Chủ đề 3 Lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về hàng hóa sức lao động Liên hệ thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn từ 2016 đến nay? I Mở Đầu Sức lao động là khả năng lao động của con người[.]
Trang 1Chủ đề 3: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về hàng hóa sức lao động Liên hệ
thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn từ 2016 đến nay?
Sức lao động là khả năng lao động của con người, được phản ánh trong công việc Từ các tư liệu sản xuất ban đầu, con người tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu, chất lượng cao
- Sức lao động, theo C Mác, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực ở trong thân thể, trong nhân cách một con người, thể lực và trí lực mà con người đem ra vận dụng để sản xuất ra những sản phẩm có giá trị sử dụng
Câu hỏi đặt ra : -Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất vậy có phải lúc nào sản xuất cũng là hàng hóa?
-Tuy trong bất cứ xã hội nào sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất nhưng không phải trong bất kì điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa
Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa khi nó mang những điều kiện sau:
1 Người lao động phải được tự do về thân thể nghĩa là họ có khả năng chi phối sức lao động và có quyền sở hữu năng lực của mình Sức lao động xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hóa khi nó
do con người có sức lao động đưa ra bán.
2 Khi người lao động bị tước hết tư liệu sản xuất và không thể tự tiến hành lao động sản xuất Trong điều kiện ấy, họ buộc phải bán sức lao động của mình để duy trì và phát triển cuộc sống
Ví dụ người đi làm thuê có khả năng tự chủ bản thân họ kh có nguyên liệu hay bất cứ tư liệu sản xuất nào họ đi làm thuê được trả tiền khi đó sức lao động được gọi là hàng hóa.
*Hàng hóa sức lao động là kết quả của một quá trình lao động trong một khoảng thời gian nhất định Thông qua đó mà con người làm ra các sản phẩm, cung cấp được các dịch vụ trong nhu cầu của khách hàng Sức lao động được trao đổi như một thứ hàng hóa Các công nhân làm việc, bỏ ra sức lao động để nhận được lương theo giờ, theo
Trang 2buổi Tuy nhiên, các giá trị họ làm ra được có thể lớn gấp nhiều lần giá trị thu về.
- Thuộc tính của hàng hóa sức lao động, cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là công cụ của nó để thỏa mãn nhu cầu tiên dùng sức lao động của người sử dụng sức lao động Khác với hàng hóa thông thường ( sau một thời gian tiêu dùng sẽ mất đi giá trị và giá trị sử dụng theo thời gian) thì hàng hóa sức lao động, khi được tiêu dùng, ngoài việc sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó thì đồng thời nó cũng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Phần giá trị lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư Đây là điểm cơ bản nhất của hàng hóa sức lao động
II Nội Dung
1 LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘN
a.Giá trị hàng hóa sức lao động
- Giống như các hàng hoá khác, giá trị hàng hoá sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định
Ví dụ: 1 m vải = 5 kg thóc Tức là 1 mét vải có giá trị trao đổi bằng 5 kg thóc
- Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Muốn tái sản xuất
ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định để mặc, ở,học nghề v.v Ngoài ra người lao động còn phải thoả mãn những nhu cầu của bản thân.Chỉ có như vậy, thì sức lao động mới được sản xuất
và tái sản xuất ra một cách liên tục
Như vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt nuôi sống bản thân người công nhân và gia đình; hay nói cách khác, giá trị hàng hoá sức lao động được đo gián tiếp rằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động
Sự khác nhau giữa hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường?
- Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử.
