1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỒ ÁN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN

67 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đồ án quản lý chất thải rắn
Tác giả Nhóm 4
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông 11CMT03
Thể loại Đồ án
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 857,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỒ ÁN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN

Trang 1

M ỤC LỤC

PH ẦN I GIỚI THIỆU CHUNG 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN 2

I Định nghĩa chất thải rắn: 2

II Ngu ồn gốc phát sinh chất thải rắn đô thị 2

III Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn .12

IV CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN đÔ THỊ .14

V CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN 16

CHƯƠNG II : GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI TP.HỒ CHÍ MINH 20

I Hi ện trạng chất thải rắn TPHCM .20

II Khái quát hiện trạng thu gom vả vận chuyển CTR sinh hoạt .21

III Hiện trạng thu gom – vận chuyển CTR .24

IV đánh giá hệ thống quản lý thu gom và vận chuyển CTR .25

Chương III: TỔNG QUAN VỀ QUẬN 6 28

PH ẦN II – TÍNH TOÁN 36

CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT THẢI RẮN 36

Ước tính dân số: (2013 đến 2033) .36

Ước tính khối lượng riêng .37

CHƯƠNG V HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 41

Thi ết kế hệ thống thu gom rác hữu cơ + vô cơ 41

III Thi ết kế hệ thống thu gom rác hữu cơ 44

IV Thi ết kế hệ thống thu gom rác vô cơ: 56

CHƯƠNG VI – ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN CHO QUẬN 6 63

(D ự toán nhà máy xử lý chất thải bằng phương pháp ủ compost) 63

I Phương án đầu tư .63

Trang 2

II Ước tính công suất của nhà mày xử lý CTR………65

III Đề xuất phương pháp xử lý sinh học rác thải……… 66

III.1 Phương pháp xử lý sinh học……… 66

III.2 Sơ đồ nguyên lý dây chuyền chế biến rác bằng sinh học……… 66

CHƯƠNG I:TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN

I Định nghĩa chất thải rắn:

Theo quan niệm chung chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người

loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản

xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng) Trong đó quan trọng

nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống

II Ngu ồn gốc phát sinh chất thải rắn đô thị

STT Ngu ồn gốc Hình th ức phát sinh Thành ph ần

1 Khu dân cư Phát sinh t ừ các hộ gia đình

Thực phẩm, giấy, Carton, plastic, g ỗ, thuỷ tinh, các kim

lo ại khác ngoài ra còn có một

s ố các chất thải độc hại như sơn, dầu, nhớt…

2 Rác đường phố

Từ hoạt động vệ sinh hè phố, khu vui chơi

gi ải trí và làm đẹp cảnh quan Lượng rác này ch ủ yếu do người đi đường và các hộ dân sống hai bên đường xả thải

Thành phần của chúng có thể

g ồm các loại như: cành cây, lá cây, gi ấy vụn, bao nilon, xác động vật chết

Trang 3

3 Các trung tâm

thương mại

Phát sinh t ừ các hoạt động buôn bán của các ch ợ, cửa hàng bách hoá, nhà hàng, khách s ạn, siêu thị, văn phòng

Các lo ại chất thải phát sinh từ khu thương mại bao gồm:

gi ấy, carton, nhựa, thực phẩm, thu ỷ tinh…

4

Công sở, trường

h ọc, công trình

công c ộng

Các hàng quán xung quanh trường, do ý

th ức người dân…và phụ huynh học sinh

Bao gồm các loại chất thải như

g ỗ, thép, bê tông, gạch, ngói,

th ạch cao

6 Rác b ệnh viện

Bao g ồm rác sinh hoạt và rác y tế phát sinh t ừ các hoạt động khám, chữa bệnh trong các b ệnh viện, các trạm y tế, các cơ

sở tư nhân…

Rác y t ế có thành phần phức

t ạp bao gồm các loại bệnh phẩm, kim tiêm, chai lọ chứa thu ốc, các lọ thuốc quá hạn sử dụng có khả năng lây nhiễm

và nguy cơ truyền bệnh rất cao nên cần được phân loại và thu gom hợp lý

7 Từ các hoạt động

công nghiệp

Lượng rác này được phát sinh từ các hoạt động sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy sản xuất công nghiệp như các nhà máy sản

xu ất vật liệu xậy dưng, hàng dệt may, nhà máy hoá chất, nhà máy lọc dầu, nhà máy chế biến thực phẩm

Thành ph ần của chúng chứa thành ph ần độc hại rất lớn

Trang 4

1 Phân lo ại chất thải rắn đô thị

Chất thải rắn đô thị được phân loại như sau:

a Chất thải sinh hoạt: Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải rắn được

thải ra do quá trình sinh hoạt hàng ngày của con người tại nhà ở, chung cư, cơ quan, trường học, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh, khu thương mại và những nơi

công cộng khác Chất thải rắn sinh hoạt không bao gồm những chất thải nguy hại,

bùn cặn, chất thải y tế, chất thải rắn xây dựng và những chất thải từ các hoạt động

nông nghiệp

b Chất thải rắn công nghiệp Chất thải rắn công nghiệp là loại chất thải bị

loại bỏ khỏi quá trình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Lượng chất thải này chưa phải là phần loại bỏ cuối cùng của vòng đời sản phẩm mà nó có thể sử

dụng làm đầu vào cho một số nghành công nghiệp khác

c Chất thải xây dựng Chất thải xây dựng gồm các phế thải như đất đá, gạch

ngói, bê tông, cát, sỏi…do các hoạt động xây dựng hay đập phá các công trình xây

dựng, chất thải xây dựng gồm:

d Chất thải nông nghiệp Chất thải nông nghiệp là những chất thải ra từ các

hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các

sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, lò giết mổ…

2 Thành ph ần chất thải rắn đô thị

a Tính chất vật lý

Khối lượng riêng: Khối lượng riêng của chất thải rắn được định nghĩ là khối lượng

chất thải rắn trên một đơn vị thể tích (kg/m3) Khối lượng riêng của chất thải rắn

rất khác nhau nó tuỳ thuộc vào phương pháp lưu trữ, vị trí địa lý, các thời điểm trong năm, các quá trình đầm nén Thông thường khối lượng riêng của chất thải rắn

Trang 5

ở các xe ép rác dao động từ 200- 500kg/m3 Khối lượng riêng của chất thải rắn đóng vai trò quan trọng trong việc lựa trọn thiết bị thu gom và phương pháp xử lý

độ ẩm.: độ ẩm chất thải rắn là tỷ số giữa lượng nước có trong một lượng chất thải

và khối lượng chất thải đó

Ví dụ: độ ẩm của thực phẩm thừa: 70%, Giấy: 60%, Gỗ: 20%, Nhựa: 2% Kích thước và sự phân bố:

Kích thước và sự phân bố các thành phần có trong CTR đóng vai trò quan trọng đối

với quá trình thu gom phế liệu, nhất là khi sử dụng phương pháp cơ học như sàn

quay và các thiết bị phân loại từ tính Khả năng giữ nước thực tế: Khả năng giữ nước thực tế của CTR là toàn bộ khối lượng nước có thể giữ lại trong mẫu chất thải dưới tác dụng của trọng lực Khả năng giữ nước của CTR là một chỉ tiêu quan

trọng trong việc tính toán, xác định lượng nước rò rỉ trong các bãi rác Khả năng

giữ nước thực tế thay đổi phụ thuộc vào lực nén và trạng thái phân huỷ của CTR

(không nén) từ các khu dân cư và thương mại dao động trong khoảng 50- 60%

b Tính chất hoá học của chất thải rắn: Các thông tin về thành phần hoá học

của vật chất cấu tạo nên CTR đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, lựa

chọn phương pháp xử lý và tái sinh chất thải Nếu CTR làm nhiên liệu cho quá

trình đốt thì 4 tiêu chí phân tích hoá học quan trọng nhất là: Phân tích gần đúng sơ

bộ: Phân tích gần đúng sơ bộ đối với các thành phần có thể cháy được trong CTR

bao gồm các thí nghiệm sau:

- Độ ẩm hay thành phần nước mất đi khi đem sấy khô ở 10 - 500

C trong một giờ -

Chất dễ bay hơi (theo khối lượng bị mất đi khi đem mẫu CTR đã sấy ở 10 - 500

C trong một giờ nung ở nhiệt độ 90 - 50C trong lò kín)

- Carbon cố định là lượng cacbon còn lại sau khi đã loại các chất vô cơ khác không

phải là cacbon trong tro khi nung ở 9500C, hàm lượng này thường chiếm khoảng

Trang 6

5 -12 % (trung bình là 7%) Các chất vô cơ khác trong tro gồm thuỷ tinh, kim

loại…đối với các chất thải đô thị, các chất vô cơ chiếm khoảng 15 – 30%

- Tro là thành phần còn lại sau khi đốt trong lò nung hở Phần bay hơi là phần chất

hữu cơ trong CTR Thông thường, chất hữu cơ dao động trong khoảng 40 – 60 % điểm nóng chảy của tro đểm nóng chảy của tro được định nghĩa là nhiệt độ mà ở

đó tro tạo thành từ quá trình chất thải bị đốt cháy kết dính tạo thành dạng xỉ Nhiệt

độ do nóng chảy đặc trưng đối với xỉ từ quá trình đốt CTR đô thị thường dao động

trong khoảng 1100 – 1200 0

C Phân tích thành phần nguyên tố tạo thành chất thải

rắn: Phân tích thành phần nguyên tố tạo thành chất thải rắn chủ yếu xác định phần trăm (%) của các nguyên tố C, H, O, N, S và tro Trong suốt quá trình đốt CTR sẽ

sinh ra các hợp chất Clor hoá nên phân tích cuối cùng cần quan tâm tới xác định

các halogen Kết quả phân tích cuối cùng được sử dụng để mô tả các thành phần

hoá học của chất hữu cơ trong CTR Kết quả phân tích còn đóng vai trò rất quan

trọng trong việc xác định tỉ số C/N nhằm đánh giá chất thải rắn có thích hợp cho

quá trình chuyển hoá sinh học hay không

Nhiệt trị của chất thải rắn: Nhiệt trị là giá trị nhiệt được tạo thành khi đốt CTR có

thể được xác định bằng một trong các phương pháp như:

- Sử dụng nồi hơi hay lò chưng cất quy mô lớn

- Sử dụng bình đo nhiệt trị (bơm nhiệt lượng) trong phòng thí nghiệm

- Tính toán theo thành phần các nguyên tố hoá học

c Tính chât sinh học của chất thải rắn Sự hình thành mùi Mùi hôi có thể phát sinh khi CTR được lưu trữ trong khoảng một thời gian dài ở vị trí thu gom,

trạm trung chuyển, bãi chôn lấp, ở những vùng khí hậu nóng ẩm thì tốc độ phát sinh mùi thường cao hơn Sự hình thành mùi hôi là kết quả phân huỷ yếm khí các

Trang 7

thành phần hữu cơ có trong rác đô thị Sự phát triển của ruồi: Vào mùa hè ở những

vùng có khí hậu nóng ẩm thì sự sinh trưởng và phát triển của ruồi là vấn đề quan

trọng cần được quan tâm tại nơi lưu trữ CTR Sự phát triển từ trứng thành ruồi

khoảng 9-11 ngày tính từ ngày đẻ trứng, đời sống của ruồi nhặng từ khi còn trong

trứng cho đến khi trưởng thành được mô tả như sau:

- Trứng phát triển 8 – 12h

- Giai đoạn đầu của ấu trùng 20h

- Giai đoạn hai của ấu trùng 24h

- Giai đoạn thứ 3 của ấu trùng 3 ngày

- Giai đoạn thành nhộng 4 -5 ngày Giai đoạn phát triển của ấu trùng trong các

thùng chứa rác đóng vai trò rất quan trọng và chiếm khoảng 5 ngày trong đời sống

của ruồi Vậy nên thu gom CTR trong thời gian này để các thùng lưu trữ rỗng nhằm

hạn chế sự di chuyển của các loại ấu trùng

Sự biến đổi tính chất lý học, hoá học và sinh học của chất thải rắn Các tính chất

của CTR có thể được biến đổi bằng các phương pháp lý, hoá, sinh học Khi thực

hiện quá trình biến đổi thì mục đích quan trọng nhất là mang lại hiệu quả bởi vì sự

biến đổi các đặc tính của CTR có ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch phát triển và

quản lý CTR

a.Biến đổi vật lý Phân loại CTR: Qúa trình này nhằm tách riêng thành phần

chất thải rắn nhằm chuyển chất thải từ dạng hỗn hợp thành dạng tương đối đồng

nhất để thu hồi các thành phần có thể tái sinh, tái chế Ngoài ra có thể tách những

thành phần chất thải nguy hại và những thành phần có khả năng tái thu hồi năng lượng Giảm thể tích bằng cơ học: Phương pháp nén, ép thường được sử dụng để

giảm thể tích chất thải, thường sử dụng những xe thu gom có lắp ghép bộ phận ép

Trang 8

nhằm làm tăng khối lượng rác thu gom trong một chuyến Những loại như giấy,

carton, nhựa, lon nhôm, lon thiếc khi thu gom thường được đóng kiện để giảm thể

tích chứa, chi phí xử lý và vận chuyển đồng thời phương pháp này còn làm tăng

thời hạn của các bãi chôn lấp chất thải

Giảm kích thước bằng cơ học nhằm làm giảm chất thải có kích thước đồng nhất và

nhỏ hơn kích thước ban đầu

b Biến đổi hoá học: Biến đổi hoá học nhằm làm thay đổi thành phần các pha

(ví dụ từ rắn sang lỏng, hoặc rắn sang khí) Mục đích là làm giảm thể tích và thu

hồi các sản phẩm biến đổi bao gồm các phương pháp sau: đốt: đốt là phản ứng hóa

học giữa oxy và các thành phần hữu cơ trong chất thải sinh ra các hợp chất thải bị

oxy hoá cùng với sự phát sáng và toả nhiệt Lượng không khí cấp dư đảm bảo quá

trình đốt xảy ra hoàn toàn, sản phẩm cuối của quá trình đốt cháy bao gồm không

khí nóng chứa CO2, H2O, không khí dư và phần không cháy còn lại Trong thực tế

ngoài những thành phần này còn có một lượng nhỏ các khí NH3, SO2, NOX, và các

khí vi lượng tuỳ thuộc vào bản chất của chất thải Nhiệt phân: Hầu hết các chất hữu

cơ đều không bền với quá trình nung nóng, chúng có thể bị phân huỷ qua các phản ứng bởi nhiệt độ và ngưng tụ trong điều kiện không có oxy tạo thành những sản

phẩm dạng rắn, lỏng, khí Khí hoá: Quá trình này bao gồm quá trình đốt cháy một

phần nhiên liệu Cacbon để thu nguyên liệu cháy và khí CO, H2 và một số nguyên tố hydrocacbon trong đó CH4

c Chuyển hoá sinh học: Biến đổi sinh học các thành phần hữu cơ trong chất

thải với mục đích là làm giảm thể tích và trọng lượng của chất thải, sản xuất phân

compost, các chất mùn làm cho ổn định đất, khí mêtan Các loại vi khuẩn, nấm, men đóng vai trò rất quan trọng trong việc biến đổi các chất hữu cơ Quá trình biến đổi này xảy ra trong điều kiện yếm khí và hiếu khí tuỳ thuộc vào sự hiện diện của

oxy tồn tại hai phương pháp là phân huỷ hiếu khí và phân huỷ kị khí

Trang 9

Qúa trình phân huỷ kị khí: Là quá trình chuyển hoá các chất hữu cơ trong chất thải

rắn đô thị trong điều kiện kị khí xảy ra theo 3 bước:

- Quá trình phân huỷ các hợp chất có phân tử lượng lớn thành những hợp chất thích

hợp là nguồn năng lượng

- Quá trình chuyển hoá các hợp chất sinh ra từ bước 1 thành các hợp chất có năng lượng thấp hơn

- Chuyển đổi các hợp chất trung gian thành các sản phẩm riêng lẻ, chủ yếu là CH4

và CO2

* Ưu điểm: - Chi phí đầu tư

- Thu hồi được khí phục vụ cho sản xuất

- Trong quá trình ủ sẽ tồn tại một số loại vi sinh, vi khuẩn gây bệnh vì nhiệt độ

thấp Khi ủ chất thải với khối lượng 1000 tấn/ ngày mới có hiệu quả về kinh tế

* Nhược điểm

- Thời gian phân hủy xảy ra khá lâu từ 4 – 12 tháng

- Khí sinh ra có mùi hôi và khó chịu gây ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng Quá

trình phân huỷ hiếu khí: Quá trình này dựa vào sự hoạt động của vi khuẩn hiếu khí

khi có mặt của oxy, khoảng hai ngày nhiệt độ tăng vào khoảng 450C sau đó 6-7

ngày nhiệt độ đạt từ 70 – 75% đây là nhiệt độ thích hợp cho vi sinh vật phân huỷ

chất hữu cơ

* Ưu điểm - Chi phí đầu tư thấp, sản phẩm phân huỷ thấp

- Chất thải phân huỷ nhanh sau 2– 4 tuần

- Vi sinh vật gây bệnh bị chết nhanh do nhiệt độ ủ tăng

Trang 10

* Nhược điểm - Chi phí xử lý cao

- Kỹ thuật phức tạp

- Trong quá trình vận hành cần duy trì một số đặc trưng trong quá trình ủ

4 T ốc độ phát sinh chất thải rắn

Các phương pháp dùng xác định khối lượng chất thải rắn Xác định khối lượng chất

thải rắn phát sinh và được thu gom là một trong những điểm quan trọng của việc

quản lý CTR Các số liệu đánh giá thu thập về tổng khối lượng chất thải phát sinh

cũng như khối lượng CTR được sử dụng nhằm:

- Hoạch định và đánh giá kết quả của quá trình thu hồi, tái sinh tái chế

- Thiết kế các phương tiện vận chuyển, thiết bị vận chuyển, xử lý chất thải rắn

a Đo thể tích và khối lượng: Trong phương pháp này cả khối lượng hoặc thể

tích của CTR đều được dùng để đo đạc lượng chất thải rắn Tuy nhiên phương pháp

đo thể tích thường có độ sai số cao để tránh nhầm lẫn lượng CTR nên được biểu

diễn dưới dạng khối lượng, khối lượng là thông số biểu diễn chính xác nhất lượng

CTR vì có thể cân trực tiếp mà không cần kể đến mức độ nén ép Biểu diễn bằng

khối lượng cũng cần thiết trong tính toán vận chuyển vì lượng chất thải được phép

chuyên chở trên đường thường quy định bởi giới hạn khối lượng hơn là thể tích

b Phương pháp đếm tải: Phương pháp này dựa vào xe thu gom, đặc điểm và

tính chất của nguồn chất thải tương ứng (loại chất thải, thể tích ước lượng) được

ghi nhận trong một thời gian dài Khối lượng chất thải phát sinh trong thời gian

khảo sát (gọi là khối lượng đơn vị) sẽ được tính toán bằng cách sử dụng các số liệu

thu thập được tại khu vực nghiên cứu trên và các số liệu đã biết

Trang 11

c Phương pháp cân bằng vật chất: đây là phương pháp cho kết quả chính xác

nhất, thực hiện cho các nguồn phát sinh riêng lẻ như các hộ gia đình, khu thương

mại, các khu công nghiệp Phương pháp này sẽ cho những dữ liệu đáng tin cậy cho chương trình quản lý CTR

Các yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ phát sinh chất thải rắn

- Ảnh hưởng của việc giảm thiểu và tái sinh chất thải tại nguồn: Có thể nói việc

giảm chất thải tại nguồn là phương pháp hiệu quả nhất nhằm làm giảm số lượng

CTR, giảm chi phí phân loại và các tác động bất lợi do chúng gây ra đối với môi trường Giảm thiểu chất thải tại nguồn phát sinh có thể thực hiện qua các bước như

thiết kế, sản xuất và đóng gói sản phẩm sao cho lượng chất thải ra chiếm một lượng

nhỏ nhất, thể tích vật liệu sử dụng ít nhất và thời gian sử dụng của sản phẩm dài

nhất Việc giảm chất thải có thể xảy ra ở mọi nơi như các hộ gia đình, các khu thương mại, các khu công nghiệp thông qua khuynh hướng tìm kiếm và mua những

sản phẩm hữu dụng và việc có thể tái sử dụng sản phẩm đó Nhưng trên thực tế

hiện nay thì giảm thiểu chất thải tại nguồn chưa được thực hiện một cách nghiêm

ngặt và đồng bộ nên không ước tính được ảnh hưởng của công tác giảm chất thải

tại nguồn tới việc phát sinh chất thải Tuy nhiên nó đã trở thành yếu tố quan trọng

cần được nhà nước và người dân quan tâm để giảm lượng chất thải trong tương lai đối với các hộ gia đình nên thực hiện việc tái sinh chất thải của khu dân cư hoạt động này ảnh hưởng lớn tới lượng chất thải thu gom để có thể tiếp tục đem xử lý

hoặc thải bỏ

- Ảnh hưởng của luật pháp: Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự phát sinh khối lượng CTR là sự ban hành các luật lệ, quy định liên quan tới việc sử dụng các vật

liệu và đổ bỏ phế thải ví dụ như quy định các loại vật liệu làm thùng chứa và bao

bì, quy định về việc sử dụng túi vải, túi giấy thay cho túi nilon…chính các quy định

này khuyến khích việc mua bán và sử dụng lại các loại chai, lọ chứa

Trang 12

- Ý thức người dân: Khối lượng CTR phát sinh sẽ giảm đáng kể nếu người dân

bằng lòng và sẵn sàng thay đổi ý muốn cá nhân, tập quán và cách sống của họ để

duy trì, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đồng thời giảm gánh nặng về kinh tế, điều

này có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý CTR Chương trình giáo dục thường xuyên là cơ sở dẫn đến sự thay đổi thái độ của công chúng

- Sự thay đổi theo mùa:Mùa lễ tết và mùa giáng sinh, đây là mùa mà nhu cầu tiêu

dùng của con người gia tăng kéo theo lượng rác thải ra môi trường cũng tăng theo Ngoài ra lượng rác thải sinh hoạt còn phụ thuộc vào thời tiết như mùa hè ở các nước ôn đới CTR thực phẩm chứa nhiều rau và trái cây

III Ô nhi ễm môi trường do chất thải rắn

1 Ảnh hưởng tới môi trường đất:

Rác khi được vi sinh vật phân huỷ trong môi trường hiếu khí hay kỵ khí nó sẽ gây

ra hàng loạt các sản phẩm trung gian và kết quả là tạo ra các sản phẩm CO2 vàCH4,

vơí một lượng rác nhỏ có thể gây tác động tốt cho môi trường nhưng khi vượt quá

khả năng làm sạch của môi trường thì sẽ gây ô nhiễm và thoái hoá môi trường đất Ngoài ra đối với một số loại rác không có khả năng phân huỷ như nhựa, cao su, túi

ni lon đã trở lên rất phổ biến ở mọi nơi, mọi chỗ đây chính là thủ phạm của môi trường vì cấu tạo của chất nilon là nhựa PE, PP có thời gian phân huỷ từ hơn 10 năm đến cả nghìn năm Khi lẫn vào trong đất nó cản trở quá trình sinh trưởng của

cây cỏ dẫn tới xói mòn đất Túi nilon làm tắc các đường dẫn nước thải, gây ngập lụt cho đô thị Nếu chúng ta không có giải pháp thích hợp sẽ gây thoái hoá nguồn nước

ngầm và giảm độ phì nhiêu của đất

Trang 13

2 Ảnh hưởng của chất thải rắn cho môi trường nước

Hiện nay do việc quản lý môi trường không chặt chẽ dẫn tới tình trạng vứt rác bừa

bãi xuống các kênh rạch, lượng rác này chiếm chủ yếu là thành phần hữu cơ nên sự

phân huỷ xảy ra rất nhanh và tan trong nước gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước như gây ra mùi hôi thối và chuyển màu nước Ngoài ra hiện tượng rác trên đường

phố không được thu gom, gặp trời mưa rác sẽ theo nước mưa chảy xuống các kênh

rạch gây ra tắc nghẽn các đường ống và ô nhiễm nước Ở các bãi chôn lấp rác nếu

không quả lý chặt chẽ sẽ gây ra tình trạng nước rác chảy ra đất sau đó ngấm xuống

gây ô nhiễm tầng nước ngầm

3 Ảnh hưởng đến môi trường không khí: Nước ta lượng rác sinh hoạt chiếm

thành phần chủ yếu là rác hữu cơ, hợp chất hữu cơ khi bay hơi sẽ gây mùi rất khó

chịu hôi thối ảnh hưởng rất lớn tới môi trường xung quanh Những chất có khả năng thăng hoa, phát tán trong không khí là nguồn gây ô nhiễm trực tiếp, rác có

thành phần phân huỷ cao như thành phần hữu cơ ở nhiệt độ thích hợp (350C và độ

ẩm 70 – 80%) vi sinh vật phân huỷ tạo ra mùi hôi thối và sinh ra nhiều loại chất khí

có tác động xấu tới sức khoẻ con người và môi trường đô thị

4 Ảnh hưởng tới sức khỏe con người và cảnh quan đô thị: Hiện tượng rác

vứt bừa bãi sẽ là nơi rất lý tưởng cho vi khuẩn, vi sinh vật và các loài côn trùng

phát triển, ruồi muỗi là nơi lan truyền các bệnh dịch Một số vi khuẩn và siêu vi

khuẩn gây các loại bệnh cho con người như sốt xuất huyết sốt rét và các bệnh ngoài

da khác Tại các bãi rác lộ thiên gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh

gây ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người

Trang 14

IV CÁC BI ỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN

ĐÔ THỊ

Việc quản lý chất thải rắn gồm nhiều khâu liên quan đến nhau từ nguồn phát sinh

tới nơi thải bỏ cuối cùng vì vậy cần có sự quản lý đồng bộ từ khâu thu gom vận

chuyển tới chôn lấp Một hệ thống quản lý tốt sẽ có các yếu tố tác động như : Trang

thiết bị, kỹ thuật, cơ cấu tổ chức, năng lực cán bộ, kinh nghiệm quản lý, luật pháp

1 Gi ải pháp về mặt chính sách

a Công cụ pháp lý Sử dụng các văn bản pháp lý để quản lý môi trường như

sau:

-Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27/12/1993 và được chủ

tịch nước công bố vào ngày 10-01-1994 theo nghị định 175/CP về hướng dẫn thi

hành luật bảo vệ môi trường được chính phủ ban hành ngày 18-10-1994

- Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam theo quyết định sô 229/QD/TC – LD- CL của

Bộ Trưởng Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường

- Nghị định số 26/CP của Thủ tướng chính phủ quy định xử phạt hành chính về bảo

vệ môi trường và thông tư số 3/TT-KCM của bộ khoa học công nghệ và môi trường hướng dẫn thi hành nghị định số 26/CP Các văn bản dưới luật và các quy định

pháp luật khác:

- Thông tư số 1448 – MTG của bộ khoa học công nghệ và môi trường hướng dẫn tổ

chức, quyền hạn và phạm vi hoạt động của thanh tra về bảo vệ môi trường

- Thông tư số 276 – TTMTG hướng dẫn về việc kiểm tra việc kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh sau khi quyết định phê chuẩn báo cáo về đánh giá tác động môi trường

Trang 15

-Thông tư số 81 – TT/MTG về thủ tục cấp, gia hạn, thu hồi giấy chứng nhận đạt

tiêu chuẩn môi trường cho các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất Một số văn bản

khác có liên quan tới quản lý chất thải rắn đô thị:

- Giám sát quản lý chặt chẽ hơn các hoạt động của tổ lấy rác dân lập, xử lý nghiêm

- Lập quỹ môi trường nhằm giảm thiểu các vấn đề rủi ro về môi trường

- Tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thông

- Tổ chức các lớp đào tạo huấn luyện về môi trường cho các đoàn thể, cá nhân, các

tổ chức chuyên nghành và cho cộng đồng

2 Các bi ện pháp khác

-Xây dựng đồng bộ các văn bản quy định, đảm bảo nâng cao hiệu lực của Luật Bảo

vệ môi trường

Trang 16

-Tổ chức đo đạc thường xuyên, phân tích chất thải rắn theo tỷ lệ trọng lượng các

thành phần cơ bản giúp cho các cấp quản lý có cơ sở đề ra những biện pháp tối ưu

quản lý chất thải một cách hiệu quả

- Huấn luyện đào tạo cán bộ phục vụ công tác quản lý chất thải rắn

- Tổ chức các hoạt động nhằm tuyên truyền giáo dục cho người dân về môi trường

- Trao đổi với các chuyên gia để học tập kinh nghiệm, kiến thức và tiếp thu công

nghệ tiên tiến trên thế giới

V CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN

Hiện có rất nhiều phương pháp xử lý chất thải rắn trong đó có 5 phương pháp xử lý

chính:

1 Phương pháp ổn định: CTR bằng công nghệ Hydromex đây là một công

nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng tại Hoa Kỳ (2/1996), công nghệ này nhằm xử

lý rác thải đô thị kể cả rác độc hại thành các sản phẩm phục vụ xây dựng, làm vật

liệu… Bản chất của công nghệ là nghiền nhỏ rác sau đó polyme hoà và sử dụng áp

lực lớn để nén, ép, định hình các sản phẩm Rác sau khi được thu gom (rác hỗn

hợp, kể cả rác cồng kềnh) chuyển về nhà máy, rác thải không cần phân loại được đưa vào cắt, nghiền nhỏ sau đó chuyển tới thiết bị trộn băng tải

Chất thải lỏng được pha trộn trong bồn phản ứng, các chất phản ứng trung hoà và

khử độc xảy ra trong bồn Sau đó chất thải lỏng từ bồn phản ứng được bơm vào các

thiết bị trộn; chất thải kết dính với nhau sau khi thành phần polyme được cho thêm

vào

Sản phẩm ở dạng bột ướt chuyển tới nhà máy ép khuôn và cho ra sản phẩm mới,

công nghệ này an toàn về mặt môi trường và không độc hại Ưu điểm Công nghệ đơn giản, chi phí không lớn Xử lý được cả chất thải rắn và lỏng Rác sau khi xử lý

Trang 17

bán thành phẩm Tăng cường khả năng tái chế, tận dụng lại chất thải, tiết kiệm diện tích đất làm bãi chôn lấp

2 Xử lý chất thải bằng phương pháp sinh học: Phương pháp sinh học với sự

tham gia của các vi sinh vật, xử lý bằng phương pháp này thực chất là một công

nghệ khép kín Rác sinh hoạt sau khi thu gom sẽ được băng tải để phân loại Rác

hữu cơ được tách riêng sau đó được nghiền nhỏ rồi đem ủ Trong khoảng 10 – 12

ngày sẽ diễn ra quá trình lên men sinh học kỵ khí và hiếu khí Quá trình phân huỷ

sinh học sẽ sinh ra các loại khí sinh học trong đó có khí metan Ơ những quy trình lâu năm khí metan có thể lên tới 60 -65% Còn tại quá trình lên men hiếu khí rác

hữu cơ sẽ được chuyển hóa thành phân vi sinh

Kết quả cho thấy khi tiến hành xử lý rác tại một số nhà máy ở Hà Nội và Thành

phố Hồ Chí Minh cho thấy mỗi tấn rác thải hữu cơ sau khi xử lý sẽ thu được

khoảng 300 kg phân và vi sinh và 5m3

khí sinh học Những sản phẩm này sẽ được

thu hồi và sử dụng trong sản xuất Có thể nói xử lý bằng công nghệ sinh học đã đem lại hiệu quả kinh tế hết sức thuyết phục nó có rất nhiều ưu điểm vượt trội như:

Tuy so vốn đầu tư ban đầu cao hơn từ 2 – 3 lần bãi chôn lấp nhưng tính tổng thể lượng thời gian sử dụng thì rẻ hơn các bãi chôn lấp rất nhiều

Nhà máy chỉ cần 20% diện tích bãi chôn lấp nên tiết kiệm được 80% đất đai Sản

xuất được lượng phân bón và lượng nhiệt đáng kể để phục vụ đời sống Qua phân

tích thành phần rác thải sinh hoạt cho thấy thành phần rác hữu cơ của thành phố

chúng ta chiếm khoảng 55 – 60% là tỷ lệ rất cao và thích hợp với phương pháp này

Theo các nhà chuyên môn thì tiềm năng rác để chế biến phân vi sinh và khí sinh

học của chúng ta là rất lớn Với tốc độ dân số tăng nhanh như hiện nay thì dự kiến năm 2020 lượng rác mà thành phố thải ra là 1.952.354 tấn/năm Lượng rác này sẽ

cho khoảng 3.619.600 m3 khí sinh học mà mỗi m3

khí sẽ cho khoảng 1.27kWh điện và 5.600kcal nhiệt trị

Trang 18

3 Xử lý rác thải bằng phương pháp đốt đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại chất thải nhất định không thể xử lý bằng các biện pháp khác đây là quá trình xử dụng nhiệt để chuyển đổi chất thải từ dạng rắn sang

dạng khí, lỏng và tro… đồng thời giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt Hay nói cách khác đốt rác là giai đoạn oxy hoá nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí trong đó có rác độc hại được chuyển hoá thành khí và chất thải rắn

không cháy

Các chất khí được làm sạch hoặc không được làm sạch thoát ra ngoài không khí,

chất thải rắn còn lại thì được chôn lấp

Ưu điểm: Xử lý triệt để các chất độc hại của chất thải đô thị Thu hồi năng lượng

nhiệt để tận dụng và mục đích quan trọng Hiệu quả xử lý cao đối loại chất thải hữu

cơ chứa vi trùng lây nhiễm như chất thải ytế cũng như chất thải nguy hại khác Nhược điểm: Vốn đầu tư ban đầu cao hơn rất nhiều so với các phương pháp xử lý

khác và việc thiết kế lò đốt phức tạp đòi hỏi năng lực kỹ thuật cao đối với các chất

thải có hàm lượng ẩm cao, hay các thành phần không cháy cao thì việc đốt rác

không thuận lợi

4 Phương pháp chôn lấp: Chôn lấp là phương pháp cổ điển nhất, kinh tế nhất

và có thể chấp nhận được về mặt môi trường Ngay cả khi áp dụng các biện pháp

giảm thiểu lượng chất thải, tái sinh, tái sử dụng và cả kỹ thuật chuyển hoá chất thải,

việc thải bỏ phần chất thải còn lại ra bãi chôn lấp vẫn là một khâu trong chiến lược

quản lý tổng hợp CTR

Ưu điểm: Phù hợp với vùng có diện tích đất rộng Xử lý được tất cả các loại CTR

kể cả CTR mà các phương pháp khác không thể xử lý triệt để hoặc không xử lý được Sau khi đóng cửa BCL có thể sử dụng với mục đích khác nhau như: bãi đỗ

xe, sân chơi, công viên Vốn đầu tư ban đầu, chi phí hoạt động BCL thấp hơn so

với các phương pháp khác Thu hồi năng lượng từ khí gas

Trang 19

Nhược điểm: Tốn rất nhiều diện tích đất, nhất là những nơi tài nguyên đất còn khan

hiếm Khó khăn trong việc kiểm soát lượng khí thải và nước rỉ rác Có nguy cơ gây

ra sự cố cháy nổ, gây nguy hiểm do sự phát sinh khí CH4, H2S Công tác quan trắc

chất lượng môi trường vẫn phải tiến hành sau khi đóng cửa

5 Công nghệ xử lý nhiệt phân rác đô thị: So vơi phương pháp chôn lấp và phương pháp đốt, phương pháp nhiệt phân với nhiệt độ thấp tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn như: cho ra sản phẩm chính là than tổng hợp có hàm lượng lưu huỳnh thấp có

thể dùng làm nhiên liệu cho nhà máy nhiệt điện, quy trình xử lý đơn giản, vì xử lý

trong nhiệt độ thấp (khoảng 500C) nên tránh được các nguy cơ phản ứng sản sinh ra

chất độc hại và hiệu quả xử lý cao

Trang 20

CHƯƠNG II : GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT

TH ẢI RẮN TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

I HI ệN TRạNG CHấT THảI RắN TPHCM

1 Kh ối lượng chất thải rắn: Thành phố Hồ Chí Minh mệnh danh là hòn ngọc viễn đông, là Pari của châu Á Nơi có một nền kinh tế phát triển nhanh chóng về tất cả

m ọi mặt, song song với sự phát triển mạnh mẽ đó thì khối lượng chất thải rắn được

th ải ra ngày càng nhiều

Theo số liệu của sở Tài Nguyên và Môi Trường TP.HCM mỗi ngày, thành phố thải

ra mỗi ngày khoảng 6.000 – 6.500 tấn, trong đó rác thải sinh hoạt là 4.936 tấn, rác

xây dựng là 1.069 tấn và rác y tế là 5,5 tấn và rác công nghiệp 1.000 tấn ngày trong

đó có khoảng 20% rác có tính chất độc hại Trong khi đó việc thu gom rác của

thành phố chỉ đạt được khoảng 5.000 – 5.300 tấn/ngày, lượng rác có thể tái chế và tái sinh được chỉ khoảng 700 – 900 tấn/ngày Lượng rác trong thành phố hàng ngày được giải quyết nhờ lực lượng quét dọn vệ sinh gồm 7.350 người trong đó có 2.950 người thuộc lực lượng tư nhân Rác từ các khu phố được chuyển tới 380 điểm hẹn

lấy rác trên địa bàn Thành phố bằng xe đẩy tay, các xe cơ giới đến lấy rác và

chuyển về trạm trung chuyển rồi mới đến khu xử lý rác Vấn 'đề đau đầu nhất của

các nhà quản lý là làm thế nào để có chỗ xử lý rác hợp vệ sinh mà không ảnh

hưởng đến khu vực dân cư đang sinh sống

2 Ngu ồn phát sinh ra chất thải rắn

- Từ các khu dân cư

- Từ các trung tâm thương mại

- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng

Trang 21

- Từ các dich vụ đô thị, sân bay

- Từ các hoạt động công nghiệp

- Từ các bệnh viện

- Từ các hoạt động xây dựng đô thị

- Từ các trạm xử lý nước thải

Hiện nay chất thải sinh hoạt và xà bần được vận chuyển về bãi rác Phước Hiệp –

Củ Chi Rác thải y tế được phân loại tại nguồn thu gom và vận chuyển và thu gom

theo quy trình riêng nhằm đảm bảo an toàn cho môi trường và cho sức khỏe cộng đồng Sau đó được đem đi đốt tại nhà máy xử lý rác thải y tế Bình Hưng Hoà quận

Bình Tân

1 Tổng quan về hệ thống thu gom và vận chuyển CTR sinh hoạt

Lực lượng thu gom và vận chuyển bao gồm các đội vận chuyển của Công Ty Môi Trường đô Thị TP.HCM (CITENCO), các công ty xí nghiệp công trình đô thị của

22 quận huyện, hợp tác xã vận tải công nông và hệ thống thu gom rác dân lập Kỹ

thuật thu gom vận chuyển rác sinh hoạt tại TP.HCM có 3 hình thức:

Hình thức 1: Hàng ngày chất thải sinh hoạt thu gom bằng xe đẩy tay và tập chung

tại các điểm hẹn Sau đó chất thải từ xe đẩy tay sẽ được bốc dỡ vào xe ép rác loại

nhỏ từ 2- 4 tấn và chuyển đến trạm trung chuyển Tại trạm trung chuyển, xe tải lớn hơn nhận CTR từ xe ép nhỏ và vận chuyển tới bãi chôn lấp

Hình thức 2: CTR được thu gom bằng xe đẩy tay và tập chung tại các điểm hẹn, sau

đó CTR từ xe đẩy tay sẽ được bốc dỡ lên xe ép lớn và trở trực tiếp tới bãi chôn lấp

Trang 22

Hình thức 3: CTR chứa sẵn trong các thùng rác 240L và 660L nằm dọc trên các

tuyến đường hay các nguồn phát sinh rác lớn như: chợ, khu thương mại, văn phòng

cơ quan được bốc dỡ bằng các loại xe ép loại nhỏ từ 2 – 4 tấn và chuyển đến trạm

trung chuyển Tại trạm trung chuyển xe tải lớn tiếp tục tiếp nhận chất thải từ xe tải

nhỏ và vận chuyển tới bãi chôn lấp Trong hình thức này nếu CTR từ các thùng

chứa được bốc dỡ bằng xe ép lớn nó sẽ được vận chuyển thẳng tới bãi chôn lấp

a Thu gom sơ cấp: Hoạt động thu gom sơ cấp bao gồm thu gom CTR phát sinh tư hộ dân cư, các trung tâm thương mại, cơ quan, chợ và đường phố Thu gom

chất thải rắn từ các hộ dân cư: Chất thải từ hộ dân cư được thu gom bởi sự trợ giúp

của các hộ dân la người dân tự đổ CTR vào phương tiện thu gom hoặc để CTR trước nhà và công nhân thu gom sẽ đổ vào các phương tiện thu gom

Phương tiện thu gom sau khi đầy rác sẽ được trở đến các bô chứa CTR, các trạm

trung chuyển hoặc các điểm hẹn và chờ xe ép rác tới dỡ tải Phương tiện thu gom

hiện nay chủ yếu là xe đẩy tay, gần đây là các xe ba gác cải tiến có trang bị các

thùng chứa 660L, ngoài ra còn có các loại xe ba gác đạp, xe ba gác máy cũ kỹ hoặc

các xe lam trở khách, các xe lavi cũng được dùng để chở CTR của các cơ quan xí

nghiệp Thu gom chất thải rắn từ chợ, cơ sở thương mại, sản xuất Hiện nay CTR

sinh hoạt từ các cơ quan, trường học, xí nghiệp, các chợ được các xe đẩy tay thu

gom (kết hợp với thu gom rác từ các hộ dân) và tập chung tại các điểm hẹn điều

này cũng làm cho số lượng các điểm hẹn cũng tăng lên và thời gian thu gom một

chuyến cũng dài hơn Vì vậy loại chất thải này cần được trang bị các thùng chứa

thích hợp và thu gom bằng các xe ép để đưa tới trạm trung chuyển hay chuyển trực

tiếp tới bãi chôn lấp

Thu gom chất thải rắn đường phố

Trang 23

Hiện nay CTR đường phố được thực hiện dưới hình thức : Công nhân chịu trách

nhiệm thu gom được trang bị chổi, dụng cụ hốt rác, xe đẩy tay để quét và thu gom

trên các tuyến đường phố, lề đường Khi xe đẩy tay đầy tải sẽ được đưa tới các bô

rác, trạm trung chuyển, hay tới các điểm hẹn để xe ép tới lấy tải Người công nhân

có thể tiếp tục công việc của mình ở nơi khác hoặc ngừng làm việc khi đã hoàn

thành nhiệm vụ Thời gian gần đây trên các đường phố đã được bố trí các thùng

240L dọc hai bên lề đường để cải tiến việc thu gom nhanh gọn hơn và đồng bộ với

các xe vận chuyển trong việc giao chất thải rắn và đảm bảo mỹ quan đô thị Tuy

nhiên các thùng chứa này bố trí chưa đồng đều và đôi khi không hợp lý

b Thu gom thứ cấp

Thu gom thứ cấp là hình thức tiếp theo của thu gom sơ cấp CTR sau khi được thu gom sơ cấp sẽ được chuyển tới các điểm hẹn các bô rác để được các xe tải có tải

trọng lớn hơn thu gom vận chuyển tới trạm trung chuyển hay trở trực tiếp tới

BCL.Nếu CTR từ việc thu gom sơ cấp được chuyển đến trạm trung chuyển thì sẽ

vận chuyển trực tiếp tới BCL Thu gom thứ cấp trên địa bàn thành phố được thực

hiện dưới hình thức sau Tại các điểm hẹn Hiện trên địa bàn thành phố có khoảng trên 380 điểm hẹn lấy rác các điểm hẹn này được xác định theo thoả thuận của

Công ty quận huyện với Công ty Môi Trường đô Thị Các điểm hẹn này được bố trí

trên các bãi đất trống hoặc ngay bên lề của đường phố Việc xếp và dỡ tải tại các điểm hẹn này thường gây cản trở giao thông do khối lượng CTR lớn nên thường

kéo dài thời gian giao rác

Tại các bô rác Hiện các bô rác thường được đặt tại các khu đất trống nên không

trực tiếp gây cản trở giao thông Hiệu quả trung chuyển từ các xe đẩy tay nên xe ép

và xe vận chuyển phụ thuộc vào loại xe sử dụng Một số xe được trang bị các bộ

phận cơ giới để nâng các xe đẩy tay vào đổ trực tiếp vào thùng chứa của xe cơ giới

Một số bô chứa rác người thu gom đổ CTR trực tiếp xuống đất để kịp thời đi

Trang 24

chuyến khác và CTR được xe xúc xúc lên xe tải và chở đến bãi chôn lấp Tuy nhiên

sử dụng bô rác là một công nghệ lạc hậu khi việc chuyển CTR được thực hiện bằng

xe xúc và xe tải ben Số lượng các bô chứa rác từ 30 nay đã dần dần được giải toả

và thay thế bằng các điểm hẹn lấy tải

III HI ệN TRạNG THU GOM – VậN CHUYểN CTR

Trên cơ sở 3 quy trình công nghệ thu gom vận chuyển CTR sinh hoạt hiện gồm:

- Thu gom từ vị trí chứa rác (điểm hẹn, thùng rác đường phố, xí nghiệp, công ty…)

về trạm trung chuyển;

- Vận chuyển từ trạm trung chuyển đến BCL;

- Thu gom và vận chuyển thẳng từ vị trí chứa rác đến bãi xử lý Hiện có 11 tuyến

vận chuyển chính đang được thực hiện:

- Tuyến thu gom từ điểm hẹn về trạm trung chuyển bằng các loại xe ép nhỏ loại 2

- Tuyến thu gom CTR từ các thùng chứa công cộng về trạm trung chuyển bằng xe

ép loại nhỏ 1,5 tấn, cự ly trung bình 14,69 km/lượt

- Tuyến thu gom CTR từ các thùng chứa công cộng về trạm trung chuyển bằng xe

ép loại nhỏ 2 tấn, cự ly trung bình 17,12 km/lượt

Trang 25

- Tuyến thu gom CTR từ chợ, cơ quan về trạm trung chuyển bằng xe cuồng, cự ly

IV ĐÁNH GIÁ Hệ THốNG QUảN LÝ THU GOM VÀ VậN CHUYểN CTR

1 Công tác quản lý: Nhìn chung hệ thống quản lý chất thải của thành phố Hồ chí minh đã đạt được rất nhiều thành quả đáng kể, tuy nhiên còn một số nhược điểm cần được khắc phục:

- Sự phân công trách nhiệm chưa rõ ràng, chưa có một sự thống nhất riêng cho từng

loại chất thải khác nhau Cơ chế quản lý còn mang nặng tính bao cấp mặc dù nước

ta đã có chính sách xã hội hoá

- Chưa tạo dựng một thị trường thống nhất về trao đổi và tái chế CTR nói chung và

CTR công nghiệp nói riêng, chỉ có 700 – 900 tấn/ngày chất thải rắn được tái chế

chiếm 12,6% 2 Hệ thống thu gom, vận chuyển

- Hiện nay việc thu gom chất thải chủ yếu sử dụng lao động thủ công và thực hiện

quét dọn chủ yếu vào ban đêm mà người dân sinh hoạt ban ngày Hơn nữa sự tham

gia của cộng đồng còn rất hạn chế, chưa khuyến khích người dân tham gia vào hoạt

Trang 26

động bảo vệ môi trường dẫn đến tình trạng mất vệ sinh chung trên địa bàn thành

phố

- Phần lớn chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt được thải bỏ lẫn lộn và được đưa tới bãi chôn lấp Hơn nữa hiện nay chỉ còn duy nhất bãi rác Phước Hiệp – Củ Chi là nơi chôn lấp, nó đang phải làm việc vượt quá công xuất thiết kế và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống người dân quanh đó

- Chưa có sự đầu tư thoả đáng lâu dài với các thiết bị thu gom, vận chuyển, phân

loại, xây dựng bãi chôn lấp đúng quy cách và công nghệ xử lý chất thải

- Xe thô sơ hở không kín đáy, không an toàn vệ sinh, các xe thu gom chưa được

chuẩn hoá và thiếu các phương tiện cơ giới, sự phối hợp các xe đẩy tay và xe cơ

giới chưa chặt chẽ dẫn tới các điểm hẹn trên đường phố bị ùn tắc thành những hàng

dài gây ảnh hưởng tới mỹ quan đường phố

- Các xe sau khi chở rác không rửa sạch sẽ dẫn tới mùi khó chịu điều này đã được người dân phản ánh rất nhiều mà chưa khắc phục được Ngoài ra một số xe đẩy tay được che chắn tạm bợ, một số còn cơi nới diện tích để tăng khối lượng thu gom

Khi thu gom từ hộ gia đình chủ yếu được cột bao nilông, sau khi lấy rác công nhân thường mở ra làm rơi vãi và gây mùi rất khó chịu cho người dân và ảnh hửơng tới

mỹ quan thành phố

- Hiện nay các thiết bị dùng trong việc chuyên chở CTR không đồng bộ và lạc hậu, không được bảo dưỡng và sửa chữa đúng cách Hiện nay số lượng xe ép còn rất

thiếu và không đồng bộ với việc thu gom ban đầu Trên thực tế hiện nay mỗi ngày

chỉ có 80% tổng số xe hoạt động số còn lại hoặc hư hỏng đột xuất hoặc đang trong

kế hoạch bảo dưỡng và sửa chữa, không có sẵn xe dự phòng để đáp ứng nhu cầu

thu gom, vận chuyển CTR trong giờ cao điểm và khi thực hiện bảo dưỡng định kỳ

Trang 27

3 Tình hình phân loại rác: Phân loại rác tại nguồn là một từ quá quen thuôc đối với người dân ở các nước phát triển nhưng còn quá mơ hồ đối với Thành phố

nhộn nhịp nhất Việt Nam Hiện nay trên địa bàn thành phố mới chỉ thực hiện thí

điểm phân loại rác tại nguồn được ở một số quận như 1, 4, 5,6,10

Hiện tượng phân loại rác mới được thí điểm ở một số quận chưa được phổ biến

rộng rãi khiến cho khó khăn trong công tác thu gom rác, hoạt động thu hồi đa số được thực hiện bởi những người lao động nghèo sống bằng nghề bới rác việc này

càng làm hoạt động thu hồi khó khăn ngoài ra nó còn gây mùi khó chịu khi và lây

nan một số bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng tới sức khoẻ con ngươì

4 Tái chế: Theo số liệu ước tính của Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM,

mỗi ngày TP đổ ra khoảng 6.000 – 6.500 tấn chất thải rắn Trong khi đó việc thu

gom chi khoảng 5.000 – 5.300 tấn/ngày Lượng rác tái chế tái sinh được 700 – 900

tấn/ngày Hiện TP chưa có thị trường thống nhất về trao đổi tái chế chỉ có một phần

nhỏ chất thải rắn công nghiệp được thu hồi và tái chế

5 Xử lý rác: Hiện nay phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn

quận chủ yếu vẫn là chôn lấp Theo kế hoạch của Thành phố là phấn đấu từ nay tới năm 2010 sẽ giảm khối lượng chôn lấp rác dưới 20% bằng việc cho xây thêm nhiều

nhà máy xử lý rác thải, tăng cường công nghệ xử lý và tái chế chất thải Tuy nhiên điều đó là chuyện của 5,10 năm tới còn trước mắt là việc Thành phố đang thiếu bãi

chôn lấp rác Lượng rác thải hiện đang đổ dồn về Phước Hiệp Củ Chi khiến nơi này

quá tải dẫn tới hiện tượng sụt, lún diễn ra nghiêm trọng

Trang 28

CHƯƠNG III: TỔNG QUAN VỀ QUẬN 6

Quận 6 nằm về phía Tây Nam thành phố Hồ Chí Minh, bắc giáp với quận Tân Phú

và Quận 11 có ranh giới dọc theo rạch Lò Gốm, đại lộ Hồng Bàng; đông giáp với

Quận 5, có ranh giới dọc theo đường Nguyễn Thị Nhỏ, qua bến xe Chợ Lớn, đường

Ngô Nhân Tịnh; nam giáp với Quận 8, có ranh giới kênh Bến Nghé (bến Trần Văn

Kiểu cũ ); tây giáp với quận Bình Tân, có ranh giới là đường An Dương Vương

Quận 6 có chợ đầu mối Bình Tây là 01 trong những trung tâm bán buôn lớn của cả nước Thế mạnh của Quận 6 là thương mại, dịch vụ; trong đó chủ yếu là buôn bán

thực hiện trao đổi sản phẩm với các tỉnh miền Tây Nam Bộ, bên cạnh đó với phần đông là dân lao động, có đông người Hoa có nhiều kinh nghiệm, nhạy bén trong

sản xuất - kinh doanh, phát triển mạnh về sản xuất tiểu thủ công nghiệp

Quận 6 có tổng diện tích tự nhiên là 7,14 km2

, chiếm 0,34% diện tích tự

nhiên của toàn thành phố Dân số hiện nay của Quận 6 là 252.811 người (thời điểm

Tổng điều tra dân số tháng 4 năm 2011), mật độ dân số bình quân 35.408

người/km2, trong đó nữ chiếm 53% Địa bàn Quận 6 được chia thành 14 phường (Phường 01 – Phường 14 với 74 khu phố và 1311 tổ dân phố); thành phần dân tộc, người Kinh chiếm 73,31%, người Hoa chiếm 26,10%, còn lại là người Chăm, Khơ

- me, Tày, Nùng…Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “thương mại - dịch

vụ - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp” đã được Đảng bộ Quận 6 xác định từ

nhiệm kỳ VII (1996-2000), qua đó đã tạo sự chuyển biến rõ nét, tích cực trong phát

triển kinh tế - xã hội của địa phương giai đoạn 2000-2010

Trang 29

Có thể nói, trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế nêu trên, thông qua việc triển

khai thực hiện các giải pháp cụ thể, Quận 6 đã phát huy nội lực, thu hút vốn đầu tư

Trang 30

trong và ngoài nước cho sự nghiêp phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.Đặc

biệt trong nhiệm kỳ IX (2005-2010), Quận 6 đã tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ

cấu kinh tế theo hướng “thương mại - dịch vụ - công nghiệp - tiểu thủ công

nghiệp”, đẩy mạnh thực hiện đề án “Các giải pháp phát huy nội lực, thu hút đầu tư,

chuyển dịch kinh tế”, phát triển vững chắc các ngành công nghiệp thực phẩm, cao

su - nhựa, cơ khí, chế tạo máy, giày da, dệt may với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 17,55% Nhiều doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây

dựng, hóa mỹ phẩm, luyện kim, chế biến thực phẩm, thuộc da, dệt nhuộm, đông

lạnh thủy hải sản đã từng bước đổi mới công nghệ tiên tiến, hoạt động rất hiệu quả như Công ty cổ phần gạch Đồng Tâm, Công ty bút bi Thiên Long, Công ty hóa mỹ

phẩm Mỹ Hảo, nhà máy Lưới thép Bình Tây, Công ty liên doanh Cát Tường,

Công Lĩnh vực dịch vụ - thương mại không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động,

tổng doanh thu tăng dần hàng năm (năm 2011 đạt 60.430,322 tỷ đồng, tăng 27,22%

so cùng kỳ năm 2010) với sự chủ động và nỗ lực cao của hệ thống chợ, các siêu thị, Trung tâm thương mại, Hợp tác xã vận tải, doanh nghiệp dịch vụ du lịch, hơn 82

Chi nhánh - Văn phòng giao dịch, 61 nhà hàng, khách sạn đạt tiêu chuẩn tại Quận

Kim ngạch xuất nhập khẩu cũng tăng cao (năm 2011 đạt 498,290 triệu USD, tăng

18,2% so cùng kỳ năm 2010; nhập khẩu đạt 218,5 triệu USD, tăng 20,5% so cùng

kỳ năm 2010)

