1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Công nghệ sinh học những cơ hội và thách thức

11 986 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Nghệ Sinh Học Những Cơ Hội Và Thách Thức
Tác giả Gs.TSKH. Phạm Thị Trân Châu
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Công Nghệ Sinh Học
Thể loại bài viết
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 243,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn 6 tỉ người trên hành tinh chúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỷ XXI.

Trang 1

Công nghệ sinh học những cơ hội và thách thức

Hơn 6 tỉ người trên hành tinh chúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỷ XXI Theo dự báo, 25 năm tới trên hành tinh giới hạn này, sẽ có thêm 2,3 tỉ người nữa

Có người đã nói một cách hình tượng rằng, trong thế kỷ XXI dân số thế giới sẽ tăng với tốc độ mỗi ngày một thành phố New york, mỗi năm một nước Mexico, và có thể mỗi thập kỷ một nước Trung hoa

Việt Nam, theo số liệu tổng điều tra dân số 1/4/1999

có 76,325 triệu người và đang cố gắng để đến giữa thế kỷ 21 dân số Việt Nam vẫn chỉ vào khoảng 120-125 triệu người Làm thế nào để có đủ nước sạch, đủ lương thực thực phẩm, đủ thuốc chữa bệnh, đủ năng lượng để thoả mãn những nhu cầu sống tối thiểu của toàn nhân loại trên toàn hành tinh chúng ta ?

Công nghệ Sinh học có thể góp phần đáng kể để giải quyết vấn đề đã nêu Vậy Công nghệ Sinh học là

gì ?

Danh từ Công nghệ Sinh học lần đầu tiên được một nhà kinh tế nông nghiệp Hungary Kark Ereky sử dụng năm 1919, để chỉ tất cả các quá trình sản xuất các sản phẩm bằng cách bổ sung các cơ thể sống (vi sinh vật) vào các nguyên liệu thô

Với quan niệm trên, Công nghệ Sinh học không phải chỉ là những qui trình hiện đại, mà bao gồm cả những qui trình đã có từ hàng nghìn năm trước công nguyên (làm bia, rượu, bánh

mì, phomat v.v ) Tuy nhiên thời bấy giờ chỉ nhờ kinh nghiệm thuần tuý, người ta thường gọi

đó là CNSH cổ điển hoặc CNSH truyền thống

Trong ba thập kỷ qua, nhờ những thành tựu to lớn của Sinh học phân tử (SHPT), Di truyền học, Hoá sinh học, Vi sinh vật học, Tế bào học, nhân loại đã đạt được những bước tiến nhảy vọt trong việc hiểu biết cơ chế phân tử của các quá trình sống Nhờ vậy đã có thể khai thác hệ thống sống theo một cách đặc biệt với phạm vi và đối tượng mở rộng hơn nhiều, đã

tạo ra CNSH hiện đại, sau đây sẽ được gọi tắt là CNSH Có nhiều quan niệm, định nghĩa khác

nhau về CNSH, ở đây chúng tôi chỉ nêu một số quan niệm phổ biến:

+ CNSH là công nghệ sản xuất các sản phẩm, các thiết bị và các cơ thể mới bằng cách khai thác các quá trình sinh học

+ CNSH là bất kỳ công nghệ nào sử dụng cơ thể sống hoặc các thành phần, các chất của

cơ thể sống để tạo ra hoặc cải biến sản phẩm, thực vật hay động vật, hoặc tạo ra các VSV dùng cho những ứng dụng đặc biệt

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung lại có thể nói: CNSH là sự kết hợp thực dụng của KH và CN, để sử dụng những kiến thức của nhân loại về các hệ thống sống vào thực tế Tuy các quan niệm và định nghĩa có khác nhau ít nhiều, nhưng mục tiêu của

CNSH là sử dụng các đối tượng sinh vật, để thu được các sản phẩm có ích thông qua các quá trình công nghệ.

CNSH làm ra tiền trên nền tảng Sinh học CNSH gắn liền với thương mại và dịch vụ

Gs.TSKH Phạm Thị Trân Châu

Phó Chủ nhiệm ủy ban Khoa học,

Công nghệ và Môi trường

của Quốc hội khóa X

Trang 2

CNSH là tập hợp các ngành khoa học (Sinh học phân tử, Di truyền học, Hoá sinh học,

Vi sinh vật học) và các ngành khoa học và kỹ thuật khác nhằm tạo ra các công nghệ, khai thác

ở qui mô công nghiệp các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào thực vật và động vật Sự phát triển mạnh mẽ của CNSH đã dẫn đến sự ra đời một ngành công nghiệp mới đầy triển vọng là

Công nghiệp CNSH Phạm vi hoạt động của ngành này rất rộng lớn và có liên quan đến nhiều

lĩnh vực khác nhau: y tế, nông nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp hoá học, bao gồm cả công nghiệp vật liệu mới, thu nhận và chế biến khoáng sản, công nghiệp điện tử, năng lượng và bảo vệ môi trường Các sản phẩm CNSH có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường

Vài ba chục năm, quả thật là một khoảng thời gian quá ngắn, so với quá trình hình thành

và phát triển của một ngành khoa học, nhưng CNSH đã đạt được nhiều kết quả to lớn, mà trong một bài khó có thể kể hết những thành tựu to lớn của nó, dù chỉ là kể về những thành tựu của một chuyên ngành khoa học thành viên của CNSH Vì vậy, chúng tôi chỉ cố gắng nêu

một số ví dụ để minh hoạ cho những hướng lợi ích lớn và những nguy cơ có thể có từ CNSH, đồng thời nêu lên một số ý kiến khác nhau xung quanh việc sử dụng các cơ thể đã được cải biến di truyền (GMO) và các sản phẩm của chúng Đây là một vấn đề nổi cộm mà cả công chúng, cũng như các nhà quản lý ở nhiều nước đang quan tâm, cả về mặt lợi ích cũng như vấn

đề an toàn sinh học, an toàn thực phẩm.

I Những lợi ích và cơ hội mới

CNSH hiện đại sử dụng ở qui mô lớn, các kỹ thuật mới của Sinh học phân tử, Di truyền học, Hoá sinh học, Vi sinh vật học, Tế bào học, nên đã có nhanh chóng tạo ra một lượng lớn các sinh vật và sản phẩm mới, có những đặc tính quí giá phục vụ y học, nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp, các ngành công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện điều kiện lao động Vì vậy giá trị tổng sản phẩm CNSH trên thị trường thế giới tăng lên nhanh chóng: năm 1998 vào khoảng 16 tỉ đôla Mỹ và theo dự báo thì đến năm 2008 sẽ là 56 tỉ đôla Mỹ Phần lớn các sản phẩm mới của CNSH có liên quan đến việc điều trị và chẩn đoán bệnh cho người (hiện có khoảng 80 sản phẩm đã hoặc sắp đưa ra thị trường), rồi đến các sản phẩm dùng trong nông nghiệp Sản phẩm CNSH của Mỹ chiếm phần lớn trên thị trường thế giới, năm 1998 là 12,4 tỉ đôla, chiếm 75% Theo dự báo (6/1998) tổng giá trị các sản phẩm CNSH của Mỹ bán trên thị trường thuộc các lĩnh vực khác nhau như sau:

Lợi ích to lớn dễ thấy của CNSH là đã tạo được các vi sinh vật có khả năng sinh tổng

hợp các chất (đặc biệt là các protein, enzim(1)) vốn chỉ có ở người và động vật Do đó có thể sản xuất nhanh chóng với giá thành hạ và có độ an toàn cao một số thuốc đặc trị, một số enzim dùng trong y tế và công nghiệp

(1) Ph n l n enzim l nh ng protein cá kh n ng xúc tác cho các ph n ng chuy n hoá cácững protein cá khả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ăng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ứng chuyển hoá các ển hoá các

ch t trong c th s ng T nhi u n m nay ngển hoá các ừ nhiều năm nay người ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể ều năm nay người ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể ăng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ười ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thểi ta ã có th tách enzim ra kh i c thđã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể ển hoá các ỏi cơ thể ển hoá các

s ng đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thểển hoá các s d ng chúng l m ch t xúc tác cho nhi u quá trình s n xu t khác nhau, s d ngều năm nay người ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể ả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các trong y t Ngo i các enzim có b n ch t hoá h c l protein, t n m 1981, ngả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ọc là protein, từ năm 1981, người ta đã phát ừ nhiều năm nay người ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể ăng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ười ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thểi ta ã phátđã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể

hi n đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thểược một số axit ribonucleic (ARN) cũng có hoạt tính xúc tác.c m t s axit ribonucleic (ARN) c ng có ho t tính xúc tác.ột số axit ribonucleic (ARN) cũng có hoạt tính xúc tác ũng có hoạt tính xúc tác ạt tính xúc tác

Trang 3

1 Trong y học

CNSH được ứng dụng chủ yếu trong chẩn đoán, điều trị, điều trị gen và sản xuất vacxin Hiệu quả ứng dụng càng cao và càng đa dạng từ sau khi hoàn tất việc giải mã bộ gen người Bằng phương pháp so sánh, sàng lọc gen, các trình tự nucleotit trong gen, đã phát hiện chính xác gốc rễ của nhiều căn bệnh, do đó có phương pháp điều trị thích hợp và cơ bản, hiệu quả cao Nhờ hiểu biết bộ gen người và sử dụng công cụ máy tính hiện đại, việc sàng lọc gen liên quan đến bệnh tật nhanh hơn trước nhiều Ví dụ việc sàng lọc trình tự gen liên quan đến bệnh ung thư vú, ở vài chục phụ nữ, trước đây phải thực hiện từ 510 năm, nay đã có công ty

đã có thể thực hiện được trong vòng 3 tháng

Phương pháp điều trị bằng gen (gene therapy) sử dụng kĩ thuật chuyển gen, đưa gen

“khoẻ mạnh” vào tế bào của người với hi vọng có sửa chữa được các khuyết tật về gen cho người Người ta đã biết có khoảng 3000 bệnh có liên quan đến những khuyết tật về gen Ví dụ

đã xác định được “hội chứng thiếu hụt miễn dịch phối hợp” (SCID) là do thiếu gen tổng hợp enzim adenozin deaminaz (ADA) xúc tác cho phản ứng chuyển hoá adenin Lần đầu tiên vào cuối năm 1991, Andécxơn (Anderson) và Maicơn Blasơ (Micheal Blaese) đã sử dụng phương pháp chuyển gen điều trị thành công cho bệnh nhân là một bé gái 4 tuổi

Người ta cũng đã đưa gen mã hoá yếu tố hoại tử ung thư (Tumor neocrosis factor, viết tắt là TNF) hoặc gen intelơkin (IL-4) vào bệnh nhân với hi vọng điều trị bệnh ung thư Hiện nay trên thế giới đã có một số hãng đang phát triển hệ thống điều trị gen, trong đó có 9 công

ty đang nghiên cứu phát triển điều trị gen bệnh ưa chảy máu (hemophylic), là một bệnh chiếm

tỉ lệ không nhỏ ở nam giới (có thể đến 1/10000, hemophylic A)

Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng phương pháp điều trị gen, có thể ít hiệu quả hoặc có

hại Lí do được nêu là gen mới đưa vào không sửa chữa được khuyết tật ở một hay một số cặp bazơ của gen mà là thay thế gen bị khuyết tật, gen mới có thể kích thích hoặc phá huỷ hoạt

động của các gen khác Để khắc phục vấn đề này người ta đang nghiên cứu cách đưa gen

“khoẻ mạnh” vào như thế nào virut là đối tượng được lựa chọn để mang gen,sử dụng virut để đưa các bản sao đã được biến đổi vào tế bào người, các thí nghệm ban đầu cho thấy có thể sửa chữa được gen khuyết tật trong tế bào người

