1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích bài thơ VB của Tố Hữu

25 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích bài thơ VB của Tố Hữu
Tác giả Tố Hữu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 74,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích bài thơ VB của Tố Hữu

Trang 1

Phân tích bài thơ VB của Tố Hữu

Tố Hữu một hồn thơ dân tộc, một nhà thơ lớn trong nền văn học Việt nam Có thể nói những tác phẩm của ông không chỉ thể hiện tư tưởng, lẽ sống của bản thân  mình mà qua đó ta còn thấy được những sự kiện quan trọng của cách mạng nước nhà.Sau chiến thắng Điện Biên Phủ bộ đội ta phải chuyển lực lượng thủ đô và chia tay với chiến khu VB Kẻ ở người đi lòng không khỏi nhớ thương nuối tiếc tình quân dân trong mười lăm năm khánh chiến Nhân sự kiện trọng đại cùng với tâm trạng nỗi niềm ấy Tố Hữu đã viết bài thơ VB

Mở đầu bài thơ VB là cuộc chia tay của những người kháng chiến và những người dân nơi đây:

“Mình về mình có nhớ ta ……….Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ”

Tám câu thơ đầu là khung cảnh cũng như tâm trạng của cuộc chia tay Bao giờ cũng vậy

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”

Sau bao nhiêu năm chung sống ở mảnh đất VB, sống trong tình quân dân chan hòa nồng thắm ấy thế

mà nay những người chiến sĩ đành phải cất bước ra đi Mảnh đất gắn bó như thế bây giờ cũng phải chiatay Cặp xưng hô mình ta thể hiện sự gần gũi thân thiết của cản bộ và người dân Cái tình cảm ấy giốngnhư những người thân trong gia đình mình vậy Bốn câu thơ đầu là lời của người ở, những người dân

VB hỏi đầy lưu luyến rằng người chiến sĩ có còn nhớ mười lăm năm thiết tha mặn nồng ấy Không biết rằng những người chiến sĩ về có còn nhớ không, nhớ con người, nhớ núi rừng nơi đây Những người chiến sĩ cách mạng cũng như đáp lại những ân tình ấy Trong lòng người chiến sĩ ấy cũng lưu luyến những kỉ niệm nơi đây không khác gì so với người dân Các chiến sĩ như cảm nhận được sự tha thiết trong câu hỏi của những người dân ấy Lòng các chiến sĩ bâng khuâng, bồn chồn không muốn bước Cóthể nói các từ láy ