1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đc cuối kì 2 lớp 8

10 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khi Con Tu Hỳ
Tác giả Tố Hữu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Bài luận phân tích
Năm xuất bản 1939
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 133 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHI CON TU HÚ I Kiến thức cơ bản 1 Tác giả Tố Hữu 2 Tác phẩm HCST Bài thơ sáng tác năm 1939, tại nhà lao Thừa Phủ, khi tác giả vừa bị bắt giam Xuất xứ In trong tập “Từ ấy” (1937 – 1946) – Thuộc phần 2[.]

Trang 1

KHI CON TU HÚ

I Kiến thức cơ bản

1 Tác giả: Tố Hữu

2 Tác phẩm

- HCST: Bài thơ sáng tác năm 1939, tại nhà lao Thừa Phủ, khi tác giả vừa bị bắt giam

- Xuất xứ: In trong tập “Từ ấy” (1937 – 1946) – Thuộc phần 2: “Xiềng xích”

- Nội dung – Nghệ thuật:

+ ND: Lòng yêu cuộc sống và niềm khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ CM trong cảnh tù đày

+ Nghệ thuật:

 Thể thơ lục bát giản dị, thiết tha, uyển chuyển, cách ngắt nhịp sáng tạo

 Miêu tả âm thanh khơi nguồn cảm xúc

 Giọng thơ tự nhiên, khi tươi sáng, khoáng đạt, khi dằn vặt, sôi trào

 Hình ảnh hoán dụ, từ ngữ biểu cảm, động từ hành động mạnh

- Nhan đề:

+ Nhan đề bài thơ Khi con tu hú chỉ là thành phần phụ trạng ngữ của câu gợi ra thời điểm được

nói đến trong bài thơ

+ Dựa vào nội dung bài thơ ta có thể hiểu: Khi con tu hú gọi bầy là lúc hè về khiến người tù cách mạng có tâm hồn trẻ trung, ưa hoạt động, yêu cuộc sống tự do cảm thấy ngột ngạt, bức bối, muốn đạp tan tù ngục trở về với cuộc sống tự do

=> Nhan đề đã gây ấn tượng, gợi tò mò cho người đọc

II Phân tích

1 Tâm trạng người tù:

- Tâm trạng người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi bị giam cầm được nhà thơ Tố Hữu bộc lộ trực tiếp trong khổ cuối bài thơ “Khi con tu hú”

- Đó là một tâm hồn yêu cuộc sống, khát khao tự do đến cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng

Với giọng điệu cảm thán, cách ngắt nhịp bất thường (Mà chân muốn đạp tan phòng / hè ôi -Ngột làm sao / chết uất thôi), các từ ngữ cảm thán (ôi, thôi, làm sao) đã gợi cảm giác bức bối của người chiến sĩ cách mạng

- Tiếp đó là những từ ngữ diễn tả động tác mạnh (đạp tan phòng, chết uất) thể hiện trạng thái uất ức đến cao độ của nhân vật trữ tình

- Trạng thái ấy chính là tâm trạng đau khổ, là niềm khát khao tự do đến cháy bỏng của người cách mạng chốn lao tù Sự đối lập quá khứ (ở bên ngoài) với hiện tại (trong tù ngục) càng làm nổi bật cảm giác ngột ngạt cao độ, niềm khao khát muốn thoát ra khỏi cảnh tù ngục để trở về với c/s tự do. 

- Đặc biệt, ở câu thơ cuối, tiếng tu hú một lần nữa xuất hiện nhưng hoàn toàn đối lập với âm thanh sôi động tươi vui ban đầu

- Phải chăng âm thanh đó như càng khơi sâu thêm tâm trạng u uất, nôn nóng, khắc khoải, khổ đau của người tù cách mạng trẻ tuổi?

