1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam

32 5K 37
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Học Và Văn Hóa Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Cơ sở văn hóa Việt Nam
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 717,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng cơ sở văn hóa việt nam rất hay

Trang 1

Nguyễn Văn Huy Page 1 of 32

Chương 1: VĂN HÓA HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

1.1 Văn hóa và văn hóa học

1.1.1 Văn hóa và các khái niệm có liên quan

a Quan niệm về văn hoá

 Ở phương Đông

 Người Trung Quốc quan niệm:

- Khổng Tử, nhà triết – luân lý ở thời Xuân thu (thế kỷ VI trước C.N) nói đến “văn”

là cái do người làm nên, không tự nhiên mà có

- “Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc; bách niên chi kế, mạc như thụ nhân” - Tính kế làm lợi trong mười năm, không chi hơn trồng cây; tính kế làm lợi trong trăm năm không chi hơn trồng người – bồi dưỡng nhân tài

- Quẻ “Bi” trong “Chu dịch”: “Quan hề nhân văn dĩ hóa thiên hạ” - xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ

- Lưu Hướng (năm 77 – 76 B.C): “văn trị giáo hóa" – dùng “văn” để “hóa”

→ Văn hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết)

 Ở Việt Nam:

- Theo chiết tự của tiếng Hán: Văn: đẹp; hóa: trở nên, biến cải => làm cho cái gì trở

nên đẹp có giá trị là văn hóa

- Theo nghĩa rộng: văn hóa là những tập quán đặc biệt, có tính điển hình đối với từng nhóm người nhất định trong một phạm vi nhất định Như vậy, theo nghĩa rộng nhất văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

- Theo nghĩa hẹp: văn hoá còn được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian

+ Giới hạn theo chiều sâu: văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật )

+ Giới hạn theo chiều rộng: văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh )

+ Giới hạn theo không gian: văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ )

+ Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa Hoà Bình, văn hóa Đông Sơn )

- Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Muốn có lợi ích mười năm phải trồng cây, muốn

có lợi ích trăm năm phải trồng người” – “Văn hóa” = giáo dục= “trồng người”

Trang 2

 Ở phương Tây

 Từ văn hoá dưới vỏ ngôn ngữ

- Trong tiếng Pháp, Anh: Culture Culture và Kultur đều bắt

- Trong tiếng Đức: Kultur nguồn từ chữ Latin là Cultus (hoặc

Cultura) mang nghĩa “trồng trọt, cư trú, luyện tập, lưu tâm” Có 2 loại “trồng trọt”

Cultus agri: trồng trọt ngoài đồng- thích ứng và khai thác tự nhiên

Cultus animi: trồng trọt tinh thần - giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật, bồi dưỡng tâm hồn con người

 Quan niệm về văn hoá trong lịch sử phương Tây:

- Thế kỷ XVII – XVIII: thuật ngữ “văn hoá” có nghĩa “canh tác tinh thần” bên cạnh nghĩa gốc là “quản lý, canh tác nông nghiệp”

- Thế kỷ XIX: các nhà nhân loại học phương Tây dùng cả hai khái niệm “văn hóa/văn minh” để phân loại trình độ văn hóa từ thấp đến cao Họ cho rằng văn hóa phương Tây chiếm vị trí cao nhất

- Thế kỷ XX: nhiều học giả thống nhất quan điểm “sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc không phải theo tiêu chuẩn trí lực mà xét ở góc độ khác biệt”

Như vậy, ta thấy có sự gặp gỡ giữa tư tưởng của phương Tây và phương Đông về văn hóa

(là sự giáo dục con người, là cái đối lập với tự nhiên)

Ở cả phương Đông và phương Tây từ “văn hoá” đều chỉ những hoạt động “vật chất” và “tinh thần” của con người trong quan hệ với tự nhiên và xã hội nhằm xây dựng cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn

 Các định nghĩa văn hoá

Hiện nay, số lượng khái niệm văn hóa có thể lên tới con số hàng nghìn, bởi thực tế “văn hóa”

có rất nhiều cách hiểu và mỗi nhà nghiên cứu tìm hiểu ở một khía cạnh nào đó thì sẽ đưa ra một khái niệm thiên về lĩnh vực mình nghiên cứu

 Định nghĩa văn hoá của UNESCO (1992):

- Theo nghĩa rộng: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh

thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý

Trang 3

- Theo nghĩa hẹp: “Văn hoá là tổng thể những hệ thống biểu cảm (ký hiệu) chi phối

cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù (so với cộng đồng khác)

 Một số học giả Mỹ: “Văn hoá là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”