ứng dụng CNSH trong sản xuất vác xin cũng đưa đến những bước đột phá mới, thay vì

sử dụng vi khuẩn hoặc virut bất hoạt hoặc chết, có thể sử dụng chỉ một hay một nhóm protein của bề mặt vi khuẩn hay virut như là kháng nguyên Tách gen mã hoá các protein này, đưa vào tế bào vi sinh vật tạo các tế bào, vi sinh vật tái tổ hợp mang gen tổng hợp các protein ấy

và có thể sản xuất mộtlượng lớn protein kháng nguyên, bằng công nghệ lên men

Đã thành công trong việc tạo các vi sinh vật sản xuất một số dược phẩm có bản chất protein Ví dụ: insulin để điều trị bệnh tiểu đường(2) (bắt đầu sử dụng cho người vào năm 1982); intelơkin (interleukin - 4) và eritơropoietin (erythropoietin) trong điều trị bệnh ung thư ; interon (interferon) kháng virút ; chất kháng tripxin (1- antitrypsin) điều trị bệnh tràn khí Ngoài 1- antitrypsin, một số protein ức chế proteinaz (PPI) khác đang được thế giới quan tâm để phát triển thuốc mới, vì các chất này có triển vọng điều trị đặc hiệu nhiều bệnh hiểm nghèo kể cả ung thư, AIDS

Một số enzim trước đây được tách từ các mô động vật để điều trị bệnh, hiện nay cũng

đã được sản xuất ở qui mô công nghiệp nhờ các vi sinh vật đã được cải biến gen như: pepxin, renin, catepxin-D, trombin, elastaz, v.v

Sử dụng các vi sinh vật đã được cải biến di truyền, để sản xuất các dược phẩm sinh học

(2) B nh ti u ển hoá các đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thểười ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thểng (T ) l b nh khá ph bi n có th có nhi u bi n ch ng nguy hi mĐ) là bệnh khá phổ biến có thể có nhiều biến chứng nguy hiểm ổ biến có thể có nhiều biến chứng nguy hiểm ển hoá các ều năm nay người ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể ứng chuyển hoá các ển hoá các

d n đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể n t vong Trên th gi i ư c tính có kho ng h n 300 tri u ngả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ười ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể ị TĐ, có số liệu Đ) là bệnh khá phổ biến có thể có nhiều biến chứng nguy hiểmi b T , có s li u còn nêu con s l 2-4% Theo ư c tính, s người ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thểi b T M ị TĐ, có số liệu Đ) là bệnh khá phổ biến có thể có nhiều biến chứng nguy hiểm ở Mỹ đến 5-10% dân số ; ở ỹ đến 5-10% dân số ; ở đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể n 5-10% dân s ; ở Mỹ đến 5-10% dân số ; ở Canada v các nư c Châu Âu v o kho ng 2-5% ; các nả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ư c Châu Phi, n Đ) là bệnh khá phổ biến có thể có nhiều biến chứng nguy hiểmột số axit ribonucleic (ARN) cũng có hoạt tính xúc tác., Indonesia t lỉ lệ

n y l 1-2% Vi t Nam ch a có s li u i u tra c nở Mỹ đến 5-10% dân số ; ở ư đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể ều năm nay người ta đã có thể tách enzim ra khỏi cơ thể ả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ư c nh ng khu v c H N i ư ở Mỹ đến 5-10% dân số ; ở ực Hà Nội ước ột số axit ribonucleic (ARN) cũng có hoạt tính xúc tác ư c kho ng 0,5-1,4% ; th nh ph H Chí Minh có cao h n, v o kho ng 2,5% dân s ả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các ở Mỹ đến 5-10% dân số ; ở ồ Chí Minh có cao hơn, vào khoảng 2,5% dân số ả năng xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các

Trang 4

giúp ta hoàn toàn chủ động về nguồn nguyên liệu để đáp ứng được yêu cầu về sản lượng và

qui mô sản xuất Vì vậy CNSH mở ra những triển vọng to lớn, mới mẽ đối với ngành công nghệ dược phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về các thuốc điều trị nhiều bệnh khác nhau,

kể cả bệnh cúm, ung thư và có thể hi vọng chữa cả bệnh AIDS Theo dự báo, đến năm 2002 doanh số CNSH (tính bằng đôla Mỹ) về các thuốc điều trị bệnh ung thư vào khoảng 3,6 tỉ USD; đến năm 2007 sẽ là 9,935 tỉ USD; còn đối với bệnh AIDS, dự báo đến năm 2002 chỉ đạt

120 triệu USD và đến năm 2007 sẽ đạt 780 triệu USD

Hình về protein từ hạt gấc

Trong việc vận dụng các thành tựu quan trọng của các khoa học sinh học, y học và các

kĩ thuật công nghệ sinh học, đặc biệt là kĩ thuật nuôi cấy mô, đến nay người ta đã thử nghiệm

thành công và chuẩn bị lần lượt đưa vào sản xuất, ở quy mô công nghiệp, sản xuất da người,

mô sụn người và đang nghiên cứu sản xuất các mô, cơ quan khác của người, để thay thế các

mô, cơ quan đã bị lão hoá, bị bệnh và làm trẻ hoá con người Trong các mô thì da và sụn là

những sản phẩm đi trước, do có nhiều thuận lợi hơn về mặt “kĩ thuật mô” và do nhu cầu lớn trên thị trường Sản xuất được da, có ý nghĩa quan trọng trong điều trị bỏng, sẽ khỏi phải “bóc da” ở phần cơ thể lành của chính bệnh nhân, để ghép vào chỗ bỏng; nhu cầu thay thế sụn cũng rất lớn, hàng năm ở Mỹ có khoảng 628.000 ca phẫu thuật sụn Một thuận lợi lớn nữa, là trong các thí nghiệm cấy sụn đã tiến hành, chưa có ca nào bị cơ thể “chối bỏ” Tuy nhiên, việc sản xuất các mô, cơ quan còn phải giải quyết một vấn đề lớn liên quan đến tính miễn dịch của cơ thể, là làm sao để cơ thể bệnh nhân có thể tiếp nhận được mô cơ quan “lạ” mới đưa vào, mà không có phản ứng loại bỏ chúng

Vấn đề khác là giá thành sản xuất hiện còn quá cao, vào khoảng 350 đôla Mỹ cho một miếng da kích thước 5x5 cm, nên sẽ chưa phải là cơ hội cho nhiều người

Tuy nhiên, việc bắt đầu có công nghệ này, sẽ đem lại những kết quả kỳ diệu, phục vụ

kịp thời cho một xã hội đang “lão hoá” với nhiều bệnh tật; phải chăng cũng là những cơ hội mới để tiếp tục phát triển việc cấy ghép nội tạng đã được bắt đầu và thành công ở nước ta?

2 Trong công nghiệp

a/ Mô hình cấu trúc không gian của một

protein (MCoTI-II) tách từ hạt gấc Việt

Nam, có triển vọng ứng dụng trong y học

và nông nghiệp (Biochemistry 2000,

Vol 39: 5722-5730)

b/ Mô hình cấu trúc không gian của một

protein (MCoTI-II) tách từ hạt gấc Việt Nam, có triển vọng ứng dụng trong y học

và nông nghiệp (Biochemistry 2001,

Vol 40: 7973-7983)

Trang 5

Sử dụng các kỹ thuật CNSH để sản xuất hàng loạt các chất vốn có trong thực phẩm tự nhiên hoặc cải biến chúng (tinh bột không có amiloz, chất béo, nhiều axít béo không no v.v )

theo hướng hấp dẫn hơn về mầu sắc, hương vị và đặc biệt là phù hợp với quan điểm dinh

dưỡng hiện đại cho từng đối tượng CNSH có thể tạo các nguồn protein mới, thức ăn mới Ví dụ: sản xuất protein từ các tảo đơn bào và đặc biệt gần đây nhất đã sản xuất “thịt mới” không phải từ động vật, mà bằng cách sử dụng protein của một loại nấm nhỏ (fungi) Fusarium graminearum (lên men nấm này, tách protein của chúng) và chế biến thành sản phẩm trông

giống như thịt

CNSH cũng đã sản xuất được nhiều enzim dùng trong các ngành công nghiệp khác nhau, như công nghiệp chế biến và bảo quản thực phẩm, công nghiệp da, công nghiệp dệt,

công nghiệp mỹ phẩm v.v Các enzim này thường có những đặc tính mới, quí như độ bền cao (chịu được nhiệt độ cao, chịu được môi trường kiềm, axít mạnh v.v ), giá thành thấp hơn khi tách enzim từ mô động vật hoặc thực vật Do đó có khả năng cạnh tranh lớn trên thị trường, mở rộng phạm vi sử dụng và nâng cao hiệu quả ứng dụng enzim trong thực tế

Đến nay có khoảng hơn 10 enzim được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, đặc biệt quan trọng là các enzim thuộc nhóm proteinaz (phân giải protein), glucosidaz (phân giải tinh bột và các xacarit khác) và lipaz (phân giải lipit như dầu, mỡ ăn) Các proteinaz và lipaz chịu được môi trường kiềm có nhu cầu lớn vì được dùng trong công nghiệp sản xuất bột giặt và các chất tẩy rửa khác (làm sạch nhanh các vết bẩn máu mủ, dầu mỡ v.v ) Do đó proteinaz chiếm thị phần lớn trong các enzim bán trên thị trường Glucosidaz (ví dụ các loại amilaz) dùng trong công nghiệp sản xuất rượu, bia, các loại xirô khác và một số còn được dùng trong công nghiệp dệt để tẩy hồ vải

Mấy năm nay, người ta cũng sử dụng enzim để tạo ra các điện cực sinh học

(Bioelectrode), các enzim có độ bền cao sẽ được ứng dụng thuận lợi trong lĩnh vực này

3 Trong nông nghiệp

CNSH tạo những bước đột phá ở nhiều khâu trong quá trình sản xuất: tạo giống mới có những đặc tính quí, nhân giống nhanh, sản xuất phân bón sinh học, cải tạo đất, nước, sản xuất các chế phẩm sinh học bảo vệ cây trồng, vật nuôi, bảo quản và chế biến nông sản, khai

thác hợp lý với hiệu quả cao các phế phụ liệu nông lâm ngư nghiệp v.v Dưới đây chỉ nêu một số ví dụ về việc tạo giống mới và nhân nhanh giống cây

CNSH đã cải biến di truyền một số cây trồng, vật nuôi có được các tính trạng mong muốn và có thể di truyền các đặc tính mới này cho các thế hệ tiếp theo Ví dụ các cây trồng có

tính chống chịu cao với các điều kiện môi trường bất lợi (hạn, lạnh, muối v.v ), có tính kháng sâu, kháng thuốc diệt cỏ ; có sản lượng và chất lượng cao Vì vậy diện tích trồng các cây đã

được cải biến gien (GM) ngày càng tăng nhanh (tính bằng triệu hecta): năm 1998 là 27,8 ;

1999 là 39,9 ; 2000 là 44,2 và năm 2001 đạt 52,6 triệu ha (theo Crop Biotech Net, 10/1/2002), tăng hơn 30 lần so với năm 1996 Phần lớn diện tích trồng cây GM thuộc các nước công nghiệp như Mỹ, Canada: năm 1997 chiếm 86%, năm 2000 chiếm 76%, trong khi ở các nước đang phát triển chỉ đạt 14% (1997) và 24% (2000) tổng diện tích trồng cây GM trên toàn cầu Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), sử dụng công nghệ chuyển gien cho cây lúa

mì và lúa có thể làm tăng sản lượng lúa của Châu á lên 10-25% trong thập kỷ tới

Diện tích trồng các cây GM có tính kháng cao, với các yếu tố gây hại tính theo % tổng diện tích trồng các cây GM năm 2000 như sau (Clive James Crop Biotech Brief Vol.1(2), 2001) đậu tương kháng thuốc diệt cỏ là 58% ; ngô (có gen Bt) kháng côn trùng 15% Ngoài

ra, cũng đã tạo được các giống ngô, bông vừa kháng côn trùng (có gen Bt) vừa kháng thuốc diệt cỏ, nhưng diện tích trồng cả 2 loại cây này mới chiếm 3%

Song song với việc chuyển gen Bt vào cây, người ta cũng đã tạo các vi sinh vật tái tổ hợp mang gen Bt, hoặc gen mã hoá các protein khác (PPI, protein ức chế amilaz hay protein bất hoạt ribosom) có tác dụng diệt côn trùng PPI phổ biến rộng rãi ở thực vật, tham gia vào

Trang 6

cơ chế tự bảo vệ của cây chống lại sự tàn phá của nhiều loại kẻ thù trong tự nhiên Vì vậy việc

sử dụng PPI theo các cách khác nhau làm thuốc bảo vệ thực vật là hướng mới ngày càng được nhiều người quan tâm Trong hơn 10 năm nay, người ta cũng đã thử chuyển một số gen của một vài PPI vào bộ gen của khoảng 15 cây khác nhau và cũng đã đạt được những kết quả nhất định Hướng nghiên cứu này cũng đang được triển khai ở nước ta trong giai đoạn 2001-2004 (KC-04-14)

Ngoài ra, người ta cũng đã tạo được các giống cà chua chịu được mặn, có thể sinh

trưởng và ra quả khi dùng nước tưới có nồng độ muối cao gấp 50 lần bình thường, tương đương với độ mặn của nước biển pha loãng khoảng gần 3 lần Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nếu lưu ý đến hiện tượng mặn hoá đất nông nghiệp đang diễn ra ngày càng tăng

Với kỹ thuật chuyển gen, cũng đã tạo được các giống cà chua chậm bị chín mềm, để tiện vận

chuyển đi xa; các giống đu đủ, khoai tây, bí, cà chua kháng virut Tiếp theo các cây GM có tính chống chịu cao là các cây GM có chất lượng dinh dưỡng cao hơn, để góp phần giải quyết các bệnh suy dinh dưỡng do thiếu chất Ví dụ đã chuyển các gien tổng hợp -caroten (tiền chất của vitamin A) vào cây lúa, có thể làm tăng chất lượng bữa ăn cho 180 triệu trẻ em bị thiếu vitamin A, bệnh mà hàng năm làm chết 2 triệu trẻ em

Tổng giá trị các cây GM trên thị trường thế giới tăng lên nhanh chóng: năm 1995 là : 75 triệu đô la Mỹ, đến năm 1998 đã đạt 1064 triệu đô la Mỹ

Sử dụng các kỹ thuật mới như kỹ thuật nuôi cấy mô để nhân nhanh giống cây trồng Ví

dụ: áp dụng kỹ thuật này, chỉ riêng 600 công ty lớn trên thế giới có thể nhân khoảng 500 triệu cây giống trong 1 năm với 50.000 giống cây trồng khác nhau Ước tính thị trường cây giống trên thế giới nhận được bằng kỹ thuật nuôi cấy mô trong năm 1997 đạt khoảng 15 tỉ đôla Mỹ

và dự báo tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 15%

Trong những năm gần đây, đã có những cải thiện quan trọng về kỹ thuật công nghệ nuôi cấy mô, cho phép nhân giống nhanh một số cây lâm nghiệp, cây thân gỗ ăn quả, cây tre v.v Người ta cũng đã có thể dùng bình phản ứng sinh học ( Bioreactor) nhân giống bằng phôi vô tính, với công suất nhân giống tăng lên nhiều lần

Tuy nhiên khi áp dụng kỹ thuật nuôi cấy mô để tạo cây giống, cần khảo nghiệm cẩn thận về chất lượng cây trưởng thành, chất lượng sản phẩm của chúng, trước khi triển khai đại trà, để tránh thiệt thòi cho người sử dụng cây giống này Điều này còn cần được đặc biệt lưu ý đối với các cây thuốc, cây hương liệu v.v

Tóm lại, có thể nói kỹ thuật gen là một công cụ mạnh để các nhà Di truyền, Hoá sinh,

Vi sinh, Tế bào cùng nhau giải quyết những vấn đề của y học, nông nghiệp, công nghiệp và bảo vệ môi trường Cũng vì vậy mà trong nghị quyết 18/CP của chính phủ ban hành ngày

11/3/1994 đã ghi rõ cần có kế hoạch “đào tạo cán bộ CNSH thuộc các chuyên ngành và các trình độ khác nhau tại các trường Đại học trong nước và ở nước ngoài nhằm phục vụ việc

phát triển CNSH”

II Những thách thức và nguy cơ đang được tranh luận

Từ một số ít ví dụ nêu trên, cũng đã có thể thấy những lợi ích hiển thị mà CNSH đem

lại CNSH đã tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong nhiều lĩnh vực, đang rất hấp dẫn đối với

việc giải quyết vấn đề an ninh lương thực trên thế giới, nhưng còn chưa hấp dẫn về mặt an toàn sinh học và trong một số trường hợp có người còn băn khoăn có thể nảy sinh cả vấn đề

an toàn xã hội Hiện còn có các ý kiến khác nhau như sau: việc làm thay đổi gien di truyền,

đưa các cơ thể đã được cải biến di truyền (GM) vào môi trường phục vụ trồng trọt, chăn nuôi,

công nghiệp, y tế v.v cũng như việc sử dụng các sản phẩm của chúng, liệu có ảnh hưởng gì đến sức khoẻ của chúng ta và các thế hệ con cháu không ? Đây là vấn đề nổi cộm nhất, đang

được quan tâm rộng rãi ở nhiều nước, từ trong công chúng, các thương nhân, các nhà khoa học đến các nhà quản lý cấp quốc gia Đã có nhiều hội thảo quốc tế và cả những dự án quốc tế nhằm mục tiêu tìm đến những sự thống nhất, những giải pháp hài hoà, những thoả thuận được

Trang 7

ký kết, giữa các nước đang được thực hiện.

