1. Trang chủ
  2. » Tất cả

thị truong lao dong

26 207 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thất nghiệp và dịch vụ việc làm ở tỉnh Bình Dương
Tác giả Cao Thành Hưng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Luật
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 872 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thất nghiệp tạm thời Là tình trạng không có việc làm ngắn hạn do không có đầy đủ thông tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập không thực tế hoặ

Trang 1

MỤC LỤC



Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU



Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã không ít tạo ra những

sự nhảy vọt về mọi mặt, đã đưa nhân loại tiến xa hơn nữa Trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được một số thành tựu phát triển rực rỡ về khoa học kỹ thuật, các ngành như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu, lương thực thực phẩm sang các nước Đằng sau những thành tựu chúng ta đã đạt được, thì cũng có không ít vấn đề mà Đảng và nhà nước ta cần quan tâm như: Tệ nạn xã hội, lạm phát,thất nghiệp Song với hạn chế của bài viết mà chúng ta không thể phân tích kỹ từng vấn đề đang xảy ra trong xã hội như hiện nay được Nhưng có lẽ vấn đề được quan tâm hàng đầu ở đây có lẽ là thất nghiệp

Thất nghiệp, đó là vấn đề cả thế giới cần quan tâm Bất kỳ một quốc gia nào dù nền kinh tế có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại thất nghiệp đó là vấn đề không tránh khỏi chỉ có điều là thất nghiệp đó ở mức độ thấp hay cao mà thôi Với thời gian không cho phép chính vì thế mà bài viết này chúng ta chỉ đề cập đến tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam.Thất nghiệp , nó còn kéo theo nhiều vấn đề đằng sau:Sẽ dẫn đến tình trạng làm giảm nền kinh tế,sự gia tăng của các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, làm sói mòn nếp sống lành mạnh, phá vỡ nhiều mối quan hệ tạo ra sự lo lắng cho toàn xã hội

NỘI DUNG

Trang 3

PHẦN I GIỚI THIỆU CHUNG

Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, có 28 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó nhiều khu công nghiệp đã cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần I, Sóng Thần II, Đồng An, Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, VSIP - Việt Nam Singapore, Mỹ Phước 1, 2, 3, 4 và 5, thu hút đầu tư nước ngoài Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút 938 dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3,483 triệu USD và 225 dự án đầu tư trong nước có số vốn 2.656 tỉ đồng Nhằm tăng

sự thu hút đầu tư; hiện nay địa phương này đang tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tiến độ thi công các khu công nghiệp mới để phát triển công nghiệp ra các huyện phía Bắc của tỉnh (Mỹ Phước 1,2,3; 6 khu công nghiệp trong Khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị Bình Dương, Tân Uyên) Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu

tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2006, tỉnh đã có 1.285 dự án FDI với tổng số vốn 6 tỷ 507 triệu USD.Năm 2007, tỉnh Bình Dương đặt mục tiêu thu hút trên 900 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 2,5 lần so với năm ngoái Vào năm 2006, một cuộc điều tra về "Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)" đã được gửi tới 31.000 doanh nghiệp trên phạm vi 64 tỉnh, thành và nhận được sự hợp tác rất tích cực từ các doanh nghiệp, đã thực sự phản ánh sát thực nguyện vọng của các doanh nghiệp trong xu thế hội nhập

Bình Dương còn là đất của nhiều làng nghề truyền thống với các nghệ nhân bàn tay vàng điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và tranh sơn mài Từ xa xưa các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài và điêu khắc của Bình Dương đã tham gia hội chợ quốc tế, đồng thời cũng đã xuất khẩu sang Pháp và nhiều nước trong khu vực

Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VIII năm 2006 đã nêu mục tiêu phấn đấu thời kỳ 2006-2010 về kinh tế-xã hội của tỉnh như sau:

Trang 4

-Tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm là 15%

-Quy mô GDP (giá hiện hành) đến năm 2010 đạt khoảng 45.800 tỷ đồng, tương đương 2,9 tỷ Đôla Mỹ

-GDP bình quân đầu người đạt khoảng 30 triệu đồng

-Cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp: 65,5%; dịch vụ: 30%; nông nghiệp: 4,5% -Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 14-15%/năm

-Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cả thời kỳ đạt 3 tỷ USD

-90% trường trung học phổ thông, tiểu học đạt chuẩn quốc gia

-Phổ cập giáo dục bậc trung học

-95% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế

-Tỷ lệ hộ nghèo còn 2,5% (theo chuẩn mới của tỉnh 400.000 đồng/người/tháng đối với nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng đối với thành thị)

Theo mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, để nước ta cơ bản trở thành nước công

nghiệp theo hướng hiện đại thì nông nghiệp giảm xuống còn 15-16%, công nghiệp và xây dựng 43-44%, dịch vụ 40-41%

Với tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp luôn ở mức cao như hiện nay là

35%/năm (2001-2005) thì Bình Dương sẽ là một trong những tỉnh về đích trước và sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại

Tuy nhiên, là một tỉnh phát triển mạnh về kinh tế, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nhưng lại có tỷ lệ người đăng ký thất nghiệp cao nhất nhì cả nước

Vậy tỉnh Bình Dương phải làm gì để giải quyết tình trạng này?

PHẦN II THẤT NGHIỆP

Trang 5

I KHÁI NIỆM

1 Thất nghiệp là gì?

Trước khi nói về vấn đề thất

nghiệp, chúng ta phải biết thất nghiệp là

gì?

Thất Nghiệp: Có nghĩa là bộ phận

lực lượng lao động không được thuê

mướn (không có việc làm)

Trong kinh tế học, thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (từ Hán-Việt thất: mất mát, nghiệp: việc làm) Tỷ lệ thất nghiệp

là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội

Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công nghiệp hóa

Ở nông thôn, mặc dù có tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp một phần, làm việc ít thời gian ở nông thôn, nhưng thất nghiệp không bị coi là vấn đề nghiêm trọng

Một khái niệm liên quan là Những người lao động bất mãn (Discouraged Workers) Một người có khả năng làm việc nhưng không muốn làm hay không đi tìm một công việc thì được hiểu là người lao động bất mãn Những người lao động bất mãn không được tính vào lực lượng lao động và vì thế cũng không giải thích cho các số liệu về thất nghiệp Vì thế tình trạng thất nghiệp thực tế có thể còn tồi tệ hơn là số liệu được mô tả bằng các số liệu thất nghiệp chính thức

2 Các loại thất nghiệp:

Có rất nhiều loại hình thất nghiệp Sau đây xin nêu ra ba loại hình thất nghiệp tiêu biểu : thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp nhu cầu

Trang 6

2.1 Thất nghiệp tạm thời

Là tình trạng không có việc làm ngắn hạn do không có đầy đủ thông tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập không thực tế hoặc liên quan đến sự di chuyển của người lao động giữa các doanh nghiệp, giữa các vùng và lĩnh vực kinh tế

2.2 Thất nghiệp cơ cấu

Là tình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do không phù hợp về qui mô

và cơ cấu cũng như trình độ của cung lao động theo vùng đối với cầu lao động (số chỗ làm việc) Sự không phù hợp có thể là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía cung của lực lượng lao động

Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà GDP tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí còn trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo và với những thành phố lớn

2.3 Thất nghiệp nhu cầu

Là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do giảm tổng cầu về lao động

và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái, dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm.Thất nghiệp nhu cầu xuất hiện trong những năm đầu của cuộc cải cách kinh tế ở nước

ta (1986 - 1991) và gần đây có xu hướng tăng lên do đình đốn, ứ đọng sản phẩm ở một số ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng của khủng hỏang kinh tế thế giới, đồng thời với đó là quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước và dôi dư lao động

II TÌNH HÌNH THỰC TẾ HIỆN NAY Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG

Trang 7

Một thực tế được Bộ LĐ-TB-XH thừa nhận là ở một số nơi, thị trường lao động phát triển, thậm chí đang thiếu lao động, lại có số người thất nghiệp nhiều nhất Điển hình như TPHCM có gần 16.000 người được công nhận là thất nghiệp, Bình Dương có 10.513

người, Đồng Nai 3.786 người, Long An 2.273 người

Bình Dương là tỉnh có tỷ lệ người đăng

ký thất nghiệp cao nhất nhì cả nước Thống

kê của Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Bình Dương, từ đầu năm đến nay, tỉnh có hơn 41.000 lao động đăng ký thất nghiệp Tính ra mỗi tháng, có hơn 4.000 người mất việc làm

Đáng nói là trong khi lượng người đăng ký thất nghiệp ở mức cao, thì các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương lại luôn trong tình trạng thiếu lao động

Trong khi mỗi tháng có khoảng 4.000 người đăng ký thất nghiệp, thì cũng mỗi tháng các doanh nghiệp cần tuyển đến 15.000 lao động Trong phiên giao dịch việc làm diễn ra giữa tháng 11 vừa qua, 400 doanh nghiệp tham gia, với nhu cầu tuyển dụng gần 15.500 lao động, khi chỉ có 2.800 lao động dự phiên giao dịch này

Ở những nơi đang thiếu lao động như Bình Dương lại có số người thất nghiệp nhiều nhất

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Dương có 16 khu công nghiệp với diện tích 3.270 ha và 1 khu liên hợp công nghiệp dịch vụ đô thị với diện tích 4.190 ha đang triển khai Phát triển công nghiệp và đô thị hoá đã góp phần làm cho kinh tế của tỉnh tăng trưởng nhanh, nhưng vẫn còn nhiều nông dân trở nên thất nghiệp Sau khi ăn hết số tiền hỗ trợ thu hồi đất của Nhà nước, họ rơi vào nghèo đói

Trang 8

Ba điểm đăng ký thất nghiệp ở Bình Dương mỗi tháng tiếp nhận khoảng 4 nghìn lao động đăng ký thất nghiệp Từ đầu năm đến nay, nơi đây tiếp nhận khoảng 40 nghìn trường hợp đăng ký thất nghiệp và đã ra quyết định cho khoảng 17 nghìn lao động hưởng trợ cấp với số tiền hơn 52 tỷ đồng Trong khi đó, năm 2010 tỉnh Bình Dương chỉ có hơn 49,5 nghìn người đến Trung tâm Giới thiệu việc làm đăng ký thất nghiệp thì năm nay con số thất nghiệp đã nhảy vọt.

III TÁC HẠI CỦA THẤT NGHIỆP

Thất nghiệp không chỉ gây ảnh hưởng đến sản xuất của doanh nghiệp, đến việc làm của người lao động, mà còn tác động đến sự ổn định xã hội

Thất nghiệp sẽ dẫn tới rất nhiều thứ:

Đối với xã hội:

-Thất nghiệp dẫn đến nghèo đói và khiến sức mua bị giảm, thị trường bị thu hẹp qua đó sẽ ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của các công ty sản xuất và dịch vụ nói riêng và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của tỉnh Bình Dương nói chung;

- Nguồn thu từ thuế thu nhập giảm;

- Tình trạng bất ổn định xã hội gia tăng; tỷ lệ tội phạm trong tỉnh tăng;

- Các chi phí an sinh, trợ cấp xã hội sẽ tăng Nếu tỷ lệ trợ cấp xã hội này khá lớn thì đây là một khoản chi không nhỏ cho tỉnh Bình Dương;

- Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự phát triển bền vững của tỉnh

- Cuối cùng thất nghiệp là dấu hiệu của sự đi xuống của nến kinh tế của tỉnh Bình Dương

sẽ gây lo ngại cho các nhà đầu tư và đồng tiền cũng như giá trị của thị trường chứng khoán

sẽ bị giảm đi đáng kể

Đối với cá nhân:

- Thất nghiệp gắn liền với đói nghèo, đời sống và sức khỏe không đảm bảo;

Trang 9

- Tạo ra sự khủng hoảng tâm lý và tinh thần kéo dài, làm giảm lòng tin vào xã hội và bản thân

- Thất nghiệp xô đẩycon người vào chỗ nghiện ngập rượu chè, ma túy, mại dâm và các loại tội phạm khác

- Mỗi cá nhân là một thành viên của xã hội Tình trạng thất nghiệp luôn làm suy yếu một

xã hội về cả hai mặt vật chất và tinh thần

IV NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT THẤT

NGHIỆP CỦA TỈNH BÌNH DƯƠNG

1 Nguyên nhân

Đất nước muốn phát triển thì phải

đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực

lượng lao động trẻ, năng động, dồi dào và

được đào tạo Vì vậy đây là nguồn nhân

lực rất quan trọng cần được sử dụng một

cách hợp lý hiệu quả

Tình trạng sinh viên thất nghiệp sẽ

ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình phát

triển kinh tế, xã hội của đất nước Vấn đề này nguyên nhân do đâu, phải chăng là:

- Trình độ của sinh viên không đáp ứng được yêu cầu ngày một cao của công việc, do chất lượng đào tạo thấp của các trường đại học, cao đẳng

- Do lượng cung lớn hơn cầu về nguồn lao động

- Do chính sách của nhà nước chưa hợp lý trong việc sử dụng lao động

- Do sự chủ quan của sinh viên không muốn công tác tại những vùng xa, khó khăn

Trang 10

Bên cạnh đó, thất nghiệp là do thiếu thông tin thị trường lao động và do sự di chuyển của người lao động trên thị trường Mặt khác thất nghiệp là kết quả của việc không đáp ứng yêu cầu về tay nghề và nghiệp vụ do tiến bộ kỹ thuật đòi hỏi Ở đây không nói đến khía cạnh thay đổi công nghệ làm giảm nhu cầu lao động mà đề cập đến yêu cầu nâng cao kiến thức, kỹ năng hoặc phải thay đổi một số nghề và nghiệp vụ Hay là, do không có thông tin đầy đủ về thị trường lao động nhiều người tự nguyện thất nghiệp không đi tìm việc làm, họ mong đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập không thực tế ("ảo") trong tương lai, và sự kém hiểu biết đã lấy đi những cơ hội việc làm của họ.

Thất nghiệp trá hình xảy ra khi giảm nhu cầu về lao động không tương ứng với giảm

số nơi làm việc Thất nghiệp trá hình cũng có thể xảy ra khi tuyển quá số lao động nhưng không đạt yêu cầu về tay nghề và khi tuyển những người không phù hợp về chuyên môn, nghiệp vụ

Sự suy thoái kinh tế của tỉnh ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế gây ra thất nghiệp nhưng cũng tác động đến một số ngành và lĩnh vực kinh tế gây ra thất nghiệp Chính sách tiền lương tối thiểu theo hướng cao cũng có thể ảnh hưởng đến việc làm gây ra thất nghiệp, đặc biệt với những người tham gia thị trường lao động lần đầu và những người chưa có tay nghề hoặc tay nghề thấp; đồng thời làm giảm nhu cầu lao động của một số doanh nghiệp

Cơ chế cứng trong sử dụng lao động tại DNNN cũng gây ra thất nghiệp vì chi phí lao động quá cao, năng lực cạnh tranh của DNNN thấp

Bên cạnh đó cũng có rất nhiều nguyên nhân khiến người lao động thất nghiệp như:

- Có nhiều doanh nghiệp có nhu cầu, nhưng không có tiền để tuyển lao động Hoặc khi gặp khủng hoảng về tài chính, người ta có thể bị buộc phải sa thải hàng loạt lao động vì không có tiền trả lương, và hạn chế tuyển lao động mới

Trang 11

- Đó là công việc không ổn định, lương thấp; nghỉ việc vì muốn đổi chỗ làm, ở nhà buôn bán Đặc biệt, một lượng lớn người lao động nghỉ việc ở Bình Dương để về quê, vì nhiều tỉnh cũng bắt đầu phát triển công nghiệp.

- Thất nghiệp cũng do cung trong lao động tăng vượt quá cầu hoặc có cung về lao động hấp dẫn hơn từ chỗ khác

- Thừa người/giờ lao động so với với nhu cầu trong các lĩnh vực nào đó

- Máy móc làm thay người, khiến cho nhu cầu về giờ làm việc (đặc biệt là những công việc “chân tay” trong công nghiệp) giảm đi

- Sự phát triển công nghệ và thay đổi cấu trúc ngành nghề kinh tế theo thời gian Có những ngành mới mọc ra, ngành cũ co lại, v.v Ví dụ như ngành phần mềm máy tính cách đây 1 thế kỷ chưa hề có Trong khi đó ngành luyện kim cách đây 1 thế

kỷ dùng rất nhiều lao động phổ thông thì bây giờ chỉ cần ít thôi Quá trình chuyển đổi đó ắt dẫn đến việc đóng cửa các đơn vị sản xuất hay kinh doanh không còn cần thiết nữa, và những người làm những ngành đang co lại có thể bị thôi việc một thời gian trước khi tìm được công việc khác, là chuyện bình thường

- Cơ chế quan liêu, quản lý yếu kém v.v Thất nghiệp cũng có thể là hệ quả trực tiếp của việc quản lý yếu kém, sự quan liêu, vô trách nhiệm, v.v., khiến cho có những

Trang 12

nơi vừa có tiền vừa có nhu cầu sử dụng lao động nhưng vẫn không thuê được lao động.

- Mất công cụ lao động Những người lao động bị tước đoạt công cụ hay môi trường thích hợp để có thể lao động, thì không lao động đúng nghề được nữa, và trở nên thất nghiệp Ví dụ như nông dân bị mất đất làm ruộng, nhà máy bị phá hủy, v.v

2 Biện pháp giải quyết

Thực hiện chính sách việc làm và

chính sách thị trường lao động cùng

những chính sách khác nhằm nâng cao

chất lượng cung, điều chỉnh cung lao

động phù hợp với cầu lao động, đẩy

mạnh kết nối cung - cầu và trực tiếp

làm tăng quy mô việc làm hay gián

tiếp tạo ra việc làm mới

Cùng với tăng cường giám sát

việc thực hiện các giải pháp trong thực tế, lãnh đạo tỉnh Bình Dương cần chú trọng hơn nữa đến chính sách đào tạo việc làm thích hợp cho người lao động để họ có thể bắt kịp với

sự biến đổi nhanh về nhu cầu lao động của nền kinh tế

Giảm giờ làm việc Khi ta có máy làm thay ta, thì nên lấy đó làm mừng, là ta có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, mà hiệu suất công việc vẫn như cũ hoặc tăng lên Các giải quyết cho xu hướng này là giảm giờ làm đi cho tướng xứng với chuyện máy làm thay người

Trang 13

Trên thực tế, số giờ làm việc của công nhân giảm đi rất nhiều trong hơn so với trước đây: nếu như vào cuối thế kỷ 19 công nhân có thể phải làm 7 ngày một tuần, 11-12 tiếng một ngày (tức quãng 80 giờ làm việc 1 tuần), thì ngày nay ở các nước tiên tiến chỉ còn làm

40 giờ một tuần hoặc ít hơn

Xu hướng giảm giờ làm có thể tiếp tục được không, ví dụ xuống chỉ còn 25-30 giờ 1 tuần thay vì 35-40 giờ như hiện nay ? Nếu giữ số giờ làm việc cao như trước trong khi máy móc hiện đại lên, thì sẽ không có đủ việc làm, nên giảm giờ làm có lẽ là xu hướng tiếp tục Tuy nhiên các cản trở của xu hướng này là:

- Giảm giờ làm thì thu nhập không tăng hay có thể bị giảm theo, vậy làm thế nào nếu muốn có thu nhập cao ?

- Thời gian thừa không làm việc thì làm gì ?

Do hai yếu tố trên, khó có thể giảm giờ làm khi mà đời sống khó khăn, với số giờ làm hiện tại mà lương đã không đủ sống, hay đủ trang trải các khoản như y tế, lương hưu, v.v Giảm giờ làm chỉ là giải pháp tốt khi mức sống vẫn được đảm bảo, và người lao động thấy thoải mái chấp nhận trên tinh thần tự nguyện (thấy làm từng đấy giờ là đủ rồi, muốn có thời gian rỗi cho những việc khác)

Tăng cường các công việc đòi hỏi trí óc Trên thực tế, tỷ lệ các công việc đòi hỏi trí

óc, trình độ cao ngày càng tăng trong nền kinh tế

Phát triển giáo dục đào tạo, để có thể theo kịp nhu cầu gia tăng của các công việc đòi hỏi trình độ cao Đây phải là quốc sách của mọi nước Có hai động cơ chính của một nền kinh tế hiện đại, và đó chính là khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo

Kích cầu Đây là một biện pháp “được ưa chuộng” vào các thời điểm kinh tế suy thoái: Lãnh đạo Tỉnh tung tiền ra để kích thích nhân dân đầu tư và tiêu dùng, dẫn đến kích cầu các mặt hàng và dịch vụ, dẫn đến kích cầu về lao động và tạo thêm công ăn việc làm

Ngày đăng: 03/01/2013, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w