 GS Trần Quốc Vượng (trong Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb KHXH, H.,1996) còn nhấn mạnh thêm: “Văn hoá bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá

một sự việc, một hiện tượng (đẹp hay xấu, đạo đức hay vô luân, phải hay trái, đúng hay sai…) theo

cộng đồng ấy”

 GS Đào Duy Anh viết trong Việt Nam văn hóa sử cương (Nxb Tp HCM, tái bản, HCM.,1992): “Theo giới thuyết của Félix Sartiaux thì văn hoá, về phương diện động, là cuộc tiến triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng xã hội về kỹ thuật, kinh tế, tư tưởng, nghệ thuật, xã hội tổ chức, những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau Về phương diện tĩnh thì văn hoá là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả các tính chất mà những

tác dụng ấy bày ra ở các xã hội loài người” Đây cũng là cách nhìn tương tự của các nhà nghiên cứu văn hoá nổi tiếng Việt Nam khác như Nguyễn Văn Huyên (Văn minh của người Việt Nam), Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục)

 Nhà nghiên cứu văn hoá Phan Ngọc (Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận, Nxb Văn hoá – Thông tin, H.,1994, tr.105): “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người (một cá nhân) so với một tộc người (một cá nhân) khác Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà một tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”

 Viện sĩ Trần ngọc Thêm (Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, H.,1999): “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” →

Định nghĩa này có dụng ý chỉ ra 4 đặc trưng quan trọng nhất của văn hoá – đó là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh

 Đề cương văn hoá – 1943 của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn hoá bao gồm cả tư tưởng, học thuật (tức là khoa học và kỹ thuật), nghệ thuật” Văn hoá cũng được coi là một trong 3 mặt trận của Cách mạng Việt Nam (mặt trận kinh tế, mặt trận chính trị, mặt trận văn hoá)

Tóm lại

Văn hoá là một hệ thống tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người nhất định sáng tạo ra, là cách thức con người sáng tạo và sử dụng các giá trị ấy trong quá trình hoạt động thực tiến – tức là trong quá trình nhận thức và tương tác của mình với tự nhiên, với xã hội cũng như quá trình tự nhận thức, tự hoàn thiện bản thân – để chủ động nhân đạo hóa ngày càng cao cuộc sống của mình

Trang 4

b Khái niệm văn minh

 Xét trong vỏ từ vựng

- Từ văn minh trong tiếng Pháp là Civilisation, trong tiếng Anh là Civilization: đều có nghĩa

là hoạt động khai hóa, làm cho thoát khỏi trạng thái nguyên thủy Chúng có chung nguồn gốc Latin là

civitas với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phái sinh là thị dân, công dân

- Hán – Việt: văn là vẻ đẹp tia sáng của đạo đức biểu hiện ở:

minh là sáng chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật

 Các quan niệm về văn minh

 Trong tiếng Đức từ “văn minh” để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức

đô thị và có chữ viết

 W Đuran sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hoá, nhờ một trật tự xã hội gây ra và kích thích Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổ chức quản lý và hoạt động văn hoá

 Theo F.Ăngghen, văn minh là chính trị khoanh văn hoá lại và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước

 Các học giả Anh, Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm “văn hoá” và “văn minh” để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần – vật chất riêng cho mọi tập đoàn người

 Theo GS Trần Quốc Vượng: văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hoá

về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại

Như vậy, các cách hiểu về văn minh có những vấn đề cơ bản sau:

+ Văn minh là sự sáng tạo của văn hoá

+ Văn minh là một trình độ phát triển nhất định của văn hoá

+ Văn minh chỉ một trình độ kỹ thuật

+ Văn minh đặc trưng cho 1 không gian văn hoá tương đối rộng lớn

+ Văn minh phải đặc trưng cho một thời gian văn hoá tương đối dài

→ Tất cả các vấn đề này được thể hiện trong 4 yếu tố cơ bản: đô thị, chữ viết, nhà nước, trình độ kỹ thuật

Văn minh là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hóa xã hội loài người Các yếu tố của văn minh có thể hiểu gọn lại là di sản tích lũy tri thức, tinh thần và vật chất của con người kể từ khi loài người hình thành cho đến thời điểm xét đến → Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hoá Đối nghịch với văn minh là man rợ, hoang dã, lạc hậu

Trang 5

c Khái niệm văn hiến, văn vật

 Văn hiến: Ở phương Đông, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm “văn hiến” (ở phương Tây không có khái niệm “văn hiến, văn vật” nên không thể dịch chính xác 2 thuật ngữ này ra ngôn ngữ

phương Tây)

 Ở Trung Quốc: Khổng Tử nói trong Luận ngữ “Lễ của đời Hạ, ta có thể nói được,

nhưng nước Kỉ (nước còn bảo tồn lễ của đời Hạ) không đủ chứng minh; lễ của đời Ân, ta có thể nói được, nhưng nước Tống (nước còn bảo tồn lễ của đời Ân) không đủ chứng minh Đó là vì văn hiến không đủ, nếu đủ thì ta có thể chứng minh” → Như vậy, văn hiến là một thuật ngữ chỉ chung sử sách

và các chế độ chính sách Có sử sách tức là đã bước vào thời kỳ văn minh

 Ở Việt Nam:

- Từ thời Lý (1010), người Việt đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang”

- Đến đời Lê (thế kỷ XV), Nguyễn Trãi viết trong “Bình Ngô đại cáo”:

“Duy ngã Đại Việt chi quốc

Thực vi văn hiến chi bang

… Sơn xuyên chi cương vực ký thù Nam Bắc chi phong tục diệc dị”

→ Văn hiến ở đây là một khái niệm rộng chỉ một nền văn hóa cao - gần với nghĩa

“trình độ phát triển văn hoá” của từ văn minh – trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng

- GS Đinh Gia Khánh (Văn học Việt Nam thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII, t.I, Nxb

Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.,1978, tr.374) đã phân tích: “văn” trong văn hiến là văn minh,

còn “hiến” là nhân tài Và ông cũng cho rằng “khái niệm văn hiến của người xưa tương đương với khái niệm văn minh, văn hoá ngày nay, có điều lại nhấn mạnh vào vai trò của những nhân tài làm động lực cơ bản cho sự phát triển của văn minh, văn hoá”

- Trong từ điển tiếng Việt: văn hiến là truyền thống văn hóa lâu đời

- GS Đào Duy Anh giải thích: “văn hiến là sách vở, là nhân vật tốt trong một đời”

Nói một cách khác, “văn” là văn hóa, “hiến” là hiền tài Như vậy, văn hiến thiên về những giá trị tinh thần do những người có tài đức chuyển tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt

- GS Vũ Dương Ninh (trong Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, H., 1998) cho

rằng: dưới thời phong kiến ở phương Đông trước đây, khi chưa có chữ “văn minh” với nghĩa như ngày nay thì chữ “văn hiến” thực chất là văn minh

- GS Cao Xuân Huy trong sách Tư tưởng phương Đông – gợi những điểm nhấn tham chiếu, Nxb Văn học, H., 1995 đã nhiều lần dùng thuật ngữ “văn hiến” để chỉ thư tịch

 Văn vật

- GS Đào Duy Anh: văn vật là những sản vật của văn hoá như lễ nhạc, chế độ “Vật” ở đây là

từ chỉ “những cái có trong khoảng trời đất”, chỉ “sự”, và “sự” là “việc người ta làm, hoặc các nghề nghiệp”

Trang 6

- TS Trần Ngọc Thêm: văn vật là truyền thống văn hoá tốt đẹp biểu hiện ở nhiều di tích lịch

sử và nhiều nhân tài trong lịch sử

- GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “vật” trong văn vật là “vật chất”

 Như vậy, văn vật là khái niệm hẹp để chỉ những công trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm này cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử

d Bảng so sánh các khái niệm “văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật”

Tính giá trị

Bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần

Thiên về giá trị tinh thần (truyền thống văn hóa lâu đời)

Thiên về giá trị vật chất (nhân tài,

Nguồn gốc Gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp Gắn bó nhiều hơn với

phương Tây đô thị

1.1.2 Bản chất của văn hoá

- Theo Federico Mayor – Tổng giám đốc UNESCO – thì bản chất của văn hoá “Là sự thể

hiện và phản ánh một cách tổng quát và sôi động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng người) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diên xra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó

đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc

tự khẳng định bản sắc riêng của mình”

- Trong tư tưởng Hồ Chí Minh:

+ Văn hoá là một bộ phận hợp thành toàn bộ đời sống xã hội của dân tộc và các quan

hệ kinh tế, cơ cấu kinh tế là nền tảng để phát triển văn hóa “Văn hoá là một kiến trúc thượng tầng, những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết được”

+ Văn hoá là lĩnh vực của các giá trị nhân văn, là sản phẩm của trình độ phát triển của

Trang 7

+ Văn hoá do con người sáng tạo ra nhưng nó không mất đi cùng với các thế hệ người tạo ra nó mà trái lại còn tạo lập được một phương thức nhằm gìn giữ các khả năng sáng tạo, các trình

độ chuẩn mực văn hoá của quan hệ xã hội

+ Văn hóa mang tính dân tộc, các giá trị văn hoá của mọi dân tộc đều bình đẳng với nhau

+ Bản chất văn hoá gắn liền với lao động sản xuất, với khả năng sáng tạo của nhân dân, với các chế độ kinh tế - chính trị - xã hội, với truyền thống mỗi dân tộc, với trình độ phát triển của con người → Văn hoá là nội lực của mọi sự phát triển, đặc biệt, văn hoá luôn hướng tới sự phát triển xã hội

- Theo GS.TS Lê Ngọc Trà (trong Thách thức của sáng tạo – Thách thức của văn hoá, Nxb

Thanh niên, tr.257): “Bản chất của văn hoá là trình độ Văn hoá càng phát triển, trình độ càng cao”

- Theo David Hicks: Văn hoá mang bản chất của cá tính và chủng tộc – theo trường phái văn

hóa và cá tính trong những năm 1950 – 1960 tại châu Âu

* Bản chất xã hội của văn hóa: Văn hóa không tự nhiên có mà do con người sáng tạo và tích

lũy nó phản ánh phương thức tồn tại của con người và xã hội Văn hóa hình thành trong đời sống hiện thực, tồn tại trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và quan hệ xã hội của con người

Như vậy, văn hóa là tổng hòa các giá trị mà con người và xã hội đã tạo ra qua quá trình lịch

sử Mỗi mô thức văn hóa đều là sản phẩm của tập thể/ của cộng đồng/xã hội được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác được giữ gìn phát triển thành truyền thống và di sản Văn hóa chính là công cụ phản ánh rõ nét đời sống xã hội của nhân loại trong từng thời kỳ lịch sử

* Bản chất nhân văn của văn hoá: Văn hóa hướng con người tới những hệ giá trị cao đẹp,

cốt lõi trong xã hội: chân – thiện – mỹ Có thể coi đây là ba trụ cột cốt lõi trong sự phát triển văn hóa

của nhân loại Khi cái chân, cái thiện, cái mỹ bị xuống dốc, bị coi nhẹ hay lãng quên thì văn hóa cũng đang trên bờ vực của sự xuống dốc suy đồi Văn hóa hướng tới những giá trị cao đẹp nhằm hoàn thiện

con người, khiến cho con người trở nên nhân bản hơn, xã hội nhân văn hơn

1.1.3 Chức năng của văn hoá

 Chức năng giáo dục: đây là chức năng bao trùm nhất của văn hoá, nó góp phần bồi dưỡng con người, hướng lý tưởng, đạo đức và hành vi của con người vào “điều hay lẽ phải, điều khôn lẽ

thiệt” theo những khuôn mẫu, chuẩn mực mà xã hội quy định

 Nguồn gốc phát sinh:

- Văn hoá có tính lịch sử, nó bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ; được duy trì bằng truyền thống văn hoá, tức là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian; được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…

Trang 8

- Tính lịch sử buộc văn hoá thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân

- Tạo cho lịch sử nhân loại và lịch sử mỗi dân tộc một sự phát triển liên tục

 Chức năng nhận thức: tồn tại trong mọi hoạt động văn hoá Nói cách khác, chức năng nhận thức

là chức năng đầu tiên của mọi hoạt động văn hoá, thiếu nó không thể nói tới chức năng nào khác

 Nguồn gốc phát sinh:

+ Văn hoá hình thành và phát triển trong quá trình tương tác giữa con người với thiên nhiên, với xã hội và với chính mình Sự phát triển văn hoá gắn chặt với sự phát triển nhận thức Không có nhận thức thì không có văn hoá, không có phát triển

 Phương tiện thực hiện là khả năng “nhận thức” của văn hoá

 Hệ quả: chức năng nhận thức của văn hóa lại trở thành phương tiện, công cụ, con đường để văn hóa thực hiện các chức năng các chức năng khác của mình

 Chức năng giao tiếp

- Văn hoá là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người do vậy nó cũng là một hiện tượng

Trang 9

- Văn hoá có mặt ở khắp mọi nơi của xã hội loại người, hiện diện ở tất cả mọi lĩnh vực đời sống, trong suy nghĩ và hành động, trong tâm lý – tâm thức – tâm linh của mỗi người Bởi vậy, văn hoá có khả năng to lớn, mạnh mẽ và lâu bền trong tổ chức và điều chỉnh xã hội

- Tính hệ thống của văn hóa giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hoá cũng như các đặc trưng, quy luật hình thành – phát triển của nó

- Tính giá trị của văn hóa giúp hình thành thước đo mức độ nhân bản của xã hội và

con người Hệ thống các giá trị văn hoá là “khả biến”, luôn phù hợp với thực tế giúp cho xã hội duy

trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của

môi trường Và như vậy, văn hoá trở thành hệ điều tiết cho sự phát triển của xã hội

 Phương tiện thực hiện: các giá trị trong văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, hệ thống chuẩn mực đạo đức (tùy theo từng thời đại), truyền thống văn hóa, cái Chân – cái Thiện – cái

Mỹ trong văn hóa…

 Hệ quả: Xuất hiện chức năng phái sinh của văn hoá là “định hướng”

- Định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

- Văn hoá định hướng cho suy nghĩ và hành động của mỗi người, mỗi cộng đồng, mỗi

dân tộc, của cả nhân loại

 Chức năng thẩm mỹ

 Nguồn gốc phát sinh: cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái Đẹp Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật của cái Đẹp cho nên văn hoá – nghệ thuật phải có chức năng này

 Phương tiện thực hiện: khả năng “dùng văn để hóa”, “biến đổi – hóa cải” cho sự vật – hiện tượng – con người trở nên đẹp hơn, nhân văn hơn

 Hệ quả: cuộc sống của con người ngày càng thoải mái hơn, đẹp hơn

 Hệ quả: đời sống văn hóa, đời sống tinh thần, đời sống vật chất của con người ngày

càng được chú trọng và nâng cao

1.1.4 Cấu trúc văn hoá

Theo cách nhìn truyền thống, văn hóa có cấu trúc hai phần rất đơn giản: văn hóa vật

chất và văn hóa tinh thần Đây là cấu trúc mang tính cơ sở, đơn giản, không thể cho thấy hết được sự phong phú và phức tạp của hệ thống văn hóa

Trang 10

Bảng đối chiếu cách phân chia cấu trúc văn hóa của một số nhà nghiên cứu

L White Công nghệ + Xã hội + Tư tưởng

Đào Duy Anh Sinh hoạt kinh tế + Sinh hoạt xã hội + Sinh hoạt tri thức

Nhóm Văn Tân Văn hoá vật chất + Văn hoá xã hội + Văn hoá tinh thần

M.S Kagan Văn hoá vật chất + Văn hoá tinh thần + Văn hoá nghệ thuật

Ngô Đức Thịnh Văn hoá sản xuất + Văn hoá xã hội + Văn hoá tư tưởng + Văn hoá nghệ thuật Nguyễn Tấn Đắc Hoạt động sinh tồn + Hoạt động xã hội + Hoạt động tinh thần + Hoạt động

nghệ thuật Trần Ngọc Thêm

Văn hoá nhận thức + Văn hoá tổ chức cộng đồng + Văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên + Văn hoá ứng cử với môi trường xã hội

- Mọi hệ thống phải bao gồm các yếu tố và các quan hệ giữa chúng, mạng lưới các mối quan

hệ đó tạo thành cấu trúc Không có hệ thống nào lại không tồn tại dưới dạng một cấu trúc, cấu trúc đó được coi như một thuộc tính của hệ thống

- Mỗi yếu tố của hệ thống đều có thể là một hoặc vài tiểu hệ thống

- Mọi hệ thống đều có quan hệ mật thiết với nhau và với môi trường xung quanh

Với cách tiếp cận hệ thống như vậy, văn hoá có thể được coi là hệ thống với 4 tiểu hệ cơ bản sau đây:

Trang 11

VĂN HÓA

VĂN HÓA ỨNG PHÓ VỚI MÔI TRƯỜNG

TỰ NHIÊN

- Tác động tiêu cực

VĂN HÓA

TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ:

- Quốc gia

- Đô thị

- Nông thôn

VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI

SỐNG VĂN HÓA NHẬN THỨC

VĂN HÓA ỨNG PHÓ VỚI MÔI TRƯỜNG

XÃ HỘI:

- Tác động tiêu cực

VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI

VĂN HÓA TẬN DỤNG MÔI TRƯỜNG

TỰ NHIÊN:

- Tác động tích cực

NHẬN THỨC VỀ CON NGƯỜI

VĂN HÓA TẬN DỤNG MÔI TRƯỜNG

XÃ HỘI:

- Tác động tích cực

Trang 12

1.1.5 Các loại hình văn hóa

a Vấn đề loại hình văn hoá

Những nền văn hoá mang một số đặc điểm và phong cách cơ bản tương đồng được các nhà văn hoá học xếp vào một loại hình văn hoá Giống như ngôn ngữ, văn hóa có sự đa dạng rất lớn về loại hình Hiện nay, đang tồn tại hai quan niệm về việc phân chia các loại hình văn hoá

 Quan niệm thứ nhất: xuất phát từ góc nhìn địa lý (lấy Địa Trung Hải làm giới tuyến), có 2 loại hình văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây với những nét phân biệt cơ bản sau

Tâm lý Chú trọng vật chất, chuộng

thương mại

Chú trọng đến tinh thần, tâm linh

Thái độ đối với quá khứ Thiên về cộng sinh Thiên về ngưỡng mộ

Nguyên nhân của sự khác biệt giữa văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây:

- Văn hoá phương Tây bắt nguồn từ những

thành bang bên bờ Địa Trung Hải Những thành

bang ấy sống chính bằng ngoại thương, không biết

đến kinh tế tự cung tự cấp Cơ sở cho sự giàu có

của cư dân ở đây là thương nghiệp Họ vừa sản

xuất, vừa buôn bán, vừa bành trướng lãnh thổ

Đồng thời, các thành bang đều có một đội ngũ trí

thức đông đảo → khiến cho châu Âu có thể khắc

phục được “phương thức sản xuất châu Á truyền

thống”

- Văn hoá phương Đông hình thành trên cơ sở nông nghiệp trồng trọt trên lưu vực của những con sông lớn Thủ công nghiệp chỉ là nghề phụ thuộc vào nông nghiệp và nông thôn Thương nghiệp bị coi nhẹ Công xã thị tộc và tàn tích của nó được bảo lưu trong lòng xã hội có giai cấp và chính việc không phá vỡ công xã thị tộc như vậy làm cho phương Đông không có nhân tố khắc phục được

“phương thức sản xuất châu Á” – phương thức thể hiện của chế độ công xã thị tộc

 Quan niệm thứ hai: phân biệt 2 loại hình văn hóa gốc nông nghiệp và gốc du lục dựa trên đặc điểm môi trường sống của chủ thể sản sinh ra nền văn hoá ấy

Cần quy ước: - Loại hình văn hoá gốc nông nghiệp bao gồm những nền văn hoá gốc nông nghiệp chủ

yếu là trồng trọt lúa nước

- Loại hình văn hoá gốc du mục bao gồm những nền văn hoá gốc nông nghiệp chủ yếu là chăn nuôi đại gia súc trên đồng cỏ và trồng trọt đại mạch (lúa khô)

Trang 13

- Cư dân nông nghiệp sống phụ thuộc rất nhiều

vào thiên nhiên Nơi sống chủ yếu là vùng đồng

bằng, lưu vực các con sông, vùng ven biển Với

nghề chính là trồng lúa, họ quan tâm đến việc

chăm sóc cây cối, đất đai, nguồn nước ở nơi sinh

sống Và như vậy, cách sống của nhóm cư dân này

là cần sự ổn định, định cư, nhà cửa bền chắc, ít khi

bị di dời, sống hòa hợp, hòa nhập với thiên nhiên,

luôn cầu mong mưa thuận gió hòa, ngô lúa đầy

đồng, con đàn cháu đống, quanh năm quấn quýt

bên nhau

- Cư dân du mục lấy nơi đồng cỏ thảo nguyên, nơi

cao ráo làm chỗ sinh sống của mình Nhưng vì

nghề sống chính của họ là chăn nuôi gia súc nên

phụ thuộc vào nguồn cung cấp cỏ, họ đi hết cánh

đồng cỏ này lại sang cánh đồng cỏ khác Vì vậy,

chỗ ở của họ không cố định, nay đây mai đó (du

cư), phương tiện sống (nhà cửa) cũng theo đó mà

được chế tác một cách tiện lợi nhất, dễ di chuyển,

dễ tháo dựng, cuộc sống của họ chỉ mang tính tạm

bợ

 Về mặt nhận thức, tư duy

- Cư dân nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào

thiên nhiên (nhiều yếu tố cùng một lúc không tách

bạch nhau) Do đó, đối với họ lối tư duy đặc trưng

là loại tư duy mang tính tổng hợp, kéo theo tính

biện chứng Tổng hợp nhằm bao quát được nhiều

yếu tố, biện chứng là để tìm ra các mối liên hệ,

quan hệ giữa các yếu tố đó Nét độc đáo này tạo ra

một tính cách con người, một nét bản sắc văn hóa

của cư dân nông nghiệp là ưa quan sát và đúc rút

kinh nghiệm để truyền đời cho con cháu

- Ở cư du mục, do các yếu tố cấu thành trong hoạt động nghề nghiệp chính của họ không quá nhiều nên đối tượng quan tâm của họ không tản mạn Vì vậy, họ có lối tư duy mang tính phân tích, mổ xẻ vấn đề hơn là gom tụ vấn đề Tính phân tích lại kéo theo nó tính siêu hình, tức là chú trọng các yếu tố trừu tượng hóa tách chúng khỏi các mối liên hệ mang tính biện chứng

