung, như nhất tớiquê hương xứ xở

Tóm lại, với vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ "Quê hương" của Tế Hanh đã

vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đónổi bật lên hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài và sinh hoạtlao động làng chài Bài thơ cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiếtcủa nhà thơ

Trang 10

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh - Mẫu 1

Quê hương – bến đỗ bình yên nhất trong cuộc đời của mỗi con người.Dù có điđâu xa, trôi dạt giữa dòng đời tấp nập thì sâu thẳm trái tim vẫn luôn mongngóng và trở về quê hương Với nhà thơ Tế Hanh cũng vậy, cũng dạt dào vàcháy bỏng một tình yêu với nơi chôn rau cắt rốn Để rồi bài thơ “Quê Hương” rađời như là một sự tất yếu của tâm hồn giàu cảm xúc của một người con xa quê

Đó là cảm giác nhớ nhung da diết và cháy bỏng của một chàng thanh niên 18tuổi.Nỗi nhớ cái mùi nồng mặn của biển khơi.Cái vị mặn đặc trưng đó đã theonhà thơ suốt cả cuộc đời Mở đầu bài thơ, ngay ở dưới nhan đề, Tế Hanh đã vôcùng khéo léo khi thêm vào một câu đề từ trích dẫn:

“Chim bay dọc biển mang tin cá.” Một hình ảnh hiện lên thật đẹp và nên thơ,giữa một vùng biển bao la và rộng lớn ấy xuất hiện những cánh chim bay lượn.Khung cảnh vùng quê vẽ ra trước mắt chúng ta thật yên bình Tuy nhiên giá trị

mà câu đề từ nhà thơ trích vào đây không phải nằm ở hình ảnh mà là ý nghĩa vôcùng đặc biệt ẩn đằng sau đó

Ở đây nhà thơ đang nhắc tới một kinh nghiệm ngàn đời của những người ngưdân Nhìn đàn chim bay lượn để dự đoán thời tiết Biển động hay sóng êm đểngười dân xem xét trước lúc ra khơi Nếu như những cánh chim ấy thong dongbay lượn thì ngư dân có thể yên tâm ra khơi Còn nếu cánh chim bay vội vã thì

có thể ngoài kia biển đang động, sóng to gió lớn, người đi biển phải hết sức cẩnthận và lưu tâm

Sự hiểu biết cụ thể và tường tận như vậy chỉ có thể là người sinh ra từ vùng biển,gắn bó với biển khơi Bởi vì gắn bó như vậy nên khi đi xa những hình ảnh vôcùng thân quen ấy bỗng ùa về, trỗi dậy như đang hiện lên trước mắt nhà thơ.Ông giới thiệu về quê hương của ông bằng hai câu vô cùng ngắn gọn:

Trang 11

“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới.

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.”

Phân tích bài thơ quê hương “Làng tôi” – làng chài bên cù lao sông Trà Bồng ấyvốn làm nghề chài lưới Nghề đi biển như đã có ở đây từ ngàn đời Một sự giớithiệu trực tiếp và ngắn gọn để người đọc hiểu rõ về quê hương của ông Tiếptheo ông đưa người đọc đi khám phá những hoạt động đặc trưng của một làngchài Nó sẽ diễn ra như thế nào ? Những câu thơ dưới đây chúng ta sẽ hiểu rõ:

“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.”

Khởi đầu cho một ngày mới là hình ảnh ra khơi của những con thuyền, củanhững thanh niên “trai tráng” Một ngày mưu sinh, lênh đênh giữa biển khơi đãbắt đầu Thời tiết buổi sớm với trời trong, gió nhẹ, nắng hồng, quả thật vô cùng

lý tưởng cho những chuyến ra khơi

Một dấu hiệu may mắn cho những ngư dân khi mà thời tiết đang ủng hộ họ.Hình ảnh con thuyền xuất hiện thật thi vị khi nó được nhà thơ ví von như nhữngcon tuấn mã mạnh mẽ và can trường Chiếc thuyền ấy sẽ gắn bó với người dântrên hành trình vạn dặm biển, giữa muôn trùng lớp sóng

Bởi vậy chúng phải thật bền và chắc chắn để “phăng mái chèo mạnh mẽ vượttrường giang” Còn những cánh buồm cũng góp mặt trong buổi sáng tươi vui vànhộn nhịp ấy bằng hành động “rướn thân trắng bao la thâu góp gió” Một hìnhảnh thật đẹp và giàu ý nghĩa cánh buồm như biểu tượng của làng chài

Trang 12

Nó thâu góp gió biển để thuyền rẽ sóng ra khơi nhưng nó cũng thâu góp những

hy vọng Những mong ước của bà con ngư dân về một chuyến ra khơi bội thuvới khoang đầy tôm, cá Vậy lúc những chiếc thuyền trở về thì sao.Có chở đầynhững hy vọng của bà con làng chài nơi vùng sông nước này không:

“Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.

“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.”