- Phải là một người có tâm hồn yêu cuộc sống, khát khao tự do đến cháy bỏng thì người chiến sĩ cách mạng mới có những cảm xúc như thế

2 Bức tranh khung cảnh ngày hè trong tâm tưởng của tác giả:

- Khung cảnh thiên nhiên mùa hè trong bài thơ “ Khi con tu hú” được mở đầu bằng âm thanh tiếng chim tu hú gọi bầy

- Tiếp theo là dàn hợp xướng âm thanh của tiếng ve, tiếng sáo diều vi vu

Trang 2

- Bức tranh thiên nhiên còn được khắc họa bằng những sắc màu rực rỡ: màu vàng của lúa chín, của bắp, màu hồng của nắng

- Không những thế bức tranh mùa hè còn mang hương vị ngọt ngào của trái cây ngọt dần ; không gian khoáng đạt, tự do (trời cao, diều sáo lộn nhào từng không )

- Nghệ thuật tạo dựng bức tranh của tác giả thật đặc sắc Với các phó từ chỉ sự tiếp diễn thời gian(đang, dần ), cặp từ hô ứng ( càng – càng) kết hợp với các tính từ thật khéo léo (đang chín, ngọt dần ) ta có cảm nhận sự vật như đang vận động, không gian như rộng mở, khoáng đạt thêm

- Đó là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của người tù CM

- Phải là một người yêu thiên nhiên, tràn đầy nhiệt huyết và đang khao khát tự do mới có những cảm xúc mãnh liệt, tinh tế đến như vậy

- Tóm lại, bằng những hình ảnh thơ tiêu biểu, sống động, tác giả đã vẽ ra trước mắt người đọc khung cảnh thiên nhiên mùa hè hè rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu, ngọt ngào hương vị, bầu trời khoáng đạt tự do biết nhường nào!

III Một số câu hỏi đọc – hiểu

1 Ý nghĩa âm thanh tiếng chim tu hú:

- Ở câu đầu: Tiếng chim tu hú là tiếng gọi thiết tha của thế giới tự do, của sự sống đầy quyến rũ bên ngoài khiến nhà thơ càng nhớ cảnh quê hương, càng bồn chồn, khao khát tự do

- Ở câu cuối: nó tượng trưng cho tiếng gọi tự do, thôi thúc, giục giã, nhấn vào tâm trạng và cảm giác u uất bực bội, ngột ngạt, khao khát tự do đến cháy bỏng, muốn phá cũi sổ lồng của người

tù cộng sản

-> Cả hai lần tiếng chim tu hú đều vang lên như tiếng gọi của tự do, thúc giục người tù hành động để giành lấy tự do

2 Câu thơ ngắt nhịp bất thường:

- Trong bài thơ trên, câu thơ ngắt nhịp bất thường: câu 8(6/2); câu 9 (3/3)

- Tác dụng: góp phần làm nổi bật cảm giác ngột ngạt và tâm trạng uất ức cao độ, niềm khao khát tự do dến cháy bỏng của người tù

NGẮM TRĂNG- HỒ CHÍ MINH I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN

1/Tác giả: Hồ Chí Minh (1890-1969), quê ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

-Là một vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân VN và CMVN

-Là danh nhân văn hoá thế giới, nhà thơ lớn của dân tộc

2/ Tác phẩm:

a/ Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ :

-Trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch (Trung Quốc), năm 1942

-Xuất xứ: Trích tập thơ “Nhật kí trong tù

b/Bố cục: Khai- thừa – chuyển – hợp

c/ Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật:

*Nội dung: Tình yêu thiên nhiên đến say mê và phong thái ung dung của Bác Hồ ngay cả trong

cảnh ngục tù cực khổ tối tăm

*Nghệ thuật:

- Bài thơ kết hợp hài hòa tinh thần cổ điển – tinh thần “thép”; chất nghệ sĩ - chất chiến sĩ Cấu

trúc đăng đối

II Phân tích

Trang 3

1.Tình yêu thiên nhiên và phong thái ung ung, lạc quan của HCM( Vẻ đẹp tâm hồn trong con người HCM)

 Lòng yêu thiên nhiên:

- Bác chọn đề tài về thiên nhiên (Trăng) Bác nghĩ đến trăng và việc ngắm trăng ngay cả khi bản thân bị giam cầm, đày đọa

- Mở đầu là những vần thơ phác họa một cách chân thực cuộc sống trong tù khổ cực và gian lao của Bác “Trong tù không rượu cũng không hoa”, cuộc sống khó khăn, khắc khổ trong tù kìm hãm con người ta, làm cho thi nhân không thể làm bạn với rượu , trò chuyện với hoa - Mà từ xưa, rượu và hoa đã trở thành thú vui tao nhã cho những kẻ lãng tử vì nghệ thuật , vì văn thơ Trong hoàn cảnh ấy ta chỉ có thể làm bạn với thiên nhiên

- Hình ảnh trăng lúc ấy từ mờ ảo mà trở nên rõ nét, đẹp và lãng mạn vô cùng Bác vừa đắm say trước cảnh đẹp trong đêm khuya, một vầng trăng sáng xuất hiện chiếu rọi tâm hồn thi nhân, khúc xạ những cảm xúc, những rung động lạc với hoàn cảnh thực tại

-Trong sự đắm say ấy có chút bối rối trước sự xuất hiện của vầng trăng và ánh sáng tỏa xuống ô cửa sổ của nhà tù

-Trăng luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thi nhân và những người yêu cái đẹp, người ta thưởng nguyệt để tâm hồn được thư thái thế nhưng Bác Hồ lại ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt đó là bị giam cầm, bó buộc tự do ở trong tù Hình ảnh vầng trăng càng trở nên lung linh hơn, đối lập với sự tối tăm của tù đầy, vầng trăng là ánh sáng duy nhất khiến cho người tu ung dung thưởng thức mà khó "hững hờ" bỏ qua

- Sự giao hoà tự nhiên, tuyệt vời giữa con người và vầng trăng tri kỷ, tình cảm song phương cho thấy mối quan hệ gắn bó tri âm giữa trăng và người

 Phong thái ung dung:

-Hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà tù Tưởng Giới Thạch không trói buộc được tinh thần và tâm

hồn người tù, không làm mất đi nét thư thái ung dung vốn sẵn có ở Bác

- Bác tự do rung động với vầng trăng, với cảnh đẹp bất chấp hoàn cảnh, bất chấp cái song sắt tàn bạo - biểu tượng cụ thể của nhà tù

- Câu thơ tuyệt hay với nghệ thuật đăng đối Hai đầu của hai câu là người và trăng (nhân – nguyệt, nguyệt – thi gia) và giữa hai câu, giữa người và trăng là các song sắt chắn giữa thật thô bạo Người và trăng bị chắn bởi song sắt của nhà tù Thế nhưng không hề bị cách biệt mà

ngược lại, giao hòa, giao cảm với nhau

-Tầm mắt con người vượt qua song sắt để thưởng thức vẻ đẹp của tự nhiên của đất trời, của tự

do Còn trăng, ánh trăng xuyên thấu nhà tù để nhìn lại, sẻ chia với người tù

-Với biện pháp nhân hóa, nhà thơ đã khắc họa ánh trăng đâu còn là một vật vô tri, vô giác mà là như gương mặt của một con người, có tâm hồn, có niềm đồng cảm Trăng trở thành người bạn tâm giao, tri ân, tri kỷ với thi nhân Trăng nhìn người, người nhìn trăng Phút giây đó thật đẹp biết bao

-Dường như mọi đau thương, khổ đau, khó khăn của nhà tù Tưởng Giới Thạch đã không còn nữa Thay vào đó là những giây phút lãng mạn, thăng hoa của người tù cách mạng, của trăng Không còn tù ngục, không còn xiềng xích, chỉ còn “trăng sáng” và “nhà thơ”: tri kỉ

>Đó chính là sự kết hợp giữa dáng dấp ung dung tự tại của một hiền triết - thi nhân với tinh

thần lạc quan của người chiến sĩ cộng sản

2 Liên hệ: Bài học trong cuộc sống được rút ra:

a Đó là tình yêu thiên nhiên tha thiết, yêu cái đẹp chân chính  

*Cách hiểu:

Trang 4

-Thiờn nhiờn là những gỡ  cú ở xung quanh chỳng ta, do tạo húa sinh ra và khụng cú bàn tay xõy dựng của con người: là bầu trời, là mặt đất, là rừng cõy, biển cả, ỏnh sỏng…

những thứ vụ cựng quen thuộc và cần thiết trong cuộc sống của ta

- Thiờn nhiờn làm cho tõm hồn con người cao như trời, mờnh mụng như rừng, hồn nhiờn như biển, phong phỳ hài hũa cựng vạn vật