+ Yếu tố tinh thần: ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hoá
+ Yếu tố lịch sử: nhu cầu của con người phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc cả vào điểu kiện địa lý, khí hậu của nước đó
Nghĩa là :
Trang 3Mặc dù bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử nhưng đối với mỗi một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định, thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:
∙ Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất
sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân;
∙ Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân;
∙ Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho cuộc sống gia
đình người công nhân
b.Giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động
- Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao
động, tức là quá trình lao động của người công nhân
Ví dụ: Than đá ngày xưa chỉ được dùng làm chất đốt (đun, sưởi ấm), khi khoa học – kỹ
thuật phát triển hơn nó còn được dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghệ hoá
chất
- Quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hoá sức động khác với quá trình tiêu dùng hàng
hoá thông thường ở chỗ:
* Đối với các hàng hóa thông thường, sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị
lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian
* Đối với hàng hoá sức lao động, quá trình tiêu dùng chính là quá trình sản xuất
ra một
loại hàng hoá nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá của bản
thân hàng hoá sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ
chiếm đoạt Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đây chính là chìa khoá để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản
2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2016 ĐẾN NAY
Trang 42.1 Khái quát về tình hình XKLĐ ở Việt Nam
Với mức tăng dân số tự nhiên hàng năm trên 1,7% Việt Nam là 1 nước có nguồn nhân lực dồi dào, đứng thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 2 trong khối ASIAN Theo thống kê, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ngày càng gia tăng Phần lớn, người lao động Việt Nam đi sang các thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Ma Cao và một số quốc gia Trung Đông (95%); số còn lại sang lao động tại một số nước Châu
Âu và Châu Mỹ Hiện nay, việc đưa người lao động đi xuất khẩu lao động nước ngoài là một trong những hoạt động hấp dẫn khá nhiều các đối tượng tham gia Những lợi ích trước mắt trong việc đưa người đi lao động khiến cho nhiều tổ chức tham gia vào hoạt động này Thị trường lao động nước ngoài đem lại cho nguồn lao động trong nước cơ hội làm việc với mức thù lao lớn hơn trong nước Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong năm 2022 so với năm 2021 vẫn theo chiều hướng tích cực Có thể nói nước ta là một thị trường cung cấp lao động phong phú tạo nên nguồn lực dồi dào cho đất nước
2.1 Thực trạng XKLĐ ở Việt Nam giai đoạn 2016 đến nay
NGUYÊN NHÂN
Thứ nhất, do tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trên cả nước còn lớn.
Tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam là tương đối nghiêm trọng tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 9 tháng năm 2022 là 2,35% Số thanh niên từ 15-24 tuổi thất nghiệp 9 tháng năm 2022 là khoảng 413,0 nghìn người, chiếm 37,5% tổng
số người thất nghiệp từ 15 tuổi trở lên, trong bối cảnh ngân sách Nhà nước chưa được dự trù để trợ cấp cho người thất nghiệp, khả năng đầu tư tạo việc làm phụ thuộc chủ yếu vào thu hút FDI, nên Việt Nam chọn cách xuất khẩu lao động để giảm tình trạng thất nghiệp trong nước
VD: Công ty ra quyết định sa thải điều này buộc người lao động phải tìm một công việc khác; Sinh viên đại học, cao đẳng sau khi tốt nghiệp ra không có việc làm; Khi đại dịch Covid-19 bùng phát, hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng nặng nề Các doanh nghiệp buộc phải cắt giảm nhân sự để ổn định hoạt động của công ty Điều này khiến người lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp; Một doanh nghiệp sản xuất thủ công nhưng hiện tại áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất Người lao động vì không thể thích nghi với quá trình tự động hóa nên thành tích làm việc kém Họ chủ động nghỉ việc và muốn tìm một việc làm mới
Thứ hai, sự gia tăng nhanh chóng của các trung tâm, tổ chức có chức năng xuất khẩu lao động
Việc thành lập các trung tâm, tổ chức có chức năng xuất khẩu lao động trong thời gian qua tăng nhanh Hiện nay cả nước có hơn 150 doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao động, các doanh nghiệp này mở các trung tâm và cơ sở rộng rãi trên cả làm cho thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam trở nên phổ biến hơn
Trang 5VD: Công ty thương mại Tam Quy tại Quảng Trị mở ra chương trình Thực tập sinh kỹ năng là một để tuyển chọn ra người xuất khẩu lao động đi Nhật Bản; Cty TNHH Dệt và nhuộm Hưng Yên xuất khẩu lao động sang Nhật Bản,…
Thứ ba, tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước trên thế giới
Xuất khẩu lao động là để mở rộng quan hệ đối ngoại, từ đó quan hệ giữa quốc gia cung ứng lao động và quốc gia tiếp nhận lao động sẽ trở lên gắn bó hơn, tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Xuất khẩu lao động còn là công cụ để chuyển giao trí tuệ, công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, giúp học hỏi, đào tạo được đội ngũ lao động có chất lượng, nâng cao tay nghề và rèn luyện tác phong công nghiệp cho người lao động, đồng thời tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước trên thế giới
VD: Chúng ta học được lối sống lành mạnh của người Nhật người Việt có thói quen “cao su” trong mọi công việc thì người Nhật ngược lại, họ luôn đề cao tính chuẩn xác nếu cuộc hẹn vào 8h đúng 8h không hơn, không kém là bạn phải có mặt; Biết thêm về nền văn hóa của nước bạn,…
Theo thống kê, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ngày càng gia tăng Phần lớn, người lao động Việt Nam đi sang các thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Ma Cao và một số quốc gia Trung Đông (95%); số còn lại sang lao động tại một số nước Châu Âu và Châu Mỹ
Theo thống kê , trong năm 2017 , có hơn 134000 lao động được ra nước ngoài
là năm thứ 4 liên tiếp lượng lao động vượt qua 100000 người , vượt hơn 28,3%
so với kế hoạch và tăng 6,7% so với năm cũ
Một số thị trường chính có nhu cầu cao với lao động Việt Nam là Nhật Bản và Đài Loan với đa dạng các ngành nghề Số lượng lao động tại Đài Loan năm
2016 là 66926 người , chiếm gần 50% tổng số lao động được đưa đi xuất khẩu của cả nước , chiếm thị phần lớn thứ hai trong thị trường lao động nhập khẩu của Đài Loan và chủ yếu làm trong các ngành công nghiệp Còn tại Nhật Bản , với hơn 100 nghìn lao động , Việt Nam đã vượt qua Trung Quốc để trở thành nước có số thực tập sinh nhiều nhất tại đây
Theo số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), tính đến cuối tháng 11, cả nước có 122.004 lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng, đạt hơn 135%, vượt kế hoạch của cả năm 2022 Như vậy, số lượng lao động ra nước ngoài làm việc đã vượt xa kế hoạch, là tiền
Trang 6đề quan trọng cho hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) trong năm 2023 Bên cạnh đó, trong năm tới, người lao động có thể ra nước ngoài làm việc dễ dàng khi nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ lên kế hoạch thu hút lao động Việt Nam
Những mặt hạn chế của thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam
- Để tìm được công việc tại các thị trường có thu nhập cao , người lao động cần phải có trình độ ngoại ngữ tối thiểu có thể đảm bảo công việc và cũng
sỡ hữu trình độ tay nghề đạt tiêu chuẩn Mặc dù đã được đào tạo , tuy nhiên trình độ của người lao động Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường ngoài nước , dẫn đến chất lượng lao đôgngj chưa được cao Hoạt động xuất khẩu lao động cần đến các khoản chi phí cho việc đào tào ngoại ngữ , học nghề , đây cũng là một vấn đề khó khăn cho những người lao động nghèo muốn tìm kiếm đường mưu sinh tại nước ngoài
- Việc một số lao động có ý thức và thái độ chưa tốt , vướng vào các hành
vi vi phạm pháp luật hay việc bỏ trốn và lưu trú bất hợp pháp cũng ảnh hưởng không tốt tới hình ảnh chung của người lao động Viêt Nam tại nước ngoài
- Đặt biệt trong đại dịch COVID - 19 bắt đầu xuất hiện và phát tán khắp thế giới Để an toàn trong phòng, chống dịch bệnh, hầu hết các nước “bế quan tỏa cảng”, các sân bay, bến tàu quốc tế gần như ngừng hoạt động Những thị trường lao động truyền thống của Việt Nam như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… hiện ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam Theo
đó là các công công ty, doanh nghiệp dịch vụ đưa người đi XKLĐ phải tạm dừng đào tạo, tuyển chọn lao động
Chủ trương và định hướng
- Chỉ thị nhấn mạnh, mục tiêu bao trùm là: việc đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- Trong 10 năm qua (2012-2022), mỗi năm cả nước đã giải quyết việc làm bình quân cho khoảng 1,5-1,6 triệu lao động, trong đó, lao động ngoài nước giải quyết được khoảng 10% số này Mỗi năm, bình quân lao động
và chuyên gia gửi về nước khoảng 10 tỷ USD, tăng 5 lần so với trước khi
có Chỉ thị Nhiều tỉnh, thành phố đóng góp nguồn thu quan trọng cho
Trang 7ngân sách địa phương, góp phần xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững
- Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Đỗ Ngọc An cho biết việc đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài không chỉ giúp việc xóa đói giảm nghèo bền vững mà còn có tích lũy đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh và tạo việc làm, đóng góp một nguồn ngoại tệ của đất nước Trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tác phong làm việc của người lao động được nâng cao, bước đầu hình thành đội ngũ lao động có kỹ thuật, có kỹ năng đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa quê hương đất nước
- Để nâng cao chất lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, theo lãnh đạo Cục Quản lý lao động ngoài nước, ưu tiên hàng đầu là cần làm tốt công tác kết nối doanh nghiệp xuất khẩu lao động với các trường nghề để tuyển chọn và đào tạo lao động, ưu tiên đầu tư trong từng
chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, vùng, ngành có gắn với các chương trình, dự án về đào tạo nghề cho xuất khẩu lao động Đồng thời, xây dựng kế hoạch đưa lao động Việt Nam tham gia vào các dự án đầu tư, dịch vụ hoặc hoạt động thương mại để nâng cao kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng chuyên nghiệp cao nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của các thị trường tiềm năng về xuất khẩu lao động