Thu ngân sách nhà nước hàng năm đều tăng Đặc biệt, trong nhiệm kỳ IX

(2005-2010) tổng thu ngân sách nước tăng bình quân hàng năm 13,98%, thu ngân sách địa phương cũng tăng bình quân hàng năm 10,41% Riêng trong năm 2011,

tuy còn những khó khăn chung, song thu ngân sách nhà nước cũng đạt 719,522 tỷ đồng, bằng 113,36 % kế hoạch năm, tăng 16,71% so cùng kỳ năm 2010 Thu ngân sách địa phương đạt 480,306 tỷ đồng, bằng 128,32 % so kế hoạch năm, tăng 8,76%

so cùng kỳ năm 2010 Điều này cho thấy, kinh tế của Quận 6 ở những năm 2009-

Trang 31

2011 tuy có chịu sự tác động trước những khó khăn chung của Thành phố và cả nước, song vẫn đảm bảo tăng trưởng so với kế hoạch năm và tăng so với cùng kỳ năm 2010 Góp phần vào thành tích đó, tại Quận 6 xuất hiện những mô hình, những đơn vị điển hình tiên tiến về sản xuất kinh doanh như Công ty cổ phần dược phẩm

OPC, Công ty cổ phần nhựa Bình Minh, Công ty cổ phần SX-TM nhựa Hiệp

Thành, Công ty TNHH sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên, Công ty cổ phần

CN-TM đầu tư Phú Lâm, Công ty TNHH may thêu Thuận Phương, Công ty cổ phần

thực phẩm Bình Tây, Công ty TNHH Tường Phát…

Về phát triển đô thị, trong những nhiệm kỳ qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ

2005-2010, Quận đã tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cấp, cải tạo, mở rộng 20 tuyến đường giao thông chính cùng với các đường hẻm, đường trong khu dân cư mới với

tổng chiều dài 36.793 mét Các cầu Đặng Nguyên Cẩn, cầu Ông Buông 1 và 2,

kênh Lò Gốm cũng được nâng cấp và mở rộng cùng với việc nâng cấp, cải tạo hệ

thống bưu chính viễn thông, điện lực, nguồn nước sinh hoạt Nhiều khu nhà lụp

xụp, nhà ổ chuột, nhà ven kênh trước đây nay được di dời, bố trí tái định cư theo dự

án nâng cấp đô thị thành phần số 4 “Cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa - Lò

Gốm” thuộc tiểu dự án nâng cấp đô thị thành phố trên địa bàn Quận 6; nhiều khu

vực đã được quy hoạch, đổi mới cảnh quan kiến trúc theo hướng hiện đại, thông

thoáng và sạch đẹp như khu dân cư Bình Phú, khu nhà ở Him Lam, khu nhà ở của

cán bộ chiến sĩ Đài ra - đa, Chung cư hẻm 336 Nguyễn Văn Luông, Chung cư 242

Bà Hom, các khu tái định cư phường 10, phường 11 Có thể nói về đầu tư hạ tầng

cơ sở, Quận 6 đã tạo được bước chuyển lớn, làm thay đổi diện mạo một quận nghèo vùng ven trước đây nay trở thành một quận có cảnh quan văn minh, hiện đại, góp

phần vào việc xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại

Trang 32

Về đầu tư xây dựng cơ bản, trong những nhiệm kỳ qua, việc đầu tư xây dựng cơ

bản luôn được Quận 6 tập trung nhằm làm thay đổi diện mạo của Quận 6, nâng

mức sống, sinh hoạt của người dân Riêng trong nhiệm kỳ IX, tổng mức đầu tư đạt và trong năm 2011, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận lần

thứ X (2010-2015), tổng mức đầu tư ước đạt 1.421,014 tỷ đồng; trong đó vốn ngân

sách tập trung Thành phố là 1.363,225 tỷ đồng, bằng 160,71% kế hoạch; vốn ngân

sách phân cấp Thành phố là 10,562 tỷ đồng, đạt 100 % kế hoạch năm, vốn hoán

chuyển cơ sở là 11,110 tỷ đồng, đạt 100 % kế hoạch năm và vốn ngân sách Quận là

36,117 tỷ đồng, đạt 100 % kế hoạch năm Hoàn thành đưa vào sử dụng trường

THPT Nguyễn Tất Thành, trường Tiểu học Phú Định, trường Mầm non Rạng Đông

10, khu vui chơi thiếu nhi (giai đoạn 1), Trung tâm bồi dưỡng chính trị Quận 6, lắp đặt trang thiết bị Bệnh viện Quận, nâng cấp mở rộng diện tích sử dụng trường

THCS Lam Sơn, trường THCS Bình Tây, hẻm 178 Hậu Giang

Công tác quản lý nhà nước về đô thị, vệ sinh môi trường luôn được duy trì thường

xuyên và có nhiều chuyển biến tích cực Quận đã phê duyệt 4/7 đồ án quy hoạch

chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 khu dân cư liên phường (khu dân cư liên

Phường 1-2; khu dân cư liên phường 3-4; khu dân cư liên phường 7-8; khu dân cư liên phường 5-6-9 và một phần phường 12); hiện còn lại 03 đồ án quy hoạch như: khu dân cư liên Phường 13-14, liên phường 10-11 và khu dân cư Phú Lâm thuộc Phường 13, 14 đang được Sở Quy hoạch Kiến trúc thẩm định

Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được tập trung, đầu tư và có nhiều tiến bộ, đảm bảo các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi công cộng cho dân cư Trong năm,

thực hiện chủ đề “Năm 2011, Năm vì trẻ em”, ngoài việc tập trung tổ chức các hoạt động phục vụ vui chơi, giải trí cho các em; được sự đầu tư và hỗ trợ của UBND

Thành phố, Quận đã lập dự án đầu tư xây dựng Khu vui chơi giải trí cho trẻ em tại

Trang 33

Công viên Phú Lâm - Trung tâm Văn hóa Quận với tổng vốn đầu tư 20 tỷ đồng; đã hoàn thành đưa vào sử dụng giai đoạn 1 với kinh phí là 5,05 tỷ đồng Hệ thống trường lớp tiếp tục được mở rộng, trang thiết bị dạy và học tiếp tục được đầu tư, đáp ứng nhu cầu học tập của con em quận 6 và các quận lân cận; hiện Quận đã rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch trường lớp giai đoạn 2010 - 2020

Công tác giảm nghèo, tăng hộ khá tiếp tục được Quận 6 tập trung theo lộ trình đề ra, tổng

số hộ đang vay Quỹ xóa đói giảm nghèolà 1.228 hộ với số tiền 8,66 tỷ đồng, đến năm

2011, 14/14 phường đạt chỉ tiêu 100% hộ nghèo có mức thu nhập trên 10 triệu

đồng/người/năm, trong đó có 50% hộ nghèo có mức thu nhập đạt trên 12 triệu

đồng/người/năm

Cũng trong năm 2011, Quận 6 đã chăm lo cho dân nghèo, diện chính sách nhân dịp Tết nguyên đán Tân Mão 2011 với tổng số tiền là 6,322 tỷ đồng; trợ cấp 104 em học sinh là con thương binh liệt sĩ với số tiền là 87 triệu đồng, 1.066 đối tượng người có công cách

mạng khó khăn với số tiền là 240,2 triệu đồng; xây dựng 10 căn nhà tình nghĩa với số tiền

là 283 triệu đồng, sửa chữa 11 căn nhà chính sách với số tiền là 87,8 triệu đồng; giải quyết

việc làm cho 11.647 lao động, đạt 116,5% kế hoạch năm

Lãnh đạo, tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HĐND thành phố khóa VIII nhiệm kỳ 2011 - 2016 đảm bảo đúng quy trình, dân

chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và đạt được các yêu cầu đề ra Thực hiện tốt

công tác diễn tập phương án xử lý tình huống tập trung đông người tuần hành, phá

rối an ninh, trật tự, bạo loạn chính trị kết hợp diễn tập phòng thủ DT-2011 đạt yêu

cầu đề ra Đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn trong các đợt cao điểm, nhất là trong thời gian diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần

thứ XI, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HĐND thành phố

khóa VIII Phạm pháp hình sự được kéo giảm 4,21% so với cùng kỳ, điều tra, khám phá đạt 62,26%, tăng 3,83% so cùng kỳ

Ngày đăng: 28/03/2023, 16:07

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w