- Bờn cạnh đú thiờn nhiờn cũn là nguồn cảm hứng vụ tận cho cỏc nghệ sĩ(d/c)

=>Vậy nờn hóy coi thiờn nhiờn là bạn tốt của con người, cần yờu mến và bảo vệ thiờn nhiờn

b Chủ động trong mọi hoàn cảnh để làm chủ hoàn cảnh

Cỏch hiểu:

+ Trong cuộc sống của chỳng ta, cú biết bao khú khăn mà ta cần phải vượt qua

+Chỉ cú lũng kiờn định và ý chớ kiờn trỡ bền bỉ mới cú thể giỳp ta vượt qua được những trở ngại của cuộc sống

+ Đú là một nền tảng mà bất cứ người nào cũng cần nờn cú(d/c)

+ Khú khăn như là một cõu thỏch đố đũi hỏi chỳng ta phải biết vượt qua chớnh mỡnh bằng cỏch chỉnh đốn lại nội tõm và làm chủ bản thõn => KĐ: Chỉ cú lũng kiờn định và ý chớ kiờn trỡ bền

bỉ mới cú thể giỳp ta vượt qua được những trở ngại của cuộc sống

=> Chỉ cú lũng kiờn định và ý chớ kiờn trỡ bền bỉ mới cú thể giỳp ta vượt qua được những trở ngại của cuộc sống

BÀN LUẬN VỀ PHẫP HỌC / KIẾN THỨC CƠ BẢN

1/Tỏc giả:

- Nguyễn Thiếp(1723-1804), tự là Khải Xuõn, hiệu là Lạp Phong Cư Sĩ, người đương thời kớnh trọng thường gọi là La Sơn Phu Tử

- Quờ: Làng Mật Thụn, xó Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay thuộc huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh

- Là người “thiờn tư sỏng suốt, học rộng hiểu sõu”, quan tõm tới sự học nước nhà

2/ Tỏc phẩm:

a/ Hoàn cảnh sỏng tỏc – xuất xứ :

- 8/1791 Nguyễn Thiếp dõng bản tấu lờn vua Quang Trung

b Thể loại: Tấu

c Khỏi quỏt giỏ trị nội dung và nghệ thuật:

* Nội dung: - Giúp ta hiểu mục đích của việc học là để làm người có đạo

đức , có tri thức góp phần làm hng thịnh đất nước, chứ không phải để cầu danh lợi

- Muốn học tốt phải có phương pháp học: học từ thấp đến cao, học hiểu bản chất, học đi đôi với hành

*.Nghệ thuật: - Lập luận chặt chẽ, sắc bén, tõm huyết của người hết lũng vỡ sự học

nước nhà

II/PHÂN TÍCH

1.Đoạn mở đầu bài văn “Bàn luận về phộp học”- là một đoạn nghị luận tiờu biểu, cú cỏch nờu luận điểm rừ ràng

Trang 5

-Tác giả dùng câu châm ngôn-> vừa dễ hiểu vừa có sức mạnh thuyết phục để nêu bật tầm quan trọng của việc học

- Nêu cách hiểu về câu châm ngôn

+ “học” để làm gì? Học đối với người xưa là để nắm rõ" đạo"

+ Tại sao ngọc cần mài dũa, chế tác

-> con người phải qua học hành rèn luyện để thành người tài

- Khái niệm “đạo vốn trừu tượng, phức tạp được giải thích thật ngắn gọn, rõ ràng: “Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người”

- Tác giả chốt lại mục đích chân chính của việc học là “học để làm người và kẻ đi học là học được cái điều ấy”

+ Phê phán những biểu hiện lệch lạc của việc học đương thời và những tác hại ghê gớm của nó

=>Có thể thấy Nguyễn Thiếp là nhà giáo dục uyên bác, tầm nhìn xa trông rộng Phải chăng tầm nhìn xa trông rộng ấy xuất phát từ cái " tâm" đối với việc trấn hưng nền giáo dục nước nhà nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước?

2.Nguyễn Thiếp đã chỉ ra các phương pháp để học tốt, học có ích.

- Văn bản “Bàn luận về phép học”- Nguyễn Thiếp đã đưa ra những phương pháp học để học

tốt, học có ích

-Việc học phải được bắt đầu từ những kiến thức có tính chất nền tảng Học từ dễ đến khó Khi học bài, người học phải biết tóm tắt nội dung để dễ nhớ, dễ thuộc, bây giờ ta gọi là làm dàn bài

và củng cố kiến thức: Phép dạy, nhất định theo Chu Tử

- Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm

-Mục đích của việc học là để trở thành người có đức, có tài, góp phần hữu ích vào sự nghiệp hưng thịnh đất nước Muốn học tốt thì phải có phương pháp Sự học cần phải nâng cao, mở rộng không ngừng, cho nên người học phải biết cách học sao cho có hiệu quả; đặc biệt là học phải đi đôi với hành

- Phương pháp học tập đúng đắn là tuần tự học từ thấp đến cao Học rộng, nghĩ sâu, rồi tóm lược gọn những điều cơ bản, cốt yếu nhất, rồi ghi nhớ và theo điều học mà làm

- Như vậy học không chỉ để cho biết mà chủ yếu là để làm theo cho tốt Nguyễn Thiếp khẳng định : Học để hành, có nghĩa là học để làm cho tốt Thực tế cho thấy có học có hơn Ông cha chúng ta ngày xưa đã dạy: Bất học, bất tri lí (Không học thì không biết đâu là lẽ phải) Có học mọi công việc sẽ đạt hiệu quả cao hơn, tốt hơn Nếu được học những lí thuyết cao siêu mà không biết đem ra vận dụng vào thực tế thì việc học ấy chỉ tốn thời gian, công sức, tiền bạc mà chẳng đem lại kết quả gì

 Ngược lại, hành mà không học thì hành không trôi chảy

- Cho nên muốn đạt hiệu quả tốt trong công việc, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và sau đó, trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng bằng mọi cách Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thời

đại.

5 Suy nghĩ về quan điểm và phương pháp học của Nguyễn Thiếp:

- Sau khi phê phán những biểu hiện lệch lạc trong việc học, tác giả khẳng định quan điểm và phương pháp học tập đúng đắn:

+ Việc học phải được phổ biến rộng khắp: mở thêm trường, mở rộng thành phần người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người đi học

+ Về phương pháp:

Việc học phải có hệ thống, phải tuần tự từ thấp lên cao, từ những kiến thức cơ bản có tính chất

Trang 6

nền tảng đến những kiến thức khái quát.

Học phải rộng, nghĩ phải sâu, biết tóm lược và nắm vững những điều cơ bản, cốt lõi

Học phải kết hợp với hành, "theo điều học mà làm"

- Có như thế thì người học mới có khả năng lập công trạng thể hiện điều học được thành hành động, giúp cho đất nước "vững yên", "thịnh trị"

 Ở thời đại nào cũng cần đến sự học chân chính Đây là phương cách căn bản để phát triển, tiến bộ Điều Nguyễn Thiếp nói đúng cho mọi thời đại

=> Như vậy, tuy chưa đầy đủ và nếu gạt bỏ sự sùng bái sách vở Nho giáo, có thể nói, tư tưởng khuyến học và phương pháp học theo quan niệm của Nguyễn Thiếp là những tư tưởng đúng đắn, tiến bộ Đó vẫn là những gợi ý bổ ích về phương pháp cho việc học của chúng ta ngày nay. 

NƯỚC ĐẠI VIỆT TA

I KIẾN THỨC CƠ BẢN:

1.Tác giả : Nguyễn Trãi, là 1 nhà văn hóa kiệt xuất, 1 anh hùng dân tộc

2 Tác phẩm

a HCST: Ngày 17- 12 năm Đinh Mùi (1428) Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo và công

bố bản Bình Ngô đại cáo để tuyên bố cho toàn dân biết cuộc kháng chiến chống giặc Minh đã toàn thắng

b Xuất xứ: nằm ở phần I tác phẩm “Bình Ngô Đại Cáo”

c Thể loại: Cáo, văn nghị luận cổ , viết bằng văn xuôi hoặc văn vần, do vua, chúa, thủ lĩnh dung để công bố kết quả, sự nghiệp chống quân minh phục quốc đã thắng đã dành thắng lợi

II PHÂN TÍCH

1 Tư tưởng nhân nghĩa:

- Cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa là: yên dân và trừ bạo.

