Phân tích bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương Ngữ văn- Giới thiệu bài thơ Tự tình II: Đây là một trong số 3 bài thơ trong chùm thơ Tựtình thể hiện nỗi niềm buồn tủi trước cảnh ngộ lỡ làng.
Trang 1Phân tích bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương Ngữ văn
- Giới thiệu bài thơ Tự tình II: Đây là một trong số 3 bài thơ trong chùm thơ Tựtình thể hiện nỗi niềm buồn tủi trước cảnh ngộ lỡ làng
II Thân bài
1 Hai câu đề: Nỗi niềm buồn tủi, chán chường
• Câu 1: Thể hiện qua việc tái hiện bối cảnh:
- Thời gian: + Đêm khuya, trống canh dồn – nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếngtrống thể hiện bước đi thời gian gấp gáp, vội vã ⇒ Con người chất chứa nỗiniềm, bất an
- Không gian: “văng vẳng”: lấy động tả tĩnh ⇒ không gian rộng lớn nhưng tĩnhvắng
⇒Con người trở nên nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn
• Câu 2: Diễn tả trực tiếp nỗi buồn tủi bằng cách sử dụng từ ngữ gây ấn tượngmạnh:
- Từ “trơ” được nhấn mạnh: nỗi đau, hoàn cảnh “trơ trọi”, tủi hờn, đồng thờithể hiện bản lĩnh thách thức, đối đầu với những bất công ngang trái
- Cái hồng nhan: Kết hợp từ lạ thể hiện sự rẻ rúng
⇒Hai vế đối lập: “cái hồng nhan” >< “với nước non”
⇒Bi kịch người phụ nữ trong xã hội
2 Hai câu thực: Diễn tả rõ nét hơn tình cảnh lẻ loi và nỗi niềm buồn tủi.
• Câu 3: gợi lên hình ảnh người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặng vớibao xót xa
Trang 2- Chén rượu hương đưa: Tình cảnh lẻ loi, mượn rượu để giải sầu.
- Say lại tỉnh: vòng luẩn quẩn không lối thoát, cuộc rượu say rồi tỉnh cũng nhưcuộc tình vướng vít cũng nhanh tan, để lại sự rã rời
⇒ Vòng luẩn quẩn ấy gợi cảm nhận duyên tình đã trở thành trò đùa của sốphận
• Câu 4: Nỗi chán chường, đau đớn e chề
- Hình tượng thơ chứa hai lần bi kịch:
+ Vầng trăng bóng xế: Trăng đã sắp tàn ⇒ tuổi xuân đã trôi qua
- Khuyết chưa tròn: Nhân duyên chưa trọn vẹn, chưa tìm được hạnh phúc viênmãn, tròn đầy ⇒ sự muộn màng dở dang của con người
- Nghệ thuật đối → tô đậm thêm nỗi sầu đơn lẻ của người muộn màng lỡ dở
⇒ Niềm mong mỏi thoát khỏi hoàn cảnh thực tại nhưng không tìm được lốithoát
3 Hai câu luận: Nỗi niềm phẫn uất, sự phản kháng của Xuân Hương
- Cảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang niềm phẫn uất và bộc lộ cátính:
+ Rêu: sự vật yếu ớt, hèn mọn mà cũng không chịu mềm yếu
+ Đá: im lìm nhưng nay phải rắn chắc hơn, phải nhọn hoắt lên để “đâm toạcchân mây”
+ Động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với bổ ngữ ngang, toạc: thể hiện sự bướngbỉnh, ngang ngạnh
+ Nghệ thuật đối, đảo ngữ ⇒ Sự phản kháng mạnh mẽ dữ dội, quyết liệt
⇒sức sống đang bị nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng
⇒ Sự phản kháng của thiên nhiên hay cũng chính là sự phản kháng của conngười
4 Hai câu kết: Quay trở lại với tâm trạng chán trường, buồn tủi
• Câu 7: - Ngán: chán ngán, ngán ngẩm
Trang 3- Xuân đi xuân lại lại: Từ “xuân” mang hai ý nghĩa, vừa là mùa xuân, đồng thờicũng là tuổi xuân.
⇒ Mùa xuân đi rồi trở lại theo nhịp tuần hoàn còn tuổi xuân của con người cứqua đi mà không bao giờ trở lại ⇒ chua chát, chán ngán
• Câu 8:- Mảnh tình: Tình yêu không trọn vẹn
- Mảnh tình san sẻ: Càng làm tăng thêm nỗi chua xót ngậm ngùi, mảnh tìnhvốn đã không được trọn vẹn nhưng ở đây còn phải san sẻ
- Tí con con: tí và con con đều là hai tính từ chỉ sự nhỏ bé, đặt hai tính từ nàycạnh nhau càng làm tăng sự nhỏ bé, hèn mọn
⇒ Mảnh tình vốn đã không được trọn vẹn nay lại phải san sẻ ra để cuối cùngtrở thành tí con con
⇒ Số phận éo le, ngang trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phảichịu thân phận làm lẽ
5 Nghệ thuật
- Ngôn ngữ thơ điêu luyện, bộc lộ được tài năng và phong cách của tác giả:+ Sử dụng từ ngữ, hình ảnh giàu sức tạo hình, giàu giá trị biểu cảm, đa nghĩa
- Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ: câu hỏi 2, câu 5 và câu 6
- Sử dụng động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc
III Kết bài
- Khẳng định lại những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
- Thông qua bài thơ thể hiện giá trị hiện thực và bộc lộ tấm lòng nhân đạo sâusắc của một nhà thơ “phụ nữ viết về phụ nữ”
Phân tích bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương - Bài làm 1
Thân phận lẽ mọn của người phụ nữ trong xã hội phong kiến là một đề tài kháphổ biến trong văn học dân gian và văn học viết thời hiện đại Tình yêu vàhanh phúc gia đình là một trong những mối quan tâm lớn của văn học từ xưađến nay Nó góp phần thế hiện rõ tinh thần nhân đạo trong văn học Chùm thơ
Tự tình là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về người phụ nữ trong vànhọc Việt Nam - Hồ Xuân Hương
Trang 4Người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặng nghe tiếng trống cầm canhbáo thời khắc đi qua Canh khuya là thời gian từ nửa đêm cho đến sáng Nàngcảm thấy tiếng trống canh báo hiệu thời gian khắc khoải mong ngóng một điều
gì Nhưng càng mong lại càng không thấy Tiếng trống canh đang dồn dập kiachính là thông báo về thời gian tâm trạng của nàng Nó thể hiện nỗi chờ mongkhắc khoải, thảng thốt thiếu tự tin, đầy lo âu và tuyệt vọng của người đàn bà
Hồ Xuân Hương diễn tả tâm trạng bẽ bàng của người vợ cô đơn chờ mongchồng mà chồng không đến bằng một chữ trơ - trơ trọi, trơ cái hồng nhan, cáithân phận phụ nữ với nước non, với đời, với tình yêu
Hai câu tiếp theo, Hồ Xuân Hương diễn tả tâm trạng tuyệt vọng của người vợchờ chồng
Câu thơ ẩn chủ từ, chỉ thây hành động và trạng thái diễn ra Chén rượu hươngđưa nghĩa là uống rượu giải sầu cho quên sự đời, nhưng say rồi lại tỉnh, tức làuống rượu vẫn không quên được mối sầu!
