Sự hình thành mỏ khí thiên nhiên có giá trị thương mại thường liên quan đến các nhân tố chính Sự hình thành mỏ khí thiên nhiên có giá trị thương mại thường liên quan đến các nhân tố chính Sự hình thành mỏ khí thiên nhiên có giá trị thương mại thường liên quan đến các nhân tố chính Sự hình thành mỏ khí thiên nhiên có giá trị thương mại thường liên quan đến các nhân tố chính Sự hình thành mỏ khí thiên nhiên có giá trị thương mại thường liên quan đến các nhân tố chính Sự hình thành mỏ khí thiên nhiên có giá trị thương mại thường liên quan đến các nhân tố chính Sự hình thành mỏ khí thiên nhiên có giá trị thương mại thường liên quan đến các nhân tố chính
Trang 1Sự kích thích
Sự axit hóa
Axit hcl là chất hóa học thong dụng nhất trong được sử dụng trong việc axit hóa Dung dịch axit hcl 15% khối lượng thường được sử dụng nhất trong thành hệ đá vôi hoặc dolomite, trong khi đó, hỗn hợp axit hcl 12% va hf 3% thì thường được sử dụng trong thành hệ đá cát kết với sét (interstitial)
Axit hữu cơ, ví dụ như axit axetic, hoặc axit formic, đôi khi cũng được sử dụng
Acid pump truck
Xe bơm axit
Formation: thành hệ
Trang 2đứt gãy, khe nứt
Proppant particle
Hạt cát (hoặc hạt nhỏ tương tự) lơ lửng trong nước, hiện diện trong việc hình các khe nứt chứa nước
Fracture: khe nứt
Control van
Xe tải điều khiển
Pump truck
Xe bơm
Proppant storage
Lưu trữ proppant
Fracture fluid tanks
Thùng chứa nước ở đứt gãy
Proppan conveyor
Thiết bị chở proppant
Manifold
Đường ống phân phối
Blender
Máy trộn
Kiểm soát cát
Trong khi một số lượng trầm tích nhất định sẽ luôn luôn được sinh ra cùng với chất lưu vỉ chứa, công tác kiểm soát cát là công nghệ và hoạt động ngăn chặn dòng chảy cát từ các thành hệ sa thạch bở rời Vấn đề như thế thường thấy trong các trầm tích kỉ đệ tam, ở độ sâu nông, và trong các lĩnh vực như Nigeria, Indonesia, Trinidad, Venezuela, Canada, Mỹ Gulf Coast, và tại các khu vực như bồn (bể) Los Angeles (Patton và Abbott 1982) và ở Việt Nam cũng có Việc tạo cát dẫn đến một hoặc tất cả các vấn đề sau đây:
• Sụp ống chống;
Trang 3• Sự mài mòn các thiết bị trên bề mặt và dưới giếng khoan;
• giảm năng suất;
• hoàn toàn trát kín, bít kín ("làm ngập bằng cát") giếng
Các phương pháp kiểm soát việc tạo cát thông thường liên quan đến một trong ba phương pháp sau:
+ Dùng một lưới kim loại và màng chắn hạt để sàng lọc vỉa chứa cát nhưng không ngăn chặn dòng chảy của các dung dịch trong giếng khoan;
+ Tiêm keo epoxy vào vỉa chứa gần giếng khoan và chờ cho keo cứng; keo này gắn kết các hạt cát lại với nhau và bằng cách hợp nhất chúng lại ta đã ngăn chặn sự di chuyển của chúng
+ Một phương pháp kết hợp bao gồm việc kích hoạt các đứt gãy và kiểm soát cát, được biết đến như phương pháp "frac and pack" (ghi chú về viết tắt này: frac là fracture
stimulation, phương pháp kích hoạt các đứt gãy, còn pack nghĩa đen là đóng gói, là phương pháp khiến cho cát gắn kết lại thành một khối, điển hình là dùng keo epoxy)
Casing: Ống chống
Gravel Pack: Lớp bọc bằng cuội sỏi
Sand: Cát
Cement: Chất kết dính
Perforation Tunnel: Đường hầm khoan
Formation: Thành hệ
Wire Wrapped Screen: Màng lọc bằng lưới thép
Trang 4Casing: Ống chống
Cement: Chất kết dính
Collasible Underreamer: Ống khoan mở rộng
Trang 5Underreamed Openhole: Lỗ khoan không ống chống mở rộng
Slotted Liner or Wire Wrapped Screen: ống chống có rãnh hay màng lọc bằng lưới thép Wash Pipe or Tail Pipe: Ống rửa và ống hút
Trang 6Wash Pipe: Ống rửa Screen: Màng lọc
Trang 7Tell Tale Screen: Màng lọc máy đo độ cao chất lỏng Screen: Màng lọc
Trang 8Packer and Crossover: Máy lấp và hàng lang nối
Ví dụ: Biển Bắc của Na Uy – Mỏ Ekofisk
+ Được phát hiện vào cuối năm 1969, Mỏ Ekofisk là sự phát hiện chính đầu tiên ở Biển Bắc Mỏ này ở ngoài khơi cách bờ 180 dặm (290 km) trên mực nước biển 230 ft (70 m) Theo sau đó là một giai đoạn thử ngiệm ban đầu mà theo đó 4 mỏ thăm dò được hoàn thành là các giếng dưới mặt biển, các phát triển tiếp sau đó đã cho kết quả là sự hình thành của 11 giàn khoan và giàn sản xuất, và việc khoan và hoàn thành của tổng cộng là gần 140 giếng từ những giàn khoan này Vùng Greater Ekofisk hiện nay bao gồm các mỏ Ekofisk, West Ekofisk, Edda, Eldfisk, Tor, Cod, và Albuskjell Khu vực mỏ Ekofisk được tìm thấy trong các đá vôi kỷ Danian và Thượng Phấn Trắng (Upper Cretaceous) Thành hệ này được tìm thấy ở một giếng ở độ sâu 10.000 ft (3000 m) trong một giếng khoan điển hình, và đá vôi gãy tự nhiên
+ 10.000 thùng/ngày (10,000 bbl/day) (1600m3/ngày) là số lượng lấy được từ các giếng dưới biển, và 20.000 thùng /ngày (20.000bbl/day) là số lượng (3200m3/ngày) được sản xuất hàng ngày
Một ví dụ về thiết kế giếng khoan ngoài khơi tại VN
Trang 9Sea Floor: Đáy biển, nền đáy biển
30’’ conductor set in 36’’ hole at 100-130 ft: cáp dẫn 30’’ đặt tại hố 36’’ tại độ sâu 100 –
130 ft
20’’ casing set at 2000 ft: Ống chống 20’’ tại 2000 ft
13 3/8’’ casing set at 5000 – 5500 ft: Ống chống 12 3/8’’ đặt tại 5000 – 5500 ft
4 1/2 ‘’ tubing: Ống 4 ½’’
9 5/8’’ packer at 9600 ft: Máy lấp 9 5/8’’
3 ½’’ tailpipe: Óng hút 3 ½
9 5/8’’ casing set at 9800 ft: Ống chống 9 5/8’’ đặt tại 9800ft
Danian perforations: Lỗ khoan tại kỉ Danian
U cretaceous perforations: Lỗ khoan tại kỉ Thượng Phấn Trắng
7’’ liner set at 11,000 ft: Ống chống (ống lót) đặt tại 11.000 ft