Không khí của bến đỗ buổi sáng ngày hôm sau thật tưng bừng, nhộn nhịp Dânlàng tấp nập ra đón những con thuyền trở về với khoang đầy cá tôm Còn hạnhphúc nào lớn hơn khi nhìn thấy thành quả sau một ngày lao động vất vả Việcliên tục sử dụng những động từ “ồn ào , tấp nập” càng làm nổi bật lên bức tranhcủa bến thuyền buổi sáng, khung cảnh sống động như hiện lên trước mắt chúng

ta Cảnh vật nào cũng tươi mới , hoạt động nào cũng vui tươi, nhộn nhịp và rồigiữa sự tấp nập đó nhịp thơ bỗng dưng sâu lắng khi nhà thơ viết: “Nhờ ơn trời,biển lặng cá đầy ghe”

Hân hoan trong niềm hạnh phúc người dân cũng không quên cảm ơn “Trời” đãmang cho họ có được thành quả như ngày hôm nay Câu nói chứa chan baonhiêu tình cảm , thể hiện cách sống “sâu sắc như cơi đựng trầu” của những ngưdân hiền hòa, chất phác Bởi chúng ta biết rằng đặc thù của công việc làm nônghay đánh cá phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Sóng êm , biển lặng thì conthuyền ra khơi mới được bình yên Ở đây không phải là sự mê tín mà là mộtniềm tin, niềm tin đã hình thành từ ngàn đời và tất yếu trong suy nghĩ của nhữngngười dân làng chài

Trang 13

Hình ảnh của những người lao động cũng hiện lên thật đẹp qua ngòi bút của nhàthơ Họ mang những nét đặc trưng của người dân vùng biển với làn da ngămrám nắng khỏe mạnh và rắn rỏi Và đặc biệt nhất ở khổ thơ này là hình ảnh:

"nồng thở vị xa xăm” Một hình ảnh vô cùng trừu tượng và giàu liên tưởng Vị

xa xăm ấy hay chính là vị của biển khơi, vị mặn mòi của muối, vị của đất trời,quê hương

Qua hình ảnh những người ngư dân nhà thơ cũng muốn ca ngợi lên vẻ đẹp củanhững người lao động nói chung Chỉ khi lao động con người ta mới có niềmhạnh phúc, lao động chính là vinh quang Nối tiếp những hình ảnh giàu chất thơ

ấy là khung cảnh đầy thơ mộng của con thuyền sau một ngày lao động vất vả:

“Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”.

Với dân chài , thuyền như là một người bạn gắn bó với họ trong những hànhtrình vượt biển khơi Chuyến ra khơi vất vả và bình yên trở về Con thuyền cũng

tự tìm cho mình một bến nghỉ, phút giây thư thái và nghỉ ngơi hiếm hoi đó thậtquý giá biết bao.Thuyền ơi hãy nghỉ ngơi nhé để ngày mai lại cùng “những traitráng” ra khơi mang về cho người dân lộc biển , lộc trời Và rồi khi những hìnhảnh về quê hương hiện lên sống động, chân thực quá Nhà thơ đã không giấuđược tình cảm của mình:

“Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”

Chưa bao giờ nỗi nhớ lại dâng trào như lúc này đây Cái cảm giác nhớ nhung vàkhắc khoải đó chỉ những người con xa quê mới hiểu Ông nhớ từng chiếc

Trang 14

thuyền, từng con cá, nhớ màu nước biển xanh trong và nhớ cả những cánh buồmgiương to ra khơi đánh cá Nỗi niềm sâu kín, nhớ thương đó nay chỉ chờ giâyphút nhìn thấy nơi xứ người hình ảnh một con thuyền ra khơi đã bỗng nhiên trỗidậy, cuộn trào như từng lớp sóng.

Ở ngoài kia gió biển đang thổi, vậy sóng biển ở trong lòng người biết đến khinào mới ngừng thổi đây Sinh ra từ vùng biển, gắn bó nơi chôn rau cắt rốn này

Để rồi cái vị mặn mòi của biển đã ăn sâu vào trong từng thớ thịt , từng hơi thở.Khái niệm “mùi nồng mặn” tuy trừu tượng nhưng đối với tác giả nó gần gũi vàthân thuộc biết bao

Đối với nhà thơ Đỗ Trung Quân, quê hương có thể là “chùm khế ngọt, là cầu trenhỏ”.Với Giang Nam là “những ngày trốn học, đuổi bướm cạnh bờ ao” Thì với

Tế Hanh, quê hương chính là “vị mặn nồng” của biển cả Cuộc đời mỗi chúng ta

ai cũng có một quê hương để nhớ nhung, để trở về

Vì mưu sinh, vì dòng đời xô đẩy những đứa con phải rời quê hương tới xứngười lao động Nhưng lúc nào trong lòng họ nỗi nhớ quê vẫn luôn dâng đầy

Tế Hanh cũng chung cảm xúc xa quê đó Quê hương qua ngòi bút của ông hiệnlên với những hình ảnh thật sinh động và tươi đẹp Giọng văn ẩn chứa niềm tựhào và nỗi nhớ, là mong ngóng khát khao được trở về

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh - Mẫu 2

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới…, Quê hương tôi có con sông xanh biếc –Nước gương trong soi bóng những hàng tre…; những vân thơ thiết tha đôi vớiđất mẹ quê cha là nét đẹp nhất trong hồn thơ Tế Hanh hơn 60 năm qua

Bài thơ Quê hương được Tế Hanh viết năm 1939, khi nhà thơ vừa tròn mườitám tuổi, đang học Trung học tại Huế Nỗi nhớ làng chài, quê hương thân yêu ở

Trang 15

Bình Dương, Quảng Ngãi đã tỏa rộng và thấm sâu vào bài thơ Hai câu thơ đầunói về làng tôi Thân mật, tự hào, yêu thương… được thể hiện qua hai tiếng làngtôi ấy:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới;

Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.

Quê hương là một làng chài, bốn bề sông nước bao vây, một làng nghèo thuộcvùng duyên hải miền Trung cách biển nửa ngày sông Giọng điệu tâm tình, mộtcách nói chân quê dân dã vừa cụ thể, vừa trừu tượng Những câu thơ tiếp theo làhồi tưởng lại một nét đẹp của quê hương: Cảnh làng chài ra khơi đánh cá

Kỉ niệm về quê hương như được lọc qua ánh sáng tâm hồn Một bình minh đẹp

ra khơi có gió nhẹ, có ánh mai hồng Có những chàng trai cường tráng, khỏemạnh bơi thuyền đánh cá Cảnh đẹp, sáng trong, giọng thơ nhẹ nhàng thể hiệnkhung cảnh niềm vui của làng chài trong buổi xa khơi

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

Một loạt ẩn dụ, so sánh nói về con thuyền, mái chèo và cánh buồm Tác giả víchiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã tạo nên một hình ảnh khỏe, trẻ trungdiễn tả khí thế hăng hái, phấn khởi lên đường Chữ hăng dùng rất hay, rất đíchđáng Nó liên kết với các từ ngữ: dân trai tráng và tuấn mã hợp thành tính hệthống, tạo nên một vẻ đẹp của văn chương Có người lầm tưởng là chữ băng rồibình giảng là băng băng lướt sóng!

Mái chèo như những lưỡi kiếm khổng lồ chém xuống nước, phăng xuống nướcmột cách mạnh mẽ, đưa con thuyền vượt trường giang Sau hình ảnh chiếcthuyền, mái chèo là hình ảnh cánh buồm giương, to như mảnh hồn làng Giương

Trang 16

nghĩa là căng lên để đón gió ra khơi So sánh cánh buồm to như mảnh hồn làng

là hay, đặc sắc Cánh Buồm to biểu tượng cho hình bóng và sức sống quê hương

Nó tượng trưng cho sức mạnh lao động sáng tạo, ước mơ về ấm no, hạnh phúccủa quê nhà Nó còn tiêu biểu cho chí khí và khát vọng chinh phục biển khơicủa đoàn trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Câu thơ Rướn thân trắng bao la thâugóp gió là một câu thơ đậm đà ý vị mang cảm hứng lao động và cảm hứng vũtrụ

Cánh buồm được nhân hóa Ba chữ rướn thân trắng gợi tả một cuộc đời trải quanhiều mưa nắng, gắng sức quyết tâm lên đường Đây là khổ thơ xuất sắc tả cảnh

ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, tự hào ca ngợi sức sống của làng chài thânthương:

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.

Cánh buồm giương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

Đứa con xa quê có bao giờ quên được cảnh bà con làng chài đón đoàn thuyềnđánh cá từ biển khơi trở về Các từ ngữ ồn ào, tấp nập diễn tả niềm vui mừngđón ghe về Niềm vui sướng tràn ngập lòng người, là của khắp dân làng Cảnhđón ghe về thực sự là ngày hội lao động của bà con ngư dân:

Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.

Cá tươi ngon thân bạc trắng đầy khoang thuyền Được mùa cá, vui sướng trongniềm vui ấm no, hạnh phúc, bà con làng chài khẽ thốt lên lời cảm tạ đất trời đã

Trang 17

cho biển lặng sóng êm, cho cá đầy ghe Sự cầu mong và niềm tin thánh thiệnnhờ ơn trời ấy đã biểu lộ những tấm lòng mộc mạc, hồn hậu của những conngười suốt đời gắn bó với biển, vui sướng, hoạn nạn cùng với biển Tế Hanh đãthấu tình quê hương khi ông viết:

“Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Ta tưởng như ca dao, dân ca đã thấm sâu vào hồn thơ Tế Hanh:

Ơn trời mưa nắng phải thì, Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu…

Nhờ trời hạ kế sang đông Làm nghề cày cấy, vun trồng tốt tươi…

Đoạn bốn bài thơ nói về bến quê bằng hai nét vẽ khỏe khoắn và bình yên.Những chàng trai làng chài có làn da ngăm rám nắng khỏe mạnh, can trườngđược tôi luyện trong gió sóng đại dương, trong mưa nắng dãi dầu Họ mangtheo hương vị biển Hai chữ: nồng thở rất thần tình làm nổi bật nhịp sống laođộng hăng say, dũng cảm của những dân chài mang tình yêu biển Hình tượngthơ mang vẻ đẹp lãng mạn:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Nét thứ hai là con thuyền Sau một chuyến ra khơi vất vả trở về nó mỏi mệt nằm

im trên bến Con thuyền là một biểu tượng đẹp của làng chài, của những cuộcđời trải qua bao phong sương thử thách, bao dạn dày sóng gió:

Trang 18

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Con thuyền được nhân hóa với nhiều yêu thương, vần thơ giàu cảm xúc, mangtính triết lí về lao động trong thanh bình, Chữ nghe (nghe chất muối) thể hiện sựchuyển đổi cảm giác rất tinh tế và thi vị Bến quê trở thành một mảnh tâm hồncủa đứa con li hương

Đoạn cuối nhiều bồi hồi nhớ thương, thương nhớ hình bóng quê hương Điệpngữ nhớ làm cho giọng thơ thiết tha, bồi hồi, sâu lắng Xa quê nên tưởng nhớkhôn nguôi Nhớ màu nước xanh của sông, biển làng chài Nhớ cá bạc, nhớchiếc buồm vôi…

Thấp thoáng trong hoài niệm là hình ảnh con thuyền rẽ sóng ra khơi đánh cá Xaquê nên mới thấy nhớ hương vị biển, hương vị làng chài thương yêu cái mùinồng mặn quá Tình cảm thấm vào câu chữ, màu sắc, vần thơ Tiếng thơ cũng làtiếng lòng trang trải của hồn quê vơi đầy thương nhớ Cảm xúc đằm thắm mênhmang:

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Bài thơ Quê hương có một câu thơ đề từ rất gợi cảm: "Chim bay dọc biển đemtin cá" Đó là câu thơ của phụ thân nhà thơ Nhớ quê hương, nhớ người cha thânyêu dào dạt trong hồn thơ Tế Hanh Sau này, 1963, khi sống ở miền Bắc, tronghoàn cảnh đất nước bị chia cắt, trong bài thơ Nghe tin cha mất, ông xót xa hồitưởng:

Trang 19

Cuộc khởi nghĩa cần Vương thất bại Đắng cay cha trở lại quê nhà (…) Vịnh quê hương vài vần thơ ca:

Chim bay dọc biển đem tin cá.

Nhà ở kề sân, sát mái nhà

Có cảm nhận được câu thơ đề từ ấy ta mới nắm bắt được tình thương nhớ quêhương của Tế Hanh qua bài thơ kiệt tác này Bài thơ Quê hương đã đi suốt mộthành trình trên 60 năm Nó gắn liền với tâm hồn trong sáng, với tuổi hoa niêncủa Tế Hanh Thể thơ tám tiếng, giọng thơ đằm thắm dào dạt, gợi cảm Nhữngcâu thơ nói về dòng sông, con thuyền, cánh buồm, khoang cá, chàng trai đánh

cá, bến quê… và nỗi nhớ của đứa con xa quê… rất hay, đậm đả biểu lộ một hồnthơ đẹp

Nghệ thuật phối sắc, sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa

và chuyển đổi cảm giác khá thành công, tạo nên những vần thơ trữ tình chứachan thi vị

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh - Mẫu 3

Quê hương là gì hở mẹ

Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hở mẹ

Ai đi xa cũng nhớ nhiều (Quê hương – Đỗ Trung Quân)

Trang 20

Quê hương – hai tiếng gọi giản dị và thân thương nhưng chứa đựng biết baotình cảm Có thể nói, mỗi con người đều có quê hương Đó chính là nơi chúng

ta sinh ra, lớn lên và gắn bó Thế nên, mỗi lần xa quê, ta nhớ quê biết chừng nào.Chính cái miền quê miền biển, đầy nắng và gió, đã nhức nhối trong lòng TếHanh bao nỗi nhớ cồn cào Nỗi nhớ và tình yêu quê hương đó, được khắc họa rõnét trong bài thơ Quê Hương của ông

Tế Hanh – người con của làng chài Quảng Ngãi Quê ông không phải là mộtmiền trung du với những rặng chè ngút ngàn tầm mắt, không phải là nơi phố thịvới những tòa nhà cao tầng đồ sộ Quê ông chỉ là một miền quê làng chài venbiển, nhưng ông tự hào biết bao về làng quê của mình:

“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:

Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.”

Hai câu thơ mở đầu bài thơ là lời giới thiệu về nghề nghiệp (làm nghề chài lưới)

và vị trí địa lý (gần sông, cách biển nửa ngày) của quê hương Tế Hanh Lời giớithiệu ngắn gọn, chân thành, giản dị nhưng đầy đủ, thể hiện được niềm tự hàocủa nhà thơ về quê hương mình

Nghề chài lưới, một công việc lao động bình thường, nhưng qua con mắt củamột thi sĩ yêu quê và đang phải xa quê, cái công việc ấy hiện lên thật đẹp đẽ biếtbao:

“Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang”

Trang 21

Trong khung cảnh bình minh của một buổi sớm mai tuyệt đẹp: sớm mai hồng,với trời trong, gió nhẹ Dân làng chài là những chàng trai khỏe mạnh, trai trángđưa con thuyền của mình ra khơi Bằng biện pháp tu từ so sánh: như con tuấn

mã và sử dụng các động từ mạnh: hăng, phăng, vượt Tế Hanh đã miêu tả cảnhcon thuyền ra khơi với một khí thế thật dũng mãnh, oai hùng Con thuyền nhưmột con ngựa đẹp, khỏe và phi nhanh, chuẩn bị xông ra chiến trường để tiêudiệt kẻ thù Và trong cái nỗi nhớ da diết về cảnh người dân chài đi đánh cá, hìnhảnh cánh buồn là tâm điểm mà Tế Hanh miêu tả một cách đẹp nhất:

“Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…”

Cánh buồm trắng được nhà thơ so sánh như mảnh hồn làng Đó chính là biểutượng, là linh hồn của làng chài Mỗi lần ra khơi, cánh buồm là vật quan trọng,dắt đường, chỉ lối cho con thuyền Thế nhưng với Tế Hanh, cánh buồm có vị tríđặc biệt hơn thế nữa Nó như thâu góp vào trong mình biết bao giông bão củasóng gió để con thuyền luôn trở về bình an Nó còn mang trong mình biết baoyêu thương, mong ngóng, đợi chợ của những người mẹ, người chị, người con ởđất liền dành cho những người ra khơi Tế Hanh đã rất thành công khi so sánhmột vật hữu hình, cụ thể với một hình ảnh lãng mạn, trừu tượng Hình ảnh conthuyền với cánh buồm trắng vì vậy mà trở nên đẹp đẽ hơn, lãng mạn hơn

Sau những ngày tháng bôn ba trên biển khơi, con thuyền trở về, trong sự chàođón hân hoan, vui mừng của người dân quê:

“Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.

Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe,

Trang 22

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.”