Vầng trăng bóng xế trong câu bốn có nghĩa là đêm đã gần tàn, nhưng trăngchưa tròn mà đã xế, thể hiện cảm xúc về hạnh phúc chưa tròn đầy Vầng trăngbóng xế cũng có thể có hàm ý chỉ tuổi người đã luống mà hạnh phúc chưa đầy.Nếu như bốn câu thơ đầu tiên diễn tả cái tâm trạng chờ đợi mòn mỏi có phầntuyệt vọng, buông xuôi, thì ở hai câu năm và sáu, Hồ Xuân Hương đã bất ngờ
vẽ ra hình ảnh một sự cảm khái Cái đám rêu kia còn được bóng trăng xế xiênngang mặt đất soi chiếu tới Ta có thể tưởng tượng: mấy hòn đá kia còn đượcánh trăng đâm toạc chân mây để soi đến Hoá ra thân phận mình cô đơn khôngbằng được như mấy thứ vô tri vô giác kia! Đây không nhất thiết phải là cảnhthực, mà có thể chỉ là hình ảnh trong tâm tưởng Mấy chữ xiên ngang, đâm toạc
có ý tiếp cái mạch văn trũng bóng xế ở câu trên Nhưng các sự vật, hình ảnhthiên nhiên ở đây diễn ra trong dáng vẻ khác thường, do việc tác giả sử dụngnhững từ ngữ chỉ hành động có tính chất mạnh mẽ, dữ dội:
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hon.
Hai câu thơ này cũng có thể hiểu là đảo ngữ: rêu từng đám xiên ngang mặt đất,còn đá mấy hòn vươn lên đâm toạc chân mây Và đó không phải là hình ảnhcủa ngoại cảnh, mà là hình ảnh của tâm trạng, một tâm trạng bị dồn nén, bứcbối muốn đập phá, muốn làm loạn, muôn được giải thoát khỏi sự cô đơn, chánchường Nó thể hiện cá tính manh mẽ, táo bạo của chính Hồ Xuân Hương.Những dồn nén, bức bôi, đập phá của tâm trạng nhà thơ bất ngờ bộc phát, vàcũng bất ngờ lắng dịu, nhường chỗ cho sự trở lại của nỗi buồn chán và bất lực,
Trang 5chấp nhận và cam chịu Càu thơ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại chứa đựng biếtbao nhiêu là thời gian và sự chán ngán kéo dài Cuộc đời cứ trôi đi, thời gian cứtrôi đi, tình yêu và hạnh phúc thì chỉ được hưởng tí chút Tác giả đã đi, tình yêu
mà hạnh phúc thì chỉ được hưởng tí chút Tác giả đã dùng từ mảnh tinh để nóicái tình bé như mảnh vỡ Lại nói san sẻ - Chắc là san sẻ với chồng, san sẻ với
vợ cả chăng? Hai câu thơ cuối khép lại bài thơ, như một tổng kết, như một lờithan thở thầm kín của người phụ nữ có số phận lẽ mọn về tình yêu và hạnhphúc lứa đôi không trọn vẹn trong xã hội xưa
Bài thơ là lời than thở cho số phận hẩm hiu của người phụ nữ chịu cảnh lẽ mọn,thể hiện thái độ bi quan, chán nản của tác giả và thân kiếp thiệt thòi của conngười
Đặc sắc nhất về nghệ thuật của bài thơ là sử dụng những từ ngữ và hình ảnhgây ấn tượng mạnh Tác giả chủ yếu sử dụng các từ thuần Việt giàu hình ảnh,màu sắc, đường nét với sắc thái đặc tả mạnh, bằng những động từ chỉ tình thái:dồn, trơ, xế, xiên ngang, đâm toạc, đi, lại lại, san sẻ, và tính từ chỉ trạng thái:say, tỉnh, khuyết, tròn để miêu tả những cảm nhận về sự đời và số phận
