Export HTML To Doc Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, chi ti[.]
Trang 1Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất
Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất Các bài
văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, chi tiết, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh trên cả nước Mời các em cùng tham khảo nhé!
Mục lục nội dung
Tìm hiểu tác giả Tế Hanh và bài thơ Quê hương
Dàn ý Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8
Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất - Bài mẫu 1
Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất - Bài mẫu 2
Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất - Bài mẫu 3
Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất - Bài mẫu 4
Trang 2Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất - Bài mẫu 5 Tìm hiểu tác giả Tế Hanh và bài thơ Quê hương
Trước khi phân tích bài thơ Quê hương, bạn cần nắm được những nét chính về tác giả Tế Hanh cũng như bài thơ Quê hương
1 Đôi nét về nhà thơ Tế Hanh
Tế Hanh (sinh năm 1921 – mất năm 2009) có tên khai sinh là Trần Tế Hanh Ông sinh thành tại một làng chài ven biển ở xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Làng chài có dòng sông Trà Bồng bao quanh ấy chính là hình ảnh để lại ấn tượng đậm sâu trong lòng nhà thơ
và trở đi trở lại rất nhiều trong những sáng tác của nhà thơ sau này Tế Hanh có khoảng thời gian gắn bó, học tập ở làng quê sau đó ông có cơ hội ra Huế học trung học vào năm 15 tuổi
Cái duyên của Tế Hanh với thơ ca xuất phát từ niềm ham mê thuở nhỏ khi có cha làm nghề dạy học Bên cạnh đó, khoảng thời gian học tập ở Huế đã cho ông nhiều trải nghiệm với thơ ca khi được gặp gỡ những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, được tiếp xúc với những bài thơ trữ tình, lãng mạn của Pháp, ông bắt đầu có những sáng tác đầu tay
Đến năm 1945, ông đã bắt đầu “dấn thân” vào sự nghiệp cách mạng và hoạt động văn hóa văn nghệ ở Liên khu V Khoảng thời gian tập kết ra Bắc vào năm 1954 cũng là thời gian Tế Hanh gắn bó với các hoạt động ở Hội Nhà văn Việt Nam Đó là dịp để ông có thể thể hiện khả năng sáng tác của bản thân và chính nhờ những nỗ lực của mình mà năm 1996, Tế Hanh đã nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Trang 3Bên cạnh những tác phẩm viết về niềm khát khao cháy bỏng Nam Bắc hai miền sum họp một nhà, Tế Hanh thường được biết đến với những sáng tác viết về những bài thơ thể hiện nỗi nhớ thiết tha, trìu mến với quê hương bằng giọng thơ nhỏ nhẹ, hiền hòa và đằm thắm Ông có những tác phẩm có thể kể đến như: “Hoa niên” (năm 1945, còn có tên khác là “Nghẹn ngào”), “Gửi miền Bắc” (năm 1955), “Tiếng sóng” (năm 1960), “Hai nửa yêu thương” (năm 1963), và “Khúc
ca mới” (năm 1966)…
2 Tìm hiểu nội dung chính bài thơ Quê hương
Trước khi phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh, ta cần nắm được hoàn cảnh cùng những nét chính về tác phẩm này “Quê hương” là bài thơ được rút ra từ tập “Nghẹn ngào” (năm 1939) Đây là một trong những sáng tác đầu tay, cũng là bài thơ mở đầu cho nguồn cảm hứng lớn về quê hương của suốt đời thơ Tế Hanh Bài thơ được viết theo thể thơ 8 chữ với âm hưởng khỏe khoắn, đã diễn tả được những tình cảm đậm đà, sáng trong mà nhà thơ dành cho làng chài “cách biển nửa ngày sông” của nhà thơ
Dàn ý Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8
1 Mở bài
- Giới thiệu vài nét về nhà thơ Tế Hanh:
+ Tế Hanh (1921 - 2009) là một trong những nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam trong giai đoạn phong trào thơ mới cũng như giai đoạn thơ tiền chiến, tác giả của rất nhiều bài thơ về chủ đề quê hương đất nước
- Giới thiệu khái quát về bài thơ Quê hương:
+ Bài thơ Quê hương đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền
biển bằng cảm xúc chân thành giản dị của Tế Hanh với quê hương
2 Thân bài
* Khái quát về bài thơ
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ viết năm 1939, khi Tế Hanh đang học tại Huế trong nỗi nhớ quê hương - một làng chài ven biển tha thiết Bài thơ được rút trong tập Nghẹn ngào (1939) và sau đó được in trong tập Hoa niên (1945)
- Mạch cảm xúc: Bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, yêu mến những con người lao động cần cù, tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ
* Phân tích bài thơ
Trang 4- Bức tranh làng quê miền biển trong nỗi nhớ của tác giả (2 câu đầu):
"Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông"
+ "Vốn làm nghề chài lưới": làng nghề truyền thống đánh bắt cá từ bao đời
+ Vị trí địa lí: làng quê sát ngay bờ biển, “nước bao vây”
=> Lời giới thiệu giản dị, mộc mạc không hoa mĩ, rườm rà thể hiện được sự gắn bó, hiểu biết cùng nỗi nhớ của đứa con xa quê đối với làng quê thân thuộc trong tâm tưởng
- Cảnh lao động của người dân làng chài (6 câu tiếp theo)
+ Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá
Thời gian bắt đầu: "Sớm mai hồng" => gợi niềm tin, hi vọng
Không gian: “trời xanh”, “gió nhẹ”
=> Không gian thiên nhiên hiền hoà, tươi sáng và tràn đầy sức sống hứa hẹn một chuyến ra khơi bình an, thuận lợi
"Dân trai tráng": hình ảnh con người hiện lên trong một vóc dáng khoẻ khoắn, tràn đầy sinh lực
Chiếc thuyền “hăng như con tuấn mã”: phép so sánh thể hiện sự dũng mãnh của con thuyền khi lướt sóng ra khơi, sự hồ hởi, tư thế tráng sĩ của trai làng biển
“Cánh buồm như mảnh hồn làng”: phép ẩn dụ "cánh buồm" chính là linh hồn của làng chài, hồn quê hương cụ thể gần gũi, đó là biểu tượng của làng chài quê
Phép nhân hóa “rướn thân trắng” kết hợp với các động từ mạnh: con thuyền từ tư thế bị động thành chủ động
=> Cảnh tượng lao động hăng say, hứng khởi tràn đầy sức sống
“con thuyền” được nhân hóa “im bến mỏi trở về nằm” kết hợp với nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác -> Con thuyền như một con người lao động, biết tự cảm nhận thân thể của mình sau một ngày lao động mệt mỏi
Trang 5 "Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy khoang": người dân làng chài biết ơn mẹ thiên nhiên đã giúp đỡ để có một cuộc đánh bắt thuận lợi, mang về những thành quả tốt đẹp -> một nét đẹp trong phẩm chất của người dân chài
=> Bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển và hình ảnh khỏe khoắn, tràn đầy sức sống, tinh thần lao động của người dân làng chài, gợi tả một cuộc sống bình yên, no ấm
- Nỗi nhớ da diết, tình cảm thắm thiết của tác giả với quê hương:
+ “màu nước xanh”, “cá bạc”, “chiếc buồm vôi”, “con thuyền rẽ sóng”,…
-> Một loạt các hình ảnh của làng quê được liệt kê thể hiện nỗi nhớ quê hương chân thành, da diết của tác giả
=> Từng hình ảnh giản dị đời thường của quê hương khắc sâu trong tâm khảm của nhà thơ
"Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!"
+ “mùi nồng mặn”: mùi của biển khơi, cá tôm, mùi của con người là hương vị đặc trưng của quê hương miền biển
=> Câu cảm thán không hề khoa trương mà với cùng mộc mạc chân tình như một lời nói thốt ra
từ chính trái tim của người con xa quê với một tình yêu thủy chung, gắn bó với nơi đã bao bọc mình
3 Kết bài
- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ
+ Nội dung: Bài thơ đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển Trong đó nổi bật lên hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài và cảnh sinh hoạt lao động chài lưới Qua đó cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ
+ Đặc sắc nghệ thuật: Thể thơ tám chữ phóng khoáng, bộc lộ cảm xúc giản dị, tự nhiên; hình ảnh liên tưởng, so sánh, nhân hóa độc đáo; ngôn ngữ giản dị, mộc mạc; giọng điệu nhẹ nhàng, da diết; kết hợp các phương thức miêu tả và biểu cảm, trữ tình; hình ảnh thơ giàu tính sáng tạo và gợi cảm
- Liên hệ với lòng yêu quê hương, đất nước
Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất - Bài mẫu 1
Trang 6Quê hương luôn là đề tài không bao giờ cạn kiệt đối với các thi sĩ Mỗi người có một cách nhìn, cách cảm nhận riêng, đặc trưng về quê hương của mình Chúng ta bắt gặp những bài thơ viết về quê hương của Đỗ Trung Quân, Giang Nam Trong đó không thể không kể đến bài thơ
“Quê hương” tác giả Tế Hanh
“Quê hương” là hai tiếng thân thương, được tác giả dùng làm nhan đề của bài thơ Mở đầu bài thơ bằng sự mộc mạc, chân thành mà sâu sắc:
“ Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.”
Làng nhà thơ là một làng chài lưới, chỉ có một câu thơ đầu thôi nhưng nhà thơ đã giới thiệu được cho chúng ta nghề truyền thống của làng mình Hẳn là chúng ta khi đọc những câu thơ ấy lên thấy được những trân trọng của nhà thơ khi nhắc đến làng nghề truyền thống của mình Cách giới thiệu rất giản dị, gần gũi và quen thuộc Và làng chài ấy như một cái cù lao giữa biển, chỉ cách biển “nửa ngày sông” Và cuộc sống sinh hoạt của người dân vùng này cũng theo nếp đó
mà hình thành:
“ Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.”
Trang 7Đoàn thuyền nối đuôi nhau rời bến lúc bình minh Cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp Bầu trời ca lồng lộng đồng điệu với lòng người phơi phới Hình ảnh những chàng trai vạm vỡ, khỏe mạnh, cùng với con thuyền băng băng lướt sóng đã in đậm trong tâm trí nhà thơ:
“ Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió ”
Biện pháp so sáng chiếc thuyền đi với vận tốc của một con tuấn mã cho thấy cảnh tượng ra khơi hào hùng và nhanh nhẹn thể hiện sự hăng say công việc của người dân nơi đây Một đoàn thuyền đi đi nhẹ nhưng mà hăng phăng mái chèo rẽ sóng vượt trường giang Không thể không kể đến cánh buồm kia được tác giả ví von như mảnh hồn làng Một phép so sánh thật độc đáo khi lấy cái hữu hình là “cánh buồm” so sánh với cái vô hình là “mảnh hồn làng” Làm sao ta biết mảnh hồn làng ấy là gì, ở đâu, có hình dạng ra sao, đặc điểm thế nào, nhưng có lẽ đối với Tế Hanh thì đó là hồn cốt làng chài, tình cảnh hậu phương, dấu hiệu của những con người quê hương ông Đi kèm với so sánh, ông đã nhân hóa cánh buồm như một sinh thể biết “rướn thân”
để đón gió giống như tâm hồn con người quê hương đang hướng tấm lòng mình đến một thế giới tương lai bao la, tốt đẹp
Và sau những chuyến ra khơi mỏi mệt, con thuyền lại bỗng chốc hóa hiền lành:
“ Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.”
Nhớ trời yên bể lặng cho nên những người dân noi đây đã kéo được rất nhiều cá Hình ảnh tấp nập ồn ào trên bến đỗ cho thấy được sự vui vẻ của con người nơi đây Cuộc sống lao động là vậy đấy nếu như không có những ghe cá đầy kia thì làm sao mà họ có thể vui được Trời yên bể lặng không chỉ con người được bình yên mà còn thu được về những con cá thân bạc trắng Đó là thành quả mà công sức của người dân đạt được
Những câu thơ tiếp theo nhà thơ miêu tả vẻ đẹp của con người quê hương ông Họ không có những vẻ đẹp của một làn da trắng thanh lịch của trai tráng hà nội mà họ có vẻ đẹp chỉ có người làng chài mới có:
“ Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Trang 8Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.”
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng, cái nắng của biển khơi, của sóng gió cuộc đời đã tôi rèn và làm nên nét rắn chắc của con người miền biển Đó là màu nâu của đất đai, của quê hương dung dị, của tâm hồn mộc mạc, của những nhớ và thương vô ngần trong thơ Tế Hanh Cả thân hình họ đượm vị biển khơi, nồng thở vị xa xăm “ Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ” Như thế con thuyền cũng mang hơi thở quê hương, cũng mang một linh hồn, một ao ước, một lối sống nơi đây Tế Hanh đã phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn đó như một điều bình dị trong cuộc sống này
Có lẽ cũng chính vì những cảm giác như thế mà nhà thơ:
“ Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá.”
Nhà thơ đã lớn lên trên quê hương ấy và ông đã đi xa nơi đó rồi chính vì thế mà lòng nhà thơ luôn tưởng nhớ đến Đúng vậy “ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” Một người con khi đi xa vì sự nghiệp không thể nào nguôi nỗi nhớ quê hương Nhớ màu nước xanh, nhớ thân cá bạc, nhớ chiếc buồm vôi, nhớ cả cảnh những chiếc thuyền rẽ sóng ra khơi và nhà thơ cảm nhận được cái mùi nồng mặn xa xăm của quê biển
Thật vậy, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh không chỉ là riêng tình cảm của tác giả giành cho quê hương; mà bài thơ này còn nói hộ rất nhiều tấm lòng khác đang ở xa quê hương Chúng
ta càng trân trọng hơn nữa mảnh đất chân rau cắt rốn, yêu hơn nữa những điều bình dị nhưng thiêng liêng
Phân tích bài thơ Quê hương lớp 8 ngắn nhất - Bài mẫu 2
Quê hương luôn là đề tài không bao giờ cạn kiệt đối với các thi sĩ Mỗi người có một cách nhìn, cách cảm nhận riêng, đặc trưng về quê hương của mình Chúng ta bắt gặp những bài thơ viết về quê hương của Đỗ Trung Quân, Giang Nam, Tế Hanh Trong đó sự nhẹ nhàng, mộc mạc của bài “Quê hương” tác giả Tế Hanh khiến người đọc xốn xang khi nhớ về nơi đã chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tâm hồn của mình
Bài thơ mở ra bằng hai câu thơ có ý nghĩa khái quát nhưng nội dung không chỉ có ý thuyết minh hạn hẹp:
“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Trang 9Nước bao vây cách biển nửa ngày sông”
Một cách nói thật bình dị mà dễ đi vào lòng người biết mấy: “làng tôi ở” và qua đó ông giới thiệu về nghề nghiệp của người dân quê ông: nghề chài lưới Đó là một cách rất tự nhiên của một người con xa quê kể cho chúng ta về làng chài quê mình, làng chài ấy nghe thật giản dị, bình thườn như bao làng chài khác nhưng toát lên một không khí chỉ là quê hương của riêng tác giả, không lẫn vào đâu Và làng chài ấy như một cái cù lao giữa biển, chỉ cách biển “nửa ngày sông”
Và cuộc sống sinh hoạt của người dân vùng này cũng theo nếp đó mà hình thành:
“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”
Đúng là mọt câu thơ có nhạc, có họa Đẹp vô ngần với màu sắc của bức tranh vùng trời vùng biển giữa một sớm mai hồng với gió nhẹ, trời xanh như có sức thanh lọc và nâng bổng tâm hồn Cũng đẹp vô ngần là nhạc điệu, tiết tấu Bằng nhịp 3/2/2, câu thơ như mặt biển dập dềnh, con thuyền ra khơi nhịp nhàng với những cơn sóng chao đi lượn xuống, như một sự nâng đỡ, vỗ về Không dùng kích thước để đếm đo, thay vào đó là một tấm lòng đưa tiễn, dịu ngọt, thân thương, trìu mến Tuy nhiên hình ảnh trung tâm vẫn là hình ảnh con thuyền Con thuyền với nhà thơ, với những trai tráng khỏe mạnh, con thuyền mang khuôn mặt họ, sức sống niềm vui của họ Sự hồ hởi trong phút lên đường của con thuyền trên mặt biển được so sánh với con tuấn mã vượt đường
xa là một liên tưởng độc đáo Con thuyền vì thế mang một vẻ đẹp riêng, sức sống riêng Dân trai tráng trên con thuyền ấy vốn bình thường cũng trở thành những tao nhân, tráng sĩ Cánh buồm trên con thuyền ấy, trong một phút xuất thần đã được đặc tả, được linh diệu hóa rất hay:
“Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…”
Thiêng liêng biết bao, sâu nặng biết bao, nó như những “mảnh hồn làng”, nghĩa là một thứ hồn vía quê hương thân thuộc đến bâng khuâng Các động từ tình thái trong hệ thống ấy là chủ động, một sự chủ động hào hùng thể hiện khả năng sức mạnh, “thâu góp gió” đầy chất lãng mạn, thi nhân Ta có thể nhận ra rằng phép so sánh ở đây không làm cho việc miêu tả cụ thể hơn mà
đã gợi ra một vẻ đẹp bay bổng mang ý nghĩa lớn lao Đó chính là sự tinh tế của nhà thơ Cũng có thể hiểu thêm qua câu thơ này là bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng mưu sinh của người dân chài đã được gửi gắm vào cánh buồm đầy gió Dấu chấm lửng ở cuối đoạn thơ tạo cho ta ấn tượng của một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa sóng nước mênh mông, hình ảnh con người trên chiếc tàu nhỏ bé không nhỏ nhoi đơn độc mà ngược lại thể hiện sự chủ động, làm chủ thiên nhiên của chính mình
Nếu cảnh đoàn thuyền ra khơi được nhà thơ miêu tả bằng bút pháp lãng mạn bay bổng thì cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về lại được miêu tả thực đến từng chi tiết
“Ngày hôm sau ồn ào trên bên đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
Trang 10Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng”
Sau một ngày lăn lội trên biển thì cuối cùng những đoàn thuyền đã nối đuôi nhau kéo về bến Những người dân làng hồ hởi cùng nhau ra đón những đoàn tàu trở về thắng lợi Họ tạ ơn trời đất
đã ủng hộ nên chuyến ra khơi mới được xuôn sẻ như thế Những người dân biển hơn ai hết hiểu được sự nguy hiểm khi ra biển Có thể những chuyến ra biển sẽ gặp những cơn bão tố dữ dội khiến họ khó mà quay trở lại đất liền bình yên được Chỉ có những người dân bám biển lâu năm
họ mới thấu nỗi vất vả của người dân làng chài Tác giả cũng là một người con của làng chài nên tác giả cũng phần nào thấu hiểu được sự cực nhọc đó Vì thế trong giọng điệu của từng câu thơ ta
ta thấy tác giả cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi mà đoàn thuyền đánh cá đã trở về bình yên đầy ắp những con cá tươi ngon Sau chuyến ra khơi vất vả là cảnh làng chài đi vào nghỉ ngơi
“Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc tuyền im bến mới trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”
Với lối tả thực, thân hình người làng chài hiện ra vơi “làn da ngăm rám nắng” tiếp sau đó là
“thân hình nồng thở vị xa xăm”chỉ với hai câu thơ tác giả đã miêu tả tầm vóc và linh hồn của người dân chài biển Đó là những sinh thể được tách ra từ biển, mang vị mặn mòi của biển mang theo cả những hương vị của biển, họ chính là những đứa con của biên khơi Hình thể và sức vóc
đó chỉ có những người dân chài mới có được Hai câu thơ tiếp theo dùng để nói những con thuyền đang neo đậu trên bến đỗ Nhà thơ không chỉ thấy con thuyên nằm im mà còn thấy sự mệt mỏi của nó Đây là một hình ảnh sáng tạo trong bài thơ Cũng như dân chài thì con thuyền có vị mặn của biển và sau một chuyến ra khơi dài thì nó cũng thấm dần cái mệt Có lẽ chất mặn mòi kia đã thấm sâu vào trong từng hơi thở của nhà thơ bởi thế mà ta thấy những thứ tinh tế tài hoa trong cách hành văn của nhà thơ Bởi thế mà nhà thơ cũng nhớ nó thương nó đên tột cùng và ông
đã dành những câu thơ cuối cùng để dành cho nỗi nhớ đó:
“Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh cá bạc chiếc thuyền vôi Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”
Trong nỗi niềm “tưởng nhớ” ấy, dường như chỉ cần nhắm mắt lại là cảnh và người lại hiển hiện rõ mồn một Bởi nó đã nhập tâm, nhập vào kí ức của thi nhân thời bé dại ấu thơ Nó sẽ còn
là hành trang đi suốt cuộc đời Cảnh và người ấy hiện ra bằng màu sắc và bằng đường nét y như thật, y như đương diễn ra Bởi màu nước xanh, bởi màu cá bạc, cả chiếc buồm vôi nữa chỉ ở quê