+ Yên dân: dân được yên bình, yên ổn làm ăn sinh sống

+ Trừ bạo: trừ bạo ngược, giặc ngoại xâm

- Nói tư tưởng ấy có ý nghĩa tích cực và là sự phát triển của tư tưởng nhân nghĩa truyền thống

Nó hướng về nhân dân, đề cao hành động diệt trừ bạo ngược để đem lại sự yên bình cho nhân

dân

2 Quan niệm về độc lập và chủ quyền dân tộc:

- Nguyễn Trãi khẳng định thế đứng vững chắc và sự tồn tại bất diệt của dân tộc trên những phương diện sau:

+ Có truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp (nền văn hiến dài lâu)

+ Có chủ quyền, lãnh thổ riêng (núi sông bờ cõi đã chia)

+ Có phong tục, tập quán riêng

+ Có truyền thống lịch sử với các triều đại và hoàng đế riêng (Triệu, Đinh, Lí, Trần sánh vai với Hán, Đường, Tống, Nguyên)

+ Có đế (vua); Có nhân tài, hào kiệt

-> Quan niệm ấy đạt tới sự sâu sắc vì đã nhấn mạnh những phương diện giá trị sâu xa làm nên cốt lõi tinh thần của một dân tộc, quốc gia

- Tác giả đã thể hiện ý thức tự hào, tự tôn dân tộc

-> Khẳng định nước Đại Việt có chủ quyền ngang hàng với các triều đại phong kiến phương Bắc

3 Đoạn trích Nước Đại Việt ta có ý nghĩa như bản tuyên ngôn độc lập vì:

Trang 7

- Trong đoạn trích, Nguyễn Trãi đã tuyên bố nước ta là một đất nước độc lập bởi chúng ta có

nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ cương vực riêng, phong tục tập quán riêng, có lịch sử và truyền thống bảo vệ chủ quyền.

- Trong đoạn trích, Nguyễn Trãi cũng cho thấy kẻ xâm lược là kẻ phản nhân nghĩa, chúng đã phải thất bại

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN HỆ

1 Tình yêu quê hương đất nước:

- Dẫn dắt vấn đề: Vấn đề đặt ra trong bài thơ( văn bản) đến nội dung liên hệ

- Cách hiểu: Lòng yêu nước( tình yêu quê hương đất nước) là tình yêu đối với quê hương, đất nước; nỗ lực cố gắng không ngừng để dựng xây và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh hơn Lòng yêu nước là tình cảm cao cả, thiêng liêng của mỗi người dành cho quê hương đất nước

- Biểu hiện:

+ Biểu hiện của lòng yêu nước không phải là những thứ quá cao xa, nó nằm ngay ở ý thức và hành động của mỗi người

+ Trong thời kỳ kháng chiến, lòng yêu nước chính là đứng lên, cầm súng ra trận chiến đấu với

kẻ thù Mọi khó khăn, gian khổ đều không ngần ngại, xông lên phía trước giành lại độc lập tự

do cho nhân dân

+ Đó là tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, tương thân tương ái, cùng nhau chống lại kẻ thù

+ Trong thời bình, lòng yêu nước thể hiện ở việc chung ta xây dựng xã hội chủ nghĩa, mang lại cuộc sống no đủ cho nhân dân và sự vững bền cho đất nước…

+ Tình yêu mà chúng ta dành cho làng quên yên bình, cho những dòng sông đổ nặng phù sa, cho bãi mía nương dâu Những tình yêu tưởng chừng như bình dị như vậy nhưng lại tạo nên một tình yêu lớn lao và cao cả hơn: Yêu Tổ quốc…

- Vậy trách nhiệm của những người trẻ tuổi làm sao giữ cho mạch nguồn ấy không cạn Mỗi

chúng ta cần biết kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp dân tộc, luôn vững tâm, hiệp lực giải quyết, vượt qua nguy nan

- Tuy nhiên bên cạnh những người tràn đầy tinh thần yêu nước thì vẫn có những phần tử cố ý chống lại đất nước, chống lại chính quyền Đó là những

kẻ đi theo chủ nghĩa xuyên tạc, nói xấu đảng và chính phủ

-Cần phải xử lý thật nghiêm khắc những trường hợp này để mang lại sự yên

ổn của xã hội Như vậy lòng yêu nước trong xã hội này là cần thiết đối với mỗi con người

-Chúng ta cần phải rèn luyện tinh thần này thường xuyên để dựng xây và cống hiến cho đất nước…

2 Lý tưởng sống của thế hệ trẻ ngày nay.

1 Dẫn dắt

2 Cách hiểu

- Lý tưởng chính là mục đích sống cao đẹp Sống đẹp là lối sống mình vì mọi người thể hiện bằng sự cống hiến hết mình trong học tập, trong công việc để xây dựng quê hương, đất nước…

Trang 8

- Lí tưởng của thanh niên Việt Nam hiện nay là sống chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

3 Biểu hiện: Những tấm gương sống có lý tưởng cao đẹp

- Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: Bác Hồ, chú bé Lượm, Kim

Đồng, Võ Thị Sáu…

- Ngày nay: Những con người đang ngày đêm âm thầm, lặng lẽ cống hiến cho công cuộc xây dựng đất nước: anh thanh niên trong truyện “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, những người chiến sĩ hải quân, Lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư Việt Nam…

4 Ý nghĩa, vai trò

- Lý tưởng là mục đích sống, quyết định sự thành công

- Lý tưởng cho ta sức mạnh vượt qua những khó khăn, chông gai trong cuộc sống để đạt được những điều tốt đẹp

- Lý tưởng sống cao đẹp là điều kiện để con người sống có ý nghĩa, giúp con người hoàn thiện

vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách

5 Bàn bạc mở rộng (phản đề)

- Trong cuộc sống hiện nay vẫn còn có một số ít người sống không có lý tưởng , có lối sống vị

kỉ, cá nhân, mục đích sống tầm thường hay dựa dẫm ỷ lại vào gia đình, người thân

- Học sinh không có lý tưởng thường mải chơi, lười học bài, dựa dẫm vào sách học tốt, sách giải…

- Những người đó sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội bị mọi người lên án và phê phán…

3 Suy nghĩ tác hại của học vẹt, học tủ( lối học hình thức, thiếu thực chất)

- Dẫn dắt: Mỗi người có một phương pháp học tập khác nhau tuy nhiên hiện nay, có rất nhiều

lựa chọn cho mình cách hình thức, thiếu thực chất( hay còn gọi là học tủ và học vẹt) Phương pháp học tập này đang ngày một trở nên phổ biến

- Cách hiểu: Học vẹt là cách nói ẩn dụ, ví cách học của học sinh với con vẹt – bắt chước, nói

nhại lại, nhưng không hiểu gì

+ Ngoài việc giúp cho học sinh qua cái bài kiểm tra, bài thi thì học vẹt mang lại nhiều tác hại trực tiếp tới học sinh

-Nguyên nhân:

+ Chương trình học còn nặng về kiến thức, khô khan, cứng nhắc khiến một bộ phận học sinh chán học, học chống đối

+ HS chưa có ý thức tự giác trong học tập, học sinh nảy sinh việc học chống đối, thụ động + Nhiều học sinh ngay từ đầu đã không có mục đích, động cơ học tập rõ ràng dẫn đến lười học, học chưa đúng phương pháp

-Tác hại:

+ Học vẹt là một sự chống đối của học sinh dẫn tới kiến thức tiếp thu được chỉ là con số không; ảnh hưởng tới nhiều mặt (d/chứng)

+Học sinh không có khả năng vận dụng những gì mình được dạy đưa vào thực tế

-Giải pháp

+ Mỗi học sinh cũng cần xây dựng cho mình ý thức tự giác

+ Sắp xếp thời gian hợp lí giữa việc học và các hoạt động giải trí khác

Trang 9

=>Nếu không thay đổi phương phát học tập thì sẽ không chỉ ảnh hưởng tới tương lai của học sinh khi bước vào đời, mà còn tác động đến tương lai của cả đất nước Học sinh chúng ta cần

phải thay đổi cách học tập để lấp đầy tri thức, để hoàn thiện bản thân

4.Trình bày suy nghĩ ý kiến: “Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa trái lại ngọt ngào”

* Dẫn dắt.

*Giải thích:

– Học hành là quá trình học và thực hành để mở mang kiến thức, nâng cao trình độ hiểu biết của mỗi người

– rễ đắng và quả ngọt là hình ảnh ẩn dụ chỉ công lao học hành vàkết quả học tập

-Câu ngạn ngữ thể hiện nhận thức sâu sắc về qui luật của học vấn và vai trò quan trọng của việc học hành đối với mỗi người

*Phân tích – Chứng minh.

+ Học hành có những chùm rễ đắng cay

– Việc học đòi hỏi tốn thời gian, công sức, trải qua cả một quá trình

– Quá trình học tập có những khó khăn, vất vả, gian nan: chiếm lĩnh tri thức, luyện tập, thực hành…Để có thể giỏi giang, thành công đòi hỏi phải từng bước chinh phục những bậc thang học vấn

– Quá trình học tập có khi phải trải qua những thất bại, phải nếm vị cay đắng: điểm kém, bị quở mắng, thi hỏng…

+ Vị ngọt của quả tri thức hái được từ việc học hành

– Vị ngọt của kết quả học tập trước hết là người học được nâng cao hiểu biết của bản thân, giàu

có hơn về tri thức và tâm hồn, tự tin hơntrong cuộc sống

– Thành quả học tập mang lại niềm vui, niềm tự hào cho bản thân và gia đình thầy cô giáo, nhà trường, quê hương…

– Thành công trong học tập cũng chắp cánh cho những ước mơ, khát vọng mới trên con đường lập nghiệp

– Phải biết chấp nhận đắng cay trong giai đoạn đầu để sau đó hưởng thành quả tốt đẹp lâu dài

Dẫn chứng:

-Ê-đi-xơn phải trải qua hàng nghìn thí nghiệm, phải tìm tòi không ngừng để phát minh ra bóng đèn điện

- Măc-xim Gorki phải kiếm sống đủ thứ nghề vất vả nhưng không nguôi khát vọng học tập Bằng con đường tự học đầy gian truân, say mê đọc sách tiếp cận ánh sáng văn minh nhân loại

và trở thành nhà văn vĩ đại của nhân loại (Bút danh: Gor-ki có nghĩa là cay đắng)

- Mạc Đĩnh Chi bắt đom đóm cho vào vỏ trứng để lấy ánh sáng đọc sách, sau đỗ trạng nguyên

*Đánh giá – mở rộng: – Câu nói bao hàm một nhận thức đúng đắn, một lời khuyên tích cực:

nhận thức được quá trình chiếm lĩnh tri thức, mỗi người cần có bản lĩnh, chủ động vượt qua khó khăn để thu nhận được thành quả tốt đẹp trong học tập

– Trong thực tế, nhiều người lười biếng không chịu khó học hỏi, trau dồi kiến thức, không biết biến nhựa đắng thành quả ngọt dâng cho đời; hay có những người ỷ lại người khác, không nỗ lực, dẫn đếnnhững hành động gian lận, không trung thực trong học tập

– Kết quả học tập nếu không từ công sức bản thân sẽ không bền, sẽ có lúc phải trả giá, sẽ trở thành kẻ kém cõi trong cái nhìn của mọi người

*Bài học:

Trang 10

-Nhận thức: xem câu ngạn ngữ là phương châm nhắc nhở, động viên bản thân trong quá trình học tập

-Hành động: rèn ý thức vươn lên trong học tập, không đầu hàng gian nan thử thách, luôn hướng tới những ước mơ, khát vọng hái quả ngọt từ học vấn để thành công

Ngày đăng: 29/03/2023, 08:57

w