Hình ảnh trong bài thơ gây ấn tượng rất mạnh bởi nghệ thuật đặc tả Nhà thơthường đẩy đối tượng miêu tả tới độ cùng cực của tình trạng mang tính tạo hìnhcao Nói về sự cô đơn, trơ trọi đến vô duyên của người phụ nữ thì: Trơ cái hồngnhan với nước non Mấy chữ xiên ngang, đâm toạc đều là những hành độngmạnh mẽ như muốn tung phá, đầy sức sông thể hiện những cảm xúc trẻ trung.Tác phẩm trình bày một cách nghệ thuật mối mâu thuẫn giữa khát vọng hạnhphúc lứa đôi trọn vẹn của người phụ nữ trong cảnh lẽ mọn với hiện thực phũphàng là sống trong cô đơn, mòn mỏi mà họ phải chịu đựng, giữa mong ướcchính đáng được sống trong hạnh phúc vợ chồng với việc chấp nhận thân phậnthiệt thòi do cuộc sống đem lại
Bài thơ bày tỏ sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với nỗi bất hạnh của ngườiphụ nữ, phê phán gay gắt chế độ đa thê trong xã hội phong kiến, đồng thời thểhiện rõ sự bất lực và cam chịu của con người trước cuộc sống hiện tại
Bài thơ diễn tả một tình cảm đáng thương, một số phận đáng cảm thông, mộtkhát vọng đáng trân trọng, một tâm trạng đáng được chia sẻ của người phụ nữtrong xã hội xưa Những mơ ước hạnh phúc đó là hoàn toàn chính đáng nhưngkhông thể thực hiện được trong điều kiện xã hội lúc bấy giờ, đó là bi kịchkhông thể giải toả Vì thế giọng điệu của bài thơ vừa ngậm ngùi vừa ai oán.Yêu cầu giải phóng con người, giải phóng tình cảm chỉ có thể tìm được lời giảiđáp dựa trên cơ sở của những điều kiện lịch sử - xã hội mới mà thôi
Phân tích bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương - Bài làm 2
Trang 6Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài ba ở nước ta vào cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉXIX Ngoài tập "Lưu Hương kí" bà còn để lại khoảng 50 bài thơ Nôm, phầnlớn là thơ đa nghĩa, vừa có nghĩa thanh vừa có nghĩa tục Một số bài thơ trữtình đằm thắm, thiết tha, buồn tủi thể hiện sâu sắc thân phận người phụ nữtrong xã hội cũ, với bao khao khát sống và hạnh phúc tình duyên Chùm thơ
"Tự tình" phản ánh tâm tư tình cảm của Hồ Xuân Hương, của một người phụ
nữ lỡ thì quá lứa, duyên phận hẩm hiu, Bài thơi này là bài thứ hai trong chùmthơ Tự tình" ba bài
Thi sĩ Xuân Diêu trong bài "Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm" đã viết: "Bộ babài thơ trữ tình này cùng với bài "Khóc vua Quang Trung" của công chúa NgọcHân làm một khóm riêng biệt, làm tiếng lòng chân thật của người đàn bà tự nói
về tình cảm bản thân của đời mình trong văn học cổ điển Việt Nam " Ông lạinhận xét thêm về điệp thơ, giọng thơ: " trong bộ ba bài thơ tâm tình này, bêncạnh bài thơ vẫn "ênh hẻ nênh và bài thơ vần "om" oán hận, thì bài thơ vần
"on" này mong đợi, chon von"
"Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tĩnh, Vầng trăng bống xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con!".
Hai trong ba bài thơ, nữ sĩ đều nói về đêm khuya, canh khuya "Tự tình" bà vi
"Tiếng gà vãng vẳng gáy trên bom - Oán hận trông ra khắp mọi chòm" Ở bàithơ này cũng vậy, bà tỉnh dậy lúc canh khuya, hay thao thức suốt đêm khuya,tâm trạng ngổn gang phiền muộn Âm thanh "văng vẳng" của tiếng trống từmột chòi canh xa đưa lại như thúc giục thời gian trôi nhanh, tuổi đời người đàn
bà trôi nhanh: "Canh khuya văng vẳng trống canh dồn" "Hồng nhan" là sắcmặt hồng, chỉ người phụ nữ "Trơ" nghĩa là lì ra, trơ ra, chai đi, mất hết cảmgiác "Nước non": chỉ cả thế giới tự nhiên và xã hội
câu thơ: "Trơ cái hồng nhan với nước non" nói lên một tâm trạng: con ngườiđau buồn nhiều nỗi, nay nét mặt thành ra trơ đi trước cảnh vật, trước cuộc đời,tựa như gỗ đá, mất hết cảm giác Nỗi đau buồn đã đến cực độ Từ "cái" gắn liền
Trang 7với chữ "hồng nhan" làm cho giọng thơ trĩu xuống, làm nổi bật cái thân phận,cái duyên phận, cái duyên số đã quá hẩm hiu rồi Ta có cảm giác tiếng trốngdồn canh khuya, thời gian như cơn gió lướt qua cuộc đời, lướt qua số phận vàthân xác nhà thơ Con người đang than thân trách phận ấy đã có một thời sontrẻ tự hào: "Thân em vừa trắng lại vừa tròn", có phẩm hạnh một "tấm lòng son"trọn vẹn, lại tài năng, thế mà nay đang trải qua những đêm dài cay đắng Qua
đó, ta thấy cái xã hội phong kiến buổi ấy chính là tác nhân đã làm xơ xác, khôhéo phận hồng nhan
Đằng sau hai câu đề là những tiếng thở dài ngao ngán Cố vẫy vùng để thoát ra,bươn ra khỏi cái nghịch cảnh nhưng đâu dễ! Tiếp theo là hai câu thực:
"Chén rượu hương đưa say lợi tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn".
Nghệ thuật đối rất thần tình: "Chén rượu" với "vầng trăng", trên thì "hươngđưa", dưới lại có "bóng xế", đặc biệt ba chữ "say lại tỉnh" vời "khuyết chưatròn" đăng đối, hô ứng nhau làm nổi bật bi kịch về thân phận người đàn bàdang dở, cô đơn Muốn mượn chén rượu để khuây khoả lòng mình, nhưng vừanâng chén rượu lên môi mùi hương phả vào mặt, đưa vào mũi Tưởng uốngrượu cho say để quên đi bao nỗi buồn, nhưng càng uống càng tỉnh "Say lạitỉnh" để rồi tỉnh lại say, cái vòng luẩn quẩn ấy về duyên phận của nhiều phụ nữđương thời, trong đó có Hồ Xuân Hương như một oan trái Buồn tủi cho thânphận, bao đêm dài thao thức đợi chờ, nhưng tuổi đời ngày một "bóng xể" Bao
hi vọng đợi chờ Đến bao giờ vầng trăng mới "tròn"? Đến bao giờ hạnh phúcđến trong tám tay, được trọn vẹn, đầy đủ? Sự chờ mong gắn liền với nỗi niềmkhao khát Càng cô đơn càng chờ mong, càng chờ mong càng đau buồn, đó là
bi kịch của những người đàn bà quá lứa lỡ thì, tình duyên ngang trái, trong đó
có Hồ Xuân Hương
Hai câu trong phần luận, tác giả lấy cảnh để ngụ tình Đây là hai câu thơ tảcảnh "lạ lùng" được viết ra giữa đêm khuya trong một tâm trạng chán ngán,buồn tủi:
"Xiên ngang mặt đất rêu từng đám, Đâm toạc chân mây đá mấy hòn".
Ý thơ cấu trúc tương phản để làm nổi bật cái dữ dội, cái quyết liệt của sự phảnkháng Từng đám rêu mềm yếu thế mà cũng "xiên ngang mặt đất" được! Chỉ córải rác "đá mấy hòn" mà cũng có thể "đâm toạc chân mây" thì thật kì lạ! Haicâu thơ, trước hết cho ta thấy thiên nhiên tiềm ẩn một sức sống đang bị nénxuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng Thiên nhiên trong thơ Hồ XuânHương không chỉ mang màu sắc, đường nét, hình khối mà còn có gương mạt,
Trang 8có thái độ, có hành động, cũng "xiên ngang ", cũng "đâm toạc" mọi trở ngại,thế lực Xuân Hương vốn tự tin và yêu đời Con người ấy đang trải qua nhiều bikịch vẫn cố gắng gượng với đời Phản ứng mạnh mẽ, dữ dội nhưng thực tại vẫnchua xót Đêm đã về khuya, giữa cái thiên nhiên dào dạt, bốn bề mịt mùng bao
la ấy, người đàn bà hẩm hiu càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết Chẳng thế
mà trong bài "Tự tình", nữ sĩ đã buồn tủi viết:
"Mõ thảm không khua mà cũng cốc, Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?".
Cả nỗi đau trần thế như dồn tụ lại đáy lòng một người đàn bà cô đơn Khaokhát được sống trong hạnh phúc, được làm vợ, làm mẹ như mọi người đàn bàkhác Nhưng "hồng nhan bạc mệnh"! Đêm càng về khuya, người đàn bà khôngthể nào chợp mắt được, trằn trọc, buồn tủi, thân đơn chiếc, thiếu thốn yêuthương, xuân đi rồi xuân trở về, mà tình yêu chỉ được "san sẻ tí con con", phảicam chịu cảnh ngộ:
"Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con".
Xuân đi qua, xuân trở lại, nhưng với người phụ nữ thì "mỗi năm mỗi tuổi nhưđuổi xuân đi" Chữ "ngán" nói lên nỗi đau, nỗi buồn tủi của người đàn bà lỡthì quá lứa, đang trải qua sự mòn mỏi, đợi chờ Tình duyên, tình yêu như bị tan
vỡ, tan nát thành nhiều "mảnh", thế mà chua chát thay chỉ được "san sẻ tí concon" Câu thơ là tiếng than thân trách phận Phải chăng đây là lần thứ hai HồXuân Hương chịu cảnh làm lẽ? Tinh đã vỡ ra thành "mảnh" lại còn bị "san sẻ",
đã "tí" lại "con con" Mỗi chữ như rưng rưng những giọt khóc Câu thơ này,tâm trạng này được nữ sĩ nói rõ thêm trọng bài "Lấy chồng chung":
"Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng, Chém cha cái kiếp lấy chồng chung, Năm thì mười hoạ hay chăng chớ, Một tháng đôi lẩn có cũng không!.".
Tóm lại, "Tự tình" là lời tự than, tự thương xót, buồn tủi cho duyên số, duyênphận hẩm hiu của mình Càng thao thức cô đơn, càng buồn tủi Càng buồn tủi,càng khao khát được sống trong hạnh phúc trọn vẹn, đầy đủ Thực tại nặng nề,cay đắng bủa vây, khiến cái hồng nhan phơi ra, "trơ" ra với nước non, với cuộcđời Người đọc vô cùng cảm thông với nỗi lòng khao khát sống, khao khát
Trang 9hạnh phúc của nữ sĩ và người phụ nữ trong xã hội cũ Giá trị nhân bản là nộidung sâu sắc nhất của chùm thơ lự tình" của Hồ Xuân Hương.