Những câu thơ trên, đã miêu tả được cái không khí sinh hoạt của người dân làngchài Đó là một khung cảnh tươi vui, ồn ào, tấp nập, tràn trề nhựa sống Có thểnói, Tế Hanh như đang được đắm chìm vào cái khung cảnh sinh hoạt nơi bến đỗ

ấy Nhờ công ơn trời đất, mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng, những chàngtrai đi đánh cá nay đã trở về với rất nhiều thành quả lao động Hình ảnh nhữngcon cá tươi ngon thân bạc trắng ấy, chính là kết quả của sự cần cù, chịu khó,chịu khổ và của niềm yêu thích lao động chân chính

Sau chuyến ra khơi là hình ảnh con thuyền và con người trở về trong ngơi nghỉ:

“Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.”

Có thể nói rằng đây chính là những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của bài thơ.Với lối tả thực, hình ảnh “làn da ngắm rám nắng” hiện lên để lại dấu ấn vô cùngsâu sắc thì ngay câu thơ sau lại tả bằng một cảm nhận rất lãng mạn “Cả thânhình nồng thở vị xa xăm” – Thân hình vạm vỡ của người dân chài thấm đẫm hơithở của biển cả nồng mặn vị muối của đại dương bao la Cái độc đáo của câuthơ là gợi cả linh hồn và tầm vóc của con người biển cả Với hình ảnh này, TếHanh đã góp vào kho tàng văn học Việt Nam một bức tượng đài về người laođộng Việt Nam thật đặc sắc

Những câu thơ miêu tả chiếc thuyền “im” trên bến cũng rất độc đáo Thi nhândường như cảm nhận được cả sự mệt nhọc say sưa của con thuyền sau nhữngngày ra khơi Bằng biện pháp nhân hóa, nhà thơ đã biến một hình ảnh vô tri, vô

Trang 23

giác trở thành một cá thể có hồn, có thần Con thuyền như đang cảm nhận đượcnhững mặn mòi của muối biển đang thấm sâu vào da thịt mình Với nghệ thuậtđộc đáo này, chúng ta thấy con thuyền đã trở thành một phần không thể thiếucủa làng chài.

Xa quê, chắc hẳn không ai không nhớ quê Là một người con của vùng quêmiền biển, khi xa quê, Tế Hanh nhớ tới: màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,con thuyền và mùi nồng mặn của biển cả Trong những nỗi nhớ ấy, thì da diếthơn cả, phải kể đến nỗi nhớ về cái vị mặn mòi của biển khơi, mà chỉ những aisinh ra ở vùng quê ấy mới có thể cảm nhận được

Với tâm hồn bình dị, Tế Hanh xuất hiện trong phong trào Thơ mới nhưng lạikhông có những tư tưởng chán đời, thoát li với thực tại, chìm đắm trong cái tôiriêng tư như nhiều nhà thơ thời ấy Thơ Tế Hanh là hồn thi sĩ đã hoà quyệncùng với hồn nhân dân, hồn dân tộc, hoà vào “cánh buồm giương to như mảnhhồn làng”.“Quê hương” – hai tiếng thân thương, quê hương – niềm tin và nỗinhớ, trong tâm tưởng người con đất Quảng Ngãi thân yêu – Tế Hanh – đó lànhững gì thiêng liêng nhất, tươi sáng nhất Bài thơ với âm điệu khoẻ khoắn,hình ảnh sinh động tạo cho người đọc cảm giác hứng khởi, ngôn ngữ giàu sứcgợi vẽ lên một khung cảnh quê hương “rất Tế Hanh” Và khiến cho bất cứ ai, dùđang ở nơi đâu, cũng sẽ thêm yêu quê hương mình hơn

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh - Mẫu 4

“Có một đề tài, trở đi trở lại như một lời khấn khứa, càng viết nhiều, càng hay”

Có lẽ nào, đấy là quê hương Trong dòng chảy văn học, ta từng nghe một quêhương với ánh trăng, chùm khế, với cảnh diều ngây dại mà thiêng liêng trongthơ Đỗ Trung Quân, từng lặn mình với quê hương của Hoàng Cầm trong “Bênkia sông Đuống” trong những năm kháng chiến máu lửa, đau thương, từng khắc

Trang 24

Kim Lân Và nay, giữa đề tài đã được đào xới nhiều lần, thiên hạ đã đi mòn lối

cỏ Ta vẫn thấy một dòng ánh sáng yêu thương, rất riêng trong “quê hương” của

Tế Hanh

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:

Bài thơ mở đầu với những lời kể mộc mạc, giản dị và chân thành rất đỗi tựnhiên về quê hương mình Nhưng quê hương ấy cũng đẹp biết bao, quê hươngcủa miền sông nước “nước bao vây”, với những người dân “trai tráng” đầy dũngmãnh và cường tráng Và rồi, tiếp tục dòng chảy cảm xúc về quê hương thânyêu, nhà thơ dồn tâm xoáy cảm xúc của mình vào hình ảnh con thuyền và cánhbuồm-biểu tượng của quê hương miền biển:

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.

Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

Chiếc thuyền, nếu trong thơ cổ sẽ là nơi mà những bậc giai nhân tài tử tiễn đưangười bạn tri kỉ của mình, một dòng “Yên ba tam nguyệt há Dương Châu” trongHoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, nếu không thì sẽ là nơingười tài tử nghe tiếng đàn mà thổn thức nỗi lòng, với Tỳ bà hành của Lý Bạch

“thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt-một vầng trăng trong vắt dòng sông” Nhưngcon thuyền của Tế Hanh, con thuyền của cuộc sống lao động mới, nên gần gũi

Trang 25

với cuộc sống mưu sinh hàng ngày Là con thuyền của người dân lao động.

“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã” Một so sánh thật táo bạo của tác giả.Con thuyền hiện lên mang vẻ đẹp dũng mãnh, hào hoa và đầy sức mạnh Vừathấy được tốc độ của gió, vừa thấy được khí thế mãnh liệt, hùng dũng và đầy âmvang của con thuyền Nó “phăng mái chèo mãnh mẽ vượt trường giang” Động

từ “phăng” thể hiện khả năng vượt giông tố và nguy hiểm của con thuyền quêhương Con thuyền tung mình bọt trắng xóa, vượt những dặm dài tràng giangchói lói để về đích cùng con người Với những người dân sông nước, conthuyền đã trở thành người bạn đồng hành đáng tin cậy, và nay bằng khả năng

mã hóa của mình Tế Hanh một lần nữa giúp ta khẳng định điều ấy và nếu conthuyền mang vẻ đẹp hào hùng, khí thế thì cánh buồm lại mang vẻ đẹp thật hàohoa, lãng mạn”

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

Cánh buồm là vật vô tri, là thứ hữu hình lại đươc đặt trong liên tưởng với

“mảnh hồn làng”, một sinh thể có tâm hồn, một ấn tượng vô hình, chỉ có trongtâm thức và tiềm thức So sánh ấy của Tế Hanh đã nâng cánh buồm lên và traocho nó một linh hồn thực, một sự sống cánh buồm đã trở thành biểu tượng củamảnh hồn làng, nơi thâu nhận và góp giữ bao nét đẹp của miền sông nước vàtâm hồn con người xứ sở này Cánh buồm vừa được nhân hóa, vừa được so sánh,bởi vậy mà thêm đẹp, thêm lãng mạn bội phần, nó “rướn thân trắng bao la thâugóp gió” Động từ “rướn” thể hiện tư thế kiêu hãnh, đầy tự tin và chủ động nhưhình ảnh những người dân làng chài sẵn sàng làm chủ thiên nhiên, làm chủ sóng

to biển lớn gió lộng bốn phương đã được thâu góp và dần thành nên sức mạnh,bản lĩnh của con thuyền, của cánh buồm trắng Với 4 câu thơ, Tế Hanh đã thổi

Trang 26

hồn và nâng tâm hồn của quê hương với những biểu tượng đẹp, tráng lệ, baybổng.

Và sau những chuyến ra khơi mỏi mệt, con thuyền lại bỗng chốc hóa hiền lành:

Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.

“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Sau hành trình dấn thân chinh phục biển khơi, những người dân làng chài đã thuđược thành quả là những khoang thuyền đầy cá Trong niềm vui sướng củathành quả, của lao động hăng say, họ vẫn không quên cảm ơn trời đất quả làtinh thần người Việt ta, luôn biết ơn những đấng trên cao, luôn ghi nhớ cộinguồn

Sang đến khổ thơ tiếp, Tế Hanh tiếp tục bộc lộ một tâm hồn thơ mang đậmphong vị quê hương khi ông miêu tả vẻ đẹp của người dân chài lưới:

Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng, cái nắng của biển khơi, của sóng gió cuộcđời đã tôi rèn và làm nên nét rắn chắc của con người miền biển Đó là màu nâucủa đất đai, của quê hương dung dị, của tâm hồn mộc mạc, của những nhớ vàthương vô ngần trong thơ Tế Hanh Cả thân hình họ đượm vị biển khơi, nồng

Trang 27

thở vị xa xăm Đó là vị của biển, của đất đai, chất mặn của quê hương như đãthấm dần vào từng hơi thở, từng đường nét, từng nếp nhăn trên da thịt họ Đó làtình cảm yêu quê hương tha thiết, và cũng là vẻ đẹp truyền thống của người dânmiền biển phải yêu và gắn bó tha thiết với quê hương ra sao Tế Hanh mới đằmmình được những câu thơ như vậy nhưng đó đâu chỉ còn là của con người nữa,

nó cũng thấm vào chiếc thuyền thân thuộc:

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Con thuyền cũng mang một linh hồn riêng, sau cuộc hành trình mệt mỏi nơi đạidương xa xăm, nó cũng mệt mỏi và cần đươc nghỉ ngơi Nhưng cái hay của TếHanh là nghe được trong đó, một chất gì đó rất riêng, rất tinh Ẩn dụ chuyển đổicảm giác đã giúp con thuyền thực sự trở thành một sinh thể sống, mang trong nó

vị mặn mòi của biển khơi, thấm dần qua từng thớ vỏ Như thế con thuyền cũngmang hơi thở quê hương, cũng mang một linh hồn, một ao ước, một lối sống nơiđây Tế hanh hẳn phải tha thiết với con thuyền quê hương lắm chăng

Để rồi theo dòng cảm xúc, từ hồi tưởng về với hiện tại, nhà thơ có thể là đangtrong nỗi xa quê nên thảng thốt nghẹn ngào mà cất lên:

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Chà, thì ra cái màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi đã trở thành biểu tượngriêng in sâu trong lòng tác giả Bằng biện pháp liệt kê, Tế Hanh đã một lần nữa

Trang 28

tâm hồn nhà thơ đã hóa tâm hồn xứ sở, khi cái mùi vị mặn nồng ấy cứ vươngvấn và ám ảnh nhà thơ Nó ăn sâu vào máu thịt và thấm trong từng giác quan.Một Tế Hanh nồng nàn, sôi nổi, tha thiết biết mấy với quê hương.

Bằng một hình sắc riêng, ấy là cái vị mặn mòi của biển cả quê hương Tế hanh

đã trao gửi hồn mình đến bạn đọc, và chính tấm lòng ấy của nhà thơ đã thức dậynhững tình cảm thiêng liêng trong hồn tôi

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh - Mẫu 5

Quê hương luôn là đề tài không bao giờ cạn kiệt đối với các thi sĩ Mỗi người cómột cách nhìn, cách cảm nhận riêng, đặc trưng về quê hương của mình Chúng

ta bắt gặp những bài thơ viết về quê hương của Đỗ Trung Quân, Giang Nam, TếHanh Trong đó sự nhẹ nhàng, mộc mạc của bài "Quê hương" tác giả Tế Hanhkhiến người đọc xốn xang khi nhớ về nơi đã chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡngtâm hồn của mình

"Quê hương" là hai tiếng thân thương, được tác giả dùng làm nhan đề của bàithơ Mở đầu bài thơ bằng sự mộc mạc, chân thành mà sâu sắc:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông

Hai câu thơ như một lời kể tâm tình rất đỗi bình dị nhưng đã khiến người đọchình dung được mảnh đất mà tác giả đáng sống là một vùng một biển, làm nghềchài lưới Một ngôi làng giản dị, chân chất Hình ảnh "nước", "biển" rất đặctrưng cho một vùng quê làng biển Có lẽ những điều bình dị đó khiến cho tácgiả vẫn luôn mong ngóng, nhớ nhung khi xa quê hương

Trang 29

Những câu thơ tiếp theo gợi tả lên một khung cảnh tuyệt đẹp mỗi khi sáng maithức dậy Sự tinh tế của ngôn từ và cảm xúc khiến cho vần thơ trở nên trữ tình,tuyệt đẹp:

Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

Một loạt từ ngữ mang tính chất liệt kê khung cảnh, không gian thanh bình, tươiđẹp của cảnh biển vào buổi sáng "Gió nhẹ", "sớm mai hồng" là những gì cònneo giữ trong lòng của tác giả khi nhớ về quê hương Và một hoạt động vẫndiễn ra đầu ngày là "bơi thuyền đi đánh cá" được tác giả vẽ nên rất nhẹ nhàngnhưng khỏe khoắn

Chiếc thuyền hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

Nếu những câu thơ trên nhẹ nhàng, tinh tế bao nhiêu thì hai câu thơ này càngmạnh mẽ , quyết liệt và khỏe khoắn bao nhiêu Với hai động từ "hăng", "phăng"kết hợp với phép so sánh độc đáo khiến cho bức tranh đi đánh cá trở nên giàuchất tạo hình, giàu đường nét và giấu cá tính mạnh Với động từ "phăng" đãphần nào gợi tả lên sự khéo léo kết hợp sự tinh tế và khỏe mạnh của nhữngngười dân vùng chài lưới

Hai câu sau lại trở về với vẻ lãng mạn đến bất ngờ:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

Một hình ảnh bình dị, thân quen như cánh buồm nhưng trong thơ của Tế Hanhlại có hồn, đậm chất thơ Phép so sánh cánh buồm "như mảnh hồn làng" có sức

Trang 30

gợi rất sâu sắc, bởi rằng đối với những người làm nghề chài lưới thì cánh buồmchính là biểu tượng cho cuộc sống của họ Một sự so sánh hữu hình và vô hình

đã làm nên sự sáng tạo nghệ thuật tuyệt vời Con thuyền đã mang theo cả tinyêu, hạnh phúc và hi vọng của những người dân nơi đây

Câu thơ khỏe khoắn và tự nhiên đã phần nào làm toát lên được khí thế hào hùngtrong công cuộc chinh phục biển khơi

Tế Hanh đã miêu tả nên một bức tranh thiên nhiên và bức tranh lao động sángtạo tuyệt vời nhất Đó là niềm tự hào, sự ca ngợi quê hương, đất nước

Đặc biệt, khung cảnh dân chài lưới chào đón thành quả sau một ngày căng thẳngvất vả được miêu tả chân thực và đầy niềm vui:

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhờ ơn giời biển lặng cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Hình ảnh dân làng "ồn ào", "tấp nập" đã phần nào tái hiện được không khí vuitươi và phấn khởi của người dân chài sau một ngày hoạt động hết công suất.Những con cá "tươi ngon" nằm im lìm là những thành quả mà họ đạt được

Và có lẽ hình ảnh con người mạnh mẽ, khỏe khoắn là hình ảnh trung tâm khôngthể thiếu trong bức tranh ấy

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm

Trang 31

Hình ảnh thơ mặn mòi, đậm chất biển, vừa khỏe khoắn, vừa chân chất vừa mộcmạc toát lên được vẻ đẹp của những con người vùng biển quanh năm vất vả TếHanh đã phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn đó như một điều bình dị trong cuộc sốngnày.

Và có lẽ những hình ảnh thân quen nơi làng quê ấy đã khiến cho Tế Hanh dù đi

xa nhưng vẫn không thể nào quên, vẫn nhớ về câu:

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh cá bạc chiếc buồm vôi Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá.