Những thách thức và nguy cơ thường được nêu:

1 Tăng khoảng cách giầu nghèo giữa Bắc và Nam

Do CNSH các nước phát triển có thể tạo ra các sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới với giá thấp hơn, cạnh tranh với sản phẩm sản xuất theo công nghiệp truyền thống ở các nước đang phát triển Ví dụ các mặt hàng xuất khẩu có giá trị của các nước nhiệt đới như vani, coca, đường, dầu của các thực vật nhiệt đới, đang bị đe doạ bởi những sản phẩm cùng loại được sản xuất theo phương thức CNSH, với giá rẻ hơn ở các nước phát triển Nguồn thu nhập từ xuất khẩu sẽ bị giảm, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của các nước đang phát triển Đây cũng là vấn

đề làm cho chính phủ các nước đang phát triển, cần phải suy nghĩ để cải tiến quản lý, đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, có kế hoạch dài hạn thích hợp

Mặt khác cũng có ý kiến cho rằng “các nước Bắc”, cần đền bù thoả đáng cho “các nước

Nam” về việc khai thác các nguồn gen của các nước này Việc trả phí này đã được ghi nhận ở Hội nghị Rio về đa dạng Sinh học, nhưng đến nay còn chưa có được những qui định rõ ràng

cụ thể

2 Tăng chênh lệch thu nhập và phân phối phúc lợi xã hội

Các cơ sở nghèo khó có đủ điều kiện để tiếp cận, với những phương pháp CNSH hiện đại Những cở sở có đủ điều kiện tiếp cận, có thể sẽ càng thu được nhiều lợi nhuận hơn Do

đó song song với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Nhà nước cần có chính sách thích hợp để tạo điều kiện thuận lợi hơn, cho việc tiếp thu, áp dụng các thành tựu CNSH

3 Mất đa dạng sinh học

Còn nhiều ý kiến thảo luận khác nhau về vấn đề này Có ý kiến cho rằng việc đưa vào môi trường các loại cây kháng thuốc trừ cỏ, đặc tính này có thể sẽ được truyền sang cho những loài tương cận, làm cho chúng cũng kháng thuốc diệt cỏ, như vậy sẽ làm xuất hiện các loại tạp trên cánh đồng cạnh tranh với cây trồng, ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản lượng mùa màng Vì vậy trong mấy năm gần đây, thay vì đưa gen có tính trạng mong muốn vào ADN của nhân tế bào, người ta đã nghiên cứu thử nghiệm đưa gen này vào ADN của diệp lục Như vậy nó sẽ không truyền vào hạt phấn, và sẽ tránh được hiện tượng chuyển các gen mới của cây GM sang các loại cây khác Thí nghiệm này đã thành công với cây cà chua trồng trong phòng thí nghiệm Thành tựu này mở ra những cơ hội cho việc áp dụng kỹ thuật di truyền để tạo các sản phẩm y dược, các thực phẩm của cây GM, dễ được công chúng chấp nhận hơn

- Do tính chất ưu việt của các cây chuyển gen, người ta đua nhau trồng các loài mới này, những loài khác sẽ tự mất đi do đó giảm tính đa dạng sinh học Có tài liệu đã nêu có đến 40% diện tích trồng ngô của Mỹ, chỉ sử dụng 6 loài ngô có chuyển gen

Tính đa dạng sinh học, đa dạng di truyền là vấn đề rất quan trọng đối với việc giữ cân bằng sinh thái môi trường Nguồn tài nguyên sinh học đa dạng có thể cung cấp những nguồn cây thuốc, cây thực phẩm và các cây có hoạt tính sinh học quí giá khác Vì vậy, chúng được các nhà chọn giống, đặc biệt quan tâm sử dụng làm vật gốc để tạo các sản phẩm, các loài mới, hoặc chế biến thành các sản phẩm Các nước Châu Âu đã rất chú ý đến việc thu thập các loài thực vật quí từ nước ngoài vào nước họ ở Anh các loại được thu thập từ các nước về, nhiều hơn các loại bản địa

Tài nguyên sinh học đa dạng của các nước “thế giới thứ ba” thường bị các nước giàu khai thác kiếm lợi lớn, trong khi các nước có nguồn tài nguyên này lại không nhận được gì

Việc thu thập như vậy là “vi phạm quyền sở hữu sinh học” (Biopiracy) Một ví dụ rõ ràng là việc sử dụng cây Neem Cây này đã được sử dụng ở ấn độ làm thuốc trừ sâu và làm thuốc cổ truyền từ hàng thế kỷ, nhưng công ty W.R.Grace của Mỹ lại đã được công nhận bằng sáng chế về quá trình mới chế biến dịch chiết từ cây này để làm thuốc trừ côn trùng Một hiệp định

Trang 8

về đa dạng sinh học đã được ký tại Rio de Janeiro năm 1992, nhưng đến 1996 Mỹ chưa phê chuẩn

Nước ta có hệ thực vật khá đa dạng và phong phú Theo ước tính của các nhà thực vật,

số thực vật bậc cao có mạch ở nước ta chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% số họ của toàn thế giới Mấy năm gần đây, đã xảy ra việc khai thác ồ ạt trái pháp luật, các tài nguyên sinh vật, do đó một số loài cây, con quí trước đây phổ biến, nay đã cạn kiệt Đặc biệt là các cây thuốc, cây có chứa các chất có hoạt tính sinh học quí, như củ bình vôi,

sâm, quế Vì vậy cần sớm ban hành văn bản pháp luật về “tiếp cận và chia sẻ lợi ích tài nguyên di truyền thực vật” về “sở hữu trí tuệ”,về “lợi ích vật chất” để bảo vệ quyền lợi của người chủ các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học về sở hữu trí tuệ, về lợi ích vật chất.

4 Vấn đề sử dụng các sản phẩm của cơ thể chuyển gen

Nhiều người cho rằng, do cơ thể bị cải biến gien (GMO) mới được sử dụng, nên đến

nay chưa thể biết đầy đủ những hậu quả lâu dài của nó Nếu có những đột biến không mong

muốn, xảy ra đối với một số trong các gien này, có thể làm cho các loài đó yếu đi, dễ bị bệnh, như đã thấy ở một số loại ngô Nhiều cộng đồng dân cư đã phản ứng mạnh với việc sử dụng

các GMO trong nông nghiệp Người ta đòi hỏi phải có những bằng chứng, chắc chắn rằng các sản phẩm GMO là an toàn đối với sức khoẻ của người và môi trường Thoả thuận trước

tiên đạt được ở một số nước Châu Âu và mới đây ở Nhật bản là phải ghi rõ trên sản phẩm

dòng chữ sản phẩm GMO.

Vấn đề chuyển giao các GMO, giữa các nước cũng cần có những sự đàm phán ký kết Các nước cần có những biện pháp, để tiếp cận và kiểm soát những nguy cơ có thể xảy ra liên

quan với GMO, bảo đảm được an toàn sinh học (biosafety) để khỏi phải nhận những gì có hại, hoặc đang trong quá trình thử nghiệm,chưa có gì chắc chắn.

Những nước có nền công nghiệp CNSH phát triển, đều có hệ thống luật pháp chặt chẽ,

để bảo đảm việc chuyển giao, mua bán, sử dụng an toàn các GMO và các sản phẩm của chúng

Các nước đang phát triển như nước ta, cũng đã đến lúc cần có thái độ, quan điểm chính thức của chính phủ về vấn đề GMO Xây dựng các qui tắc có tính chất pháp lý, phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng phải bảo đảm được lợi ích của dân tộc Làm thế nào để biết được các nông sản, giống cây trồng, vật nuôi, chế phẩm VSV đưa vào nước ta qua các con đường khác nhau (nhập lậu, tiểu ngạch, qua các nhà khoa học hoặc con đường chính thức) có phải là sản phẩm của GMO hay không, quả là không dễ dàng đối với chúng ta hiện nay Làm thế nào để

người tiêu dùng có thể có quyền được lựa chọn một cách tự nguyện? nghĩa là sản phẩm phải

được đánh dấu Để thực hiện được, có lẽ cần có sự trung thực vì lợi ích chung, được tạo điều kiện để kiểm soát, trước hết là của các cán bộ KHCN, sự kiểm soát của các cơ quan quản lý, các Bộ liên quan, Cục vệ sinh an toàn thực phẩm

Làm được như vậy, một mặt là để bảo đảm an toàn sinh học, đồng thời cũng là để bảo

vệ quyền sở hữu trí tuệ, một yếu tố quan trọng trong điều kiện phát triển và mở rộng hợp tác quốc tế hiện nay, khi tham gia vào tổ chức thương mại thế giới

Một số nước đã cố gắng kiểm soát nghiêm ngặt, thậm chí cấm việc thả vào môi trường

tự nhiên những VSV đã qua thao tác gen

CNSH Việt Nam đang ở những bước chập chững trên con đường phát triển Mặc dù đã

có nghị quyết của chính phủ về “Phát triển CNSH ở Việt Nam đến năm 2010” (NQ 18/CP), việc làm sáng tỏ thêm những quan điểm chính thức của chính phủ, về một số vấn đề cụ thể, là hết sức cần thiết để định hướng, tạo dư luận thống nhất cao trong nhân dân trước những “vấn đề” của CNSH, nhằm làm cho CNSH Việt Nam phát triển nhanh và đúng hướng

Mặt khác, cũng cần xác định đúng vai trò của các “khoa học thành viên” của CNSH, trong việc phát triển ứng dụng các thành tựu liên ngành trong CNSH, để định hướng xây dựng, xác định phương thức, địa chỉ đầu tư, đạt đến hiệu quả đầu tư cao nhất từ nguồn vốn

Trang 9

hạn hẹp của Nhà nước, cũng như huy động được ngày càng nhiều các nguồn vốn khác, trong

và ngoài nước, đầu tư vào ngành công nghệ mũi nhọn này

iii. vài nét về công nghệ sinh học phục vụ sản xuất và đời sống

Nhận thức được vai trò quan trọng của CNSH đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngoài việc chú ý đào tạo nguồn nhân lực CNSH, từ 1986 đến nay đã hình thành các chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước về CNSH với mục tiêu chủ yếu: phục vụ phát triển nông lâm ngư nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người Chính phủ cũng đã ban hành nghị quyết về “Phát triển CNSH ở Việt Nam đến năm 2010” (NQ 18/CP ngày 11/03/1994) tăng cường đầu tư trang thiết bị cho các cơ sở nghiên cứu CNSH, cũng như tăng kinh phí nghiên cứu cho các công trình nghiên cứu Nhà nước về CNSH Trong giai đoạn 19962000, kinh phí này là khoảng 23,6 tỷ (27 đề tài) ; giai đoạn I của 20012005 là 47,5 tỷ (17 đề tài)

Việc tăng cường đầu tư đã đem lại những kết quả nhất định Năm năm qua đã có 36 kết quả nổi bật được áp dụng với nhiều mức độ khác nhau vào sản xuất và đời sống, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, giải quyết chắc chắn từng bước, từng loại công nghệ

có tính khả thi cao, tạo các sản phẩm cụ thể, bắt đầu được xã hội chấp nhận Có thể tóm tắt một số kết quả chính như sau:

1.Tạo giống

Đã sử dụng công nghệ tế bào, công nghệ gen tạo được các giống lúa kháng sâu, kháng đạo ôn, chịu hạn; đang tiếp tục thử nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau, có giống đã đạt năng suất từ 49 đến 60 tạ/ha và được phép mở rộng sản xuất thử ở quy mô lớn (DR3)

Đã tạo được tập đoàn giống cây có múi sạch các bệnh, kể cả các bệnh nguy hiểm nhất (Tristeza và greening) Đã tạo được giống cây tứ bội thể, tam bội thể, là cơ sở quan trọng để tạo giống cây ăn quả không hạt

Sử dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật, nhân giống qui mô lớn, một số cây phục vụ tái sinh rừng như Teak, cà phê, keo, tre, trúc v.v

2 Các chế phẩm bảo vệ cây trồng vật nuôi

Đã sản xuất được vacxin nhũ hoá gumboro VN-97 cho gà con , vacxin đa giá chỉ cần một mũi tiêm có thể phòng 3 bệnh cho lợn (dịch tả, phó thương hàn, tụ huyết trùng) Ngoài ra cũng đã sản xuất bộ kĩ thuật chẩn đoán nhanh bệnh bủng tằm; kĩ thuật chuẩn đoán ELISA các virut, vi khuẩn, nấm gây bệnh cây ở Việt Nam

C ác chế phẩm bảo vệ cây trồng: ngoài việc tiếp tục nghiên cứu cải tiến hoàn thiện quy

trình sản xuất chế phẩm sinh học truyền thống Bt và mở rộng việc sử dụng chúng, cả trong bảo quản nông sản, mấy năm gần đây đã nghiên cứu thành công một số chế phẩm mới

Sử dụng các kĩ thuật hoá sinh hiện đại, lần đầu tiên (không chỉ ở Việt Nam) đã phát hiện, nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất ở quy mô pilot chế phẩm MOMOSERTATIN từ hạt gấc và chế phẩm hỗn hợp MH Đã thử nghiệm dùng chúng trên 7 ha rau họ thập tự, đạt hiệu lực trừ sâu từ 6070% , chỉ cần thời gian cách li trước khi thu hoạch 24ngày

Một số chế phẩm hoá sinh khác, sản xuất từ các cây cỏ phổ biến ở Việt Nam như chế phẩm MT1 trừ rầy chổng cánh , nhện đỏ hại cam, vạn tuế Mấy năm qua cũng đã áp dụng thành công việc sản xuất chế phẩm từ tuyến trùng (EPD) có tác dụng diệt nhiều loại sâu với hiệu lực trừ sâu 5087% Đã hoàn thiện công nghệ sản xuất các chế phẩm NPV ở dạng bột dễ vận chuyển, chế phẩm hỗn hợp NPV-V-Bt; chế phẩm nấm Metarhizium, nấm Bauverina bassiana, đạt hiệu lực trừ sâu tơ hơn 70%

Một số chế phẩm bảo quản nông sản mới, như chế phẩm Iturin A, BACNA đã được thử nghiệm ở quy mô hộ gia đình, cục dự trữ quốc gia, đạt kết quả tốt

Ngoài các chế phẩm sinh học mới trừ sâu, trừ mọt hại kho nêu trên, cũng đã nghiên cứu

Trang 10

sản xuất được các KIT kháng huyết thanh PRSV, TMV, CMV phục vụ chẩn đoán các virus,

vi khuẩn, nấm gây bệnh ở cây trồng

3 Xử lý ô nhiễm môi trường và sản xuất phân bón bằng biện pháp sinh học

Sản xuất chế phẩm vi sinh vật xử lý rác thải hữu cơ rắn (EMUNI), phân huỷ vỏ cà phê (Microcom); hoàn thiện công nghệ lên men để làm sạch nước thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi

Xây dựng một số quy trìmh công nghệ sản xuất phân vi sinh vật hỗn hợp có khả năng cố định nitơ, phân giải lân, thích hợp cho từng loại cây trồng như lúa, đậu, cây lâm nghiệp Kết quả thử nghiệm cho thấy làm tăng năng suất lúa 11.5%

Sản xuất và thử nghiệm thành công các chế phẩm vi khuẩn làm sạch ô nhiễm dầu mỏ, vi khuẩn tăng hiệu lực sản xuất compost

4 Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Nghiên cứu áp dụng kĩ thuật ADN để chẩn đoán một số bệnh ung thư vòm, sốt rét, viêm gan B, teo cơ, bệnh thiếu máu -thalasemia, chẩn đoán giới tính, xác định huyết thống trong pháp y và hình sự

Nghiên cứu sản xuất một số chế phẩm bồi dưỡng sức khoẻ giàu vitamin A và vitamin E; các chế phẩm tăng lực từ hải sâm và rắn biển

Tóm lại các kết quả nghiên cứu đã tạo ra được các sản phẩm công nghệ cao, mang tính đặc thù Việt Nam, trong đó có những sản phẩm và công nghệ mới, không chỉ riêng đối với Viêt Nam

Trong thời gian tới (20012005), chương trình “Nghiên cứu khoa học và phát triển CNSH”(KC-04) nhằm các mục tiêu: tiếp tục xây dựng tiềm lực về CNSH làm cơ sở để tiếp nhận, thích nghi, làm chủ, cải tiến và phát triển CNSH; phát triển các công nghệ cơ bản làm

cơ sở cho nghiên cứu phát triển các công nghệ sản phẩm; áp dụng CNSH hiện đại phục vụ phát triển nông nghiệp, y tế và xây dựng nền công nghiệp sinh học

IV kết luận

Những thành tựu to lớn của Khoa học, của CNSH trong thế kỷ 20 như việc tạo được cơ thể sống (cừu Dolly), cơ quan và mô người trong môi trường nhân tạo, giải mã bộ gen người v.v không những chỉ có giá trị to lớn về mặt khoa học mà còn là một minh chứng về

sự thành công của sự kết hợp, liên kết đa ngành trong nghiên cứu khoa học Đó cũng là một

dự báo về xu hướng phát triển Khoa học của thế kỷ XXI

Sự hội nhập và tận dụng các tiến bộ, thành tựu của các ngành CNSH, CNTT và CN vật liệu mới, chắc chắn sẽ đem lại những thành quả vĩ đại trong việc sử dụng các hệ thống sống, các thiết bị mô phỏng hệ thống sống, trong các quá trình sản xuất phục vụ lợi ích của nhân loại

Trong hoàn cảnh đang phát triển của nước ta, lại phải nhanh chóng hội nhập vào môi trường Khoa học Công nghệ phát triển như vũ bão của thế giới, thiết nghĩ cần tạo điều kiện để mọi giới, cả các cán bộ Khoa học và Công nghệ cũng như những cán bộ quản lý các cấp, những người làm chính sách có thể kịp thời cập nhật được những thông tin toàn diện, phân tích đầy đủ những mặt tích cực cũng như những rủi ro, hạn chế, để có thể khai thác, tận dụng

mọi lợi ích của các phát minh Khoa học và Công nghệ, đồng thời tránh cho nước ta trở thành

nơi thử nghiệm khoa học không tự nguyện.

Những kết quả nghiên cứu CNSH trong thời gian qua của nước ta, ở những mức độ khác nhau đều phục vụ trực tiếp các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và đã đạt được những kết quả nhất định Trong thời gian tới, cần có các chính sách mang tính đột phá,

để tăng vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước cho CNSH, tổ chức tốt hơn việc triển khai, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tế, bảo vệ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ, đối với các công trình nghiên cứu CNSH, tạo điều kiện cho CNSH Việt Nam hội nhập cùng thế

Ngày đăng: 14/01/2013, 11:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình về protein từ hạt gấc - Công nghệ sinh học những cơ hội và thách thức
Hình v ề protein từ hạt gấc (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w