Cách dùng từ rất đặc sắc, độc đáo thể hiện phong cách nghệ thuật Hồ XuânHương: "trơ cái hồng nhan", "say lại tỉnh", "khuyết chưa tròn", "xiên ngang",
"đâm toạc", "ngán nỗi", "lại lại", "tí con con", Chữ dùng sắc nhọn, cảnh ngụtinh, diễn tả mọi đau khổ bi kịch về duyên số Qua bài thơ này, ta càng thấy rõ
Hồ Xuân Hương đã đưa ngôn ngữ dân gian, tiếng nói đời thường vào lời ca,bình dị hoá và Việt hoá thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật Bà xứng đáng là
"Bà chúa thơ Nôm" của nền thi ca dân tộc
Bài làm 3
Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một trong những cái tên sáng của làng thơ ViệtNam Trong số khá nhiều tác phẩm mà bà để lại, tả cảnh ngụ tình chính làphong cách sáng tác chủ đạo Những bài thơ của Hồ Xuân Hương hầu hết đầunói về vẻ đẹp đức hạnh, sự hi sinh, thân phận mỏng manh của người phụ nữtrong xã hội phong kiến khắc nghiệt Trong đó, Tự tình cũng là một trongnhững tác phẩm tiêu biểu cho phong cách chủ đạo này Bài thơ không chỉ phảnánh cảm xúc của người phụ nữ nói chung mà còn thể hiện được những cungbậc cảm xúc của chính tác giả
Hai câu thơ đầu bài thơ vừa tả cảnh, nhưng đồng thời cũng là lột tả hình ảnhmột người phụ nữ trống vắng, cô đơn giữa đêm khuya tĩnh mịch
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồnTrơ cái hồng nhan với nước non”
Tác giả sử dụng từ láy "văng vẳng" để miêu tả một âm thanh vừa rõ ràng, lạivừa mơ hồ, không do phương hướng nhưng lại có thể cảm nhận được ngày một
rõ ràng Bối cảnh thời gian của bài thơ là vào "đêm khuya" – thời điểm conngười dễ ràng rơi vào những trạng thái cảm xúc khó lột tả nhất Giữa "đêmkhuya" ấy, có một người phụ nữ vẫn còn thao thức, nghĩ suy về cuộc đời củamình giữa tiếng trống canh văng vẳng gần xa
Người phụ nữ trong bài thơ được miêu tả là "hồng nhan", là một người có nhansắc, nhưng nhan sắc ấy lại "trơ với nước non" Có thể cảm nhận được thân phận
cô độc, lẻ loi và nỗi buồn trống vắng khó tả trong lòng của người "hồng nhan"đó
Để giải nỗi lòng, người phụ nữ ấy đã tìm đến ly rượu nồng:
“Chén rượu hương đưa rồi lại tỉnh
Trang 10Vầng trăng xế bóng khuyết chưa tròn”
Mượn rượu giải sầu dưới ánh trăng vốn là hình ảnh quen thuộc trong thi ca, làmột hình ảnh đẹp đầy thi vị Tiếc rằng những người mượn rượu giải sầu lạikhông thể dùng hương rượu nồng để xua đi bầu tâm sự Người một lòng muốnsay để quên đi tất cả, nhưng hương rượu nồng vào mũi dường như lại khiếntâm con người ta trở nên tỉnh táo hơn Nỗi lòng của người phụ nữ lại càng nhưđược lột tả rõ ràng hơn Vầng trăng khuyết dường như càng khiến sự cô đơn,tịch liêu trong bài thơ tăng lên bội phần Hình ảnh đó giống như người phụ nữtài giỏi, xinh đẹp, song tuổi xuân cứ lặng lẽ đi qua mà hạnh phúc thì không trọnvẹn
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đámĐâm tạc chân mây đá mấy hòn”
Hình ảnh loại rêu được đưa vào bài thơ thể hiện ngụ ý sâu xa của nữ thi sĩ.Điều mà bà muốn thể hiện ở đây chính là so sánh ẩn dụ giữa phụ nữa và loàirêu, mỏng manh bé nhó những sức sống mạnh mẽ, có thể tươi tốt trong bất cứđiều kiện khắc nghiệt nào Cụm tự "xiên ngang mặt đất" cũng khiến người đọcliên tưởng tới sự phản kháng mạnh mẽ của chủ thể đối với những thứ lớn mạnhhơn
Nối tiếp sự phản kháng mạnh mẽ đó là những viên đá nhỏ bé nhưng lại chứađựng một sức mạnh to lớn, có thể "đâm toạc chân mây" Giữa trời đất rộng lớn,những viên đá tưởng bé nhỏ mà lại không hề tầm thường chút nào
Đáng tiếc, dù có mạnh mẽ đối chọi, phản kháng thì người phụ nữ vẫn khôngthể thoát ra khỏi sợi dây số mệnh ràng buộc bản thân Dù cố phản kháng,nhưng than nỗi chẳng thể nào thoát khỏi kiếp làm vợ lẽ
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lạiMảnh tình san sẻ tí con con”
Mùa xuân của thiên nhiên đi rồi lại tới, nhưng "xuân" của con người lại khôngnhư vậy Tuổi trẻ là thứ chỉ đến một lần, đã đi rồi sẽ không thể nào trở lại Bởithế, người phụ nữ lại càng buồn hơn, càng đáng thương hơn khi tuổi xuân qua
đi trong chờ đợi mỏi mòn, trong cảnh chung chồng, sản sẻ tình cảm
Từ "ngán" được sử dụng thể hiện sự chán nản, nhưng cũng như tiếng khóc củatác giả cho những người phụ nữ số phận hẩm hiu, phải làm vợ lẽ dưới chế độ
cũ, không có tiếng nói, không được coi trọng
Trang 11Tự tình là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách và tư tưởng chủ đạo của nữ thi sĩ
Hồ Xuân Hương, thể hiện góc nhìn độc đáo, cá tính của bà về những vấn đềxoay quanh thân phận người phụ nữ trong chế độ cũ
Bài làm 4
Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa luôn là đề tài phổ biếntrong văn học Khi phân tích Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương, chúng ta sẽ thấyđược nỗi buồn và cô đơn thấm thía của người phụ nữ luôn yêu đời và tràn đầysức sống nhưng lại bị cuộc sống vùi dập với nhiều bất hạnh ngang trái
Mở đầu bài thơ, hai câu đề gợi ra một không gian bao la, mờ mịt từ bom thuyền
ở nơi dòng sông đến khắp mọi chòm xóm, thôn làng Người phụ nữ thao thứcsuốt những canh dài Tiếng gà gáy “văng vẳng” trên bom thuyền từ xa đưa tới.Đêm dài chuyển canh, mịt mùng vắng lặng mới nghe thấy tiếng gà gáy “văngvẳng” như thế
Nghệ thuật lấy động (tiếng gà gáy) để diễn tả cái tĩnh lặng vắng vẻ của đêm dàinơi làng quê đã góp phần làm nổi bật tâm trạng "oán hận" của người phụ nữthao thức suốt những canh trường Nàng ngồi dậy, lắng tai nghe tiếng gà gáysang canh, rồi “trông ra" màn đêm mịt mùng Màn đêm như bủa vây người phụ
nữ trong nỗi buồn cô đơn, oán hận:
“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,Oán hận trông xa khắp mọi chòm”
Hai câu 3, 4 trong phần thực, tác giả tạo ra hai hình ảnh “mõ thảm" và “chuôngsầu" đốì nhau, hô ứng nhau, cực tả nỗi đau khổ, sầu tủi của riêng mình đangsống trong cảnh ngộ quá lứa lỡ thì, trắc trở trong tình duyên, vần thơ đầy ámảnh Phủ định để khẳng định tiếng "cốc" của “mõ thảm", tiếng “om” của
“chuông sầu" Nữ sĩ đã và đang trải qua những đêm dài thao thức và cô đơn,đau cho nỗi đau của đời mình cô đơn như “mõ thảm”, chẳng ai khua “mà cũngcốc”, tủi cho nỗi tủi của riêng mình lẻ bóng chăn đơn như “chuông sầu" chẳngđánh “cớ sao om"
Nỗi oán hận, đau buồn sầu tủi như thấm vào đáy dạ, tê tái xót xa, như đang toảrộng trong không gian “khắp mọi chòm", như kéo dài theo thời gian của nhữngđêm dài “Om” là tiếng tượng thanh, tiếng chuông sầu, cũng là gợi tả nỗi thảmsầu tê tái, đau đớn đến cực độ Câu hỏi tu từ đã làm cho giọng thơ thảm thiết,xoáy sâu vào lòng người như một lời than, như một tiếng thở dài tự thươngmình trong nỗi buồn ngao ngán:
“Mõ thảm không khua mà cũng cốc,