Một khổ thơ dạt dào tình cảm, nghèn nghẹn ở trong trái tim tác giả khi nhớ vềmảnh đất thân yêu một thời Nỗi nhớ quê dạt dào khôn nguôi khi những hìnhảnh thân quen ấy cứ ùa về

Thật vậy bài thơ "Quê hương" của Tế Hanh không chỉ là riêng tình cảm của tácgiả giành cho quê hương; mà bài thơ này còn nói hộ rất nhiều tấm lòng khácđang ở xa quê hương Chúng ta càng trân trọng hơn nữa mảnh đất chân rau cắtrốn, yêu hơn nữa những điều bình dị nhưng thiêng liêng

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh - Mẫu 6

Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là

Tế Hanh – một tác giả có mặt trong phong trào Thơ mới và sau cách mạng vẫntiếp tục sáng tác dồi dào Ông được biết đến qua những bài thơ về quê hươngmiền Nam yêu thương với tình cảm chân thành và vô cùng sâu lắng

Trang 32

Ta có thể bắt gặp trong thơ ông hơi thở nồng nàn của những người con đất biển,hay một dòng sông đầy nắng trong những buổi trưa gắn với tình yêu quê hươngsâu sắc của nhà thơ Bài thơ “Quê hương” là kỉ niệm sâu đậm thời niên thiếu, làtác phẩm mở đầu cho nguồn cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, bài thơ

đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng,yêu mến những con người lao động cần cù

Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ phối hợp cả hai kiểu gieo vần liên tiếp vàvần ôm đã phần nào thể hiện được nhịp sống hối hả của một làng chài ven biển:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

Quê hương trong tâm trí của những người con Việt Nam là mái đình, là giếngnước gốc đa, là canh rau muống chấm cà dầm tương

Còn quê hương trong tâm tưởng của Tế Hanh là một làng chài nằm trên cù laogiữa sông và biển, một làng chài sóng nước bao vây, một khung cảnh làng quênhư đang mở ra trước mắt chúng ta vô cùng sinh động: “Trời trong – gió nhẹ –sớm mai hồng”, không gian như trải ra xa, bầu trời như cao hơn và ánh sángtràn ngập

Bầu trời trong trẻo, gió nhẹ, rực rỡ nắng hồng của buổi bình minh đang đến làmột báo hiệu cho ngày mới bắt đầu, một ngày mới với bao nhiêu hi vọng, mộtngày mới với tinh thần hăng hái, phấn chấn của biết bao nhiêu con người trênnhững chiếc thuyền ra khơi:

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Trang 33

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

Nếu như ở trên là miêu tả vào cảnh vật thì ở đây là đặc tả vào bức tranh laođộng đầy hứng khởi và dạt dào sức sống Con thuyền được so sánh như contuấn mã làm cho câu thơ có cảm giác như mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm vui vàphấn khởi của những người dân chài Bên cạnh đó, những động từ “hăng”,

“phăng”, “vượt” diễn tả đầy ấn tượng khí thế băng tới vô cùng dũng mãnh củacon thuyền toát lên một sức sống tràn trề, đầy nhiệt huyết Vượt lên sóng Vượtlên gió Con thuyền căng buồm ra khơi với tư thế vô cùng hiên ngang và hùngtráng:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

Từ hình ảnh của thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến “hồn người”, phải là mộttâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương làng xóm

Tế Hanh mới có thể viết được như vậy.Cánh buồm trắng vốn là hình ảnh quenthuộc nay trở nên lớn lao và thiên nhiên.Cánh buồm trắng thâu gió vượt biểnkhơi như hồn người đang hướng tới tương lai tốt đẹp.Có lẽ nhà thơ chợt nhận rarằng linh hồn của quê hương đang nằm trong cánh buồm Hình ảnh trong thơtrên vừa thơ mộng vừa hoành tráng, nó vừa vẽ nên chính xác hình thể vừa gợiđược linh hồn của sự vật

Ta có thể nhận ra rằng phép so sánh ở đây không làm cho việc miêu tả cụ thểhơn mà đã gợi ra một vẻ đẹp bay bổng mang ý nghĩa lớn lao Đó chính là sựtinh tế của nhà thơ Cũng có thể hiểu thêm qua câu thơ này là bao nhiêu trìumến thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng mưu sinh của người dân chài đã được gửigắm vào cánh buồm đầy gió Dấu chấm lửng ở cuối đoạn thơ tạo cho ta ấntượng của một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa sóng nước mênh

Trang 34

mông, hình ảnh con người trên chiếc tàu nhỏ bé không nhỏ nhoi đơn độc màngược lại thể hiện sự chủ động, làm chủ thiên nhiên của chính mình.

Cả đoạn thơ là khung cảnh quê hương và dân chài bơi thuyền ra đánh cá, thểhiện được một nhịp sống hối hả của những con người năng động, là sự phấnkhởi, là niềm hi vọng, lạc quan trong ánh mắt từng ngư dân mong đợi một ngàymai làm việc với bao kết quả tốt đẹp:

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Những tính từ “ồn ào”, “tấp nập” toát lên không khí đông vui, hối hả đầy sôiđộng của cánh buồm đón ghe cá trở về Người đọc như thực sự được sống trongkhông khí ấy, được nghe lời cảm tạ chân thành đất trời đã sóng yên, biển lặng

để người dân chài trở về an toàn và cá đầy ghe, được nhìn thấy “những con cátươi ngon thân bạc trắng” Tế Hanh không miêu tả công việc đánh bắt cá nhưthế nào nhưng ta có thể tưởng tượng được đó là những giờ phút lao động khôngmệt mỏi để đạt được thành quả như mong đợi

Sau chuyến ra khơi là hình ảnh con thuyền và con người trở về trong ngơi nghỉ:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Ngày đăng: 05/04/2023, 10:36

w