Hai lối tư duy đặc trưng nêu trên đều có những mặt mạnh và mặt yếu khác nhau Ví như lối tư duy tổng hợp ít để ý đến các tiểu tiết, chỉ tập trung vào cái đại thể, do đó, ít có điều kiện hình thành nhiều khoa học chuyên sâu nhưng lối tư duy này lại có lối diễn đạt ngắn gọn, hàm súc, thâm thúy, có phạm vi áp dụng rộng rãi Trong khi đó, lối tư duy phân tích là cơ sở cho việc hình thành các ngành khoa học chuyên sâu, các tư tưởng thường được thay đổi thường xuyên nên khoa học có điều kiện phát triển nhanh dễ dàng trong áp dụng những kiến thức mới trên cơ sở thực nghiệm, biện luận và chứng minh một cách rõ ràng, khách quan và có sức thuyết phục Tuy nhiên, tính siêu hình dễ làm méo mó bản chất sự vật như nó vốn có và có trong một chứng mực, lại có ít sức thuyết phục trong một phạm vi rộng lớn

 Tổ chức cộng đồng và một số điểm khu biệt khác

Trang 14

- Cư dân nông nghiệp ưa tổ chức theo

nguyên tắc coi trọng tình cảm – trọng tình, dẫn đến

thái độ trọng đức -> trọng văn -> trọng phụ nữ

Nguyên tắc trọng tình trọng tổ chức cộng đồng còn

thể hiện ở lối ứng xử xã hội mềm dẻo, linh hoạt

hiếu hòa và nền dân chủ làng xóm

- Cư dân du lục với kiểu tư duy phân tích dẫn đến lối sống “trọng lý – duy lý”, theo những nguyên tắc đề ra nhất định, đòi hỏi tính tổ chức

và kỷ luật cao, coi trọng sức mạnh, trọng tài, trọng

võ, ít hiếu hòa, xử lý theo thế mạnh quyền lực (nền dân chủ và dân chủ tư sản phương Tây)

Bảng so sánh 2 loại hình văn hoá gốc nông nghiệp và gốc du mục

TIÊU CHÍ

VĂN HÓA GỐC NÔNG NGHIỆP

VĂN HÓA GỐC DU MỤC

Ước vọng Mong muốn hòa hợp với thiên

nhiên

Tham vọng chế ngự tự nhiên

Lối nhận thức tư duy

Trọng quan hệ - thiên về tổng hợp và biện chứng

Trọng yếu tố - thiên về phân tích và siêu hình

Ứng xử với môi

trường xã hội

Trong tiếp nhận Dung hợp Chiếm đoạt và độc tôn

1.2 Định vị văn hoá Việt Nam

Việt Nam ở góc tận cùng phía đông nam của phương Đông, thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình

1.2.1 Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hoá gốc nông nghiệp

 Nguồn gốc

Trang 15

 Khí hậu: nóng ẩm, mưa nhiều (nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo)

 Sinh hoạt kinh tế truyền thống: nông nghiệp trồng trọt (trồng lúa nước)

 Đặc trưng: Lo tạo dựng một cuộc sống ổn định, lâu dài, không xáo trộn, mang tính chất trọng tĩnh

 Ứng xử với môi trường tự nhiên

Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình với loại hình canh tác chính là nông nghiệp lúa nước, điều này đã quy định cách ứng xử của người dân với môi trường tự nhiên với những đặc điểm cơ bản như sau:

- Sống định cư: Kinh tế trồng trọt dẫn đến định cư lâu dài làm tiền đề cho việc cư dân cư trú theo đơn

vị huyết tộc

- Có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa bình với thiên nhiên

→ Giữ gìn được môi trường sống tự nhiên nhưng lại khiến con người trở nên rụt rè, e ngại, thậm chí tôn sùng tự nhiên

 Về mặt nhận thức: Từ việc quan sát các hiện tượng tự nhiên một cách giản đơn, qua kinh nghiệm

qua sự nhận thức đã giúp họ hình thành tư duy tổng hợp, biện chứng bởi thiên nhiên không phải là một – hai hiện tượng riêng lẻ và giữa chúng có những mối liên hệ qua lại mật thiết (người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các mối quan hệ này)

 Tổ chức cộng đồng:

- Theo nguyên tắc trọng tình: vì sống cố định với nhau trong đơn vị tụ cư là làng xã nên phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận, lấy tình nghĩa làm đầu

- Hệ quả:

+ Lối sống trọng tình cảm dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ

+ Có tâm lý tôn trọng và cư xử bình đẳng: Đó là nền dân chủ làng mạc, nó có trước nền quân chủ phong kiến phương Đông và nền dân chủ tư sản phương Tây

+ Tâm lý coi trọng cộng đồng, tập thể

- Cách thức tổ chức: Lối sống linh hoạt, luôn ứng biến cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể

 Ứng xử với môi trường xã hội:

- Dung hợp trong tiếp

- Hiếu hòa, mềm dẻo trong đối phó

 Mặt trái

 Thói tùy tiện

 Tính tổ chức kém

 Không hình thành được những khoa học chuyên sâu

Các đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp

Đặc trưng gốc Khí hậu Nắng nóng lắm, mưa ẩm nhiều

Nghề chính Trồng trọt

Ứng xử với môi trường tự nhiên Sống định cư, thái độ tôn trọng, ước mong sống hòa hợp với thiên

nhiên

Trang 16

Lối nhận thức tư duy Thiên về tổng hợp và biện chứng (trong quan hệ), chủ quan, cảm

tính và kinh nghiệm

Tổ chức cộng

đồng

Nguyên tắc Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng nữ Cách thức Linh hoạt, dân chủ, trọng

tập thể

Ứng xử với môi trường xã hội Dung hợp trong tiếp nhận

Mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó

1.2.2 Chủ thể và thời gian văn hoá

a Chủ thể văn hoá Việt Nam

Chủ nhân của văn hoá Việt Nam ngày nay là dân tộc Kinh/Việt và 53 dân tộc anh em khác sống trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó Việt tộc đóng vai trò chủ thể

 Nguồn gốc dân tộc:

 Thời sơ khởi: các tộc người Việt Nam ra đời trong phạm vi của trung tâm hình thành loài người phía Đông, trong khu vực hình thành của đại chủng phương Nam – Australoid

 Trong những thời kỳ tiếp theo:

- Vào thời đại đá giữa (khoảng 10.000 năm về trước), một dòng người thuộc đại chủng Á -

Mongoloid từ vùng Tây Tạng (dãy Hymalaya) thiên di về phía Đông Nam, đến khu vực mà bây giờ gọi là Đông Dương (Indochine) thì dừng lại Nơi đây, đã diễn ra sự hợp chủng giữa dòng người này với cư dân bản

địa Mélanésien (thuộc đại chủng Úc – Australoid hay đại chủng phương Nam) Kết quả là sự hình thành của chủng Indonésien (còn được gọi là cổ Mã Lai hay Đông Nam Á tiền sử) với những đặc điểm như da ngăm

đen, tóc gợn sóng, tầm vóc thấp Chủng người mới này đã tỏa đi sinh sống trên toàn bộ vùng Đông Nam Á cổ

- Vào cuối thời đại đá mới, đầu thời đại đồng (cách ngày nay khoảng 5000 năm), ở khu vực

Nam Trung Hoa và Bắc Đông Dương bây giờ (nam sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng) xảy ra sự tiếp xúc giữa đại chủng Mongoloid với những người Indonésien một cách thường xuyên dẫn tới việc hình thành một chủng mới là Austroasiatic – chủng Nam Á Với chủng Nam Á này, các nét Mongoloid lại càng nổi trội,

do vậy nó được xếp vào ngành Mongoloid phương Nam

+ Chủng Nam Á được chia tách thành nhiều chủng tộc mà thư tịch cổ của Trung Hoa

và Việt Nam gọi là khối cư dân Bách Việt: Điền Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt…

+ Cộng đồng Bách Việt sống trên một khu vực rộng lớn từ nam sông Dương Tử đến Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay và hợp thành những khối cư dân mà ban đầu mỗi khối nói một ngôn ngữ riêng: Môn – Khơ me, Việt – Mường, Tày – Thái, H’mông – Dao

- Thời Bắc thuộc (thế kỷ II đến thế kỷ VIII): Sự chia tách tiếp tục nhiều lần đưa tới sự hình

thành các tộc người cụ thể (song song với quá trình chia tách ngôn ngữ) và tộc người Việt/Kinh (chiếm khoảng 90% dân số) đã tách khỏi khối Việt – Mường vào khoảng thế kỷ VII – VIII

Ngày đăng: 29/04/2014, 22:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng đối chiếu cách phân chia cấu trúc văn hóa của một số nhà nghiên cứu - Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam
ng đối chiếu cách phân chia cấu trúc văn hóa của một số nhà nghiên cứu (Trang 10)
Hình thái văn minh   Cảng thị  Nông nghiệp - Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam
Hình th ái văn minh Cảng thị Nông nghiệp (Trang 12)
Bảng so sánh 2 loại hình văn hoá gốc nông nghiệp và gốc du mục - Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam
Bảng so sánh 2 loại hình văn hoá gốc nông nghiệp và gốc du mục (Trang 14)
Sơ đồ hóa quá trình hình thành Nhà nước Văn Lang - Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam
Sơ đồ h óa quá trình hình thành Nhà nước Văn Lang (Trang 21)
Hình thành lối ứng xử nước đôi ở người Việt - Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam
Hình th ành lối ứng xử nước đôi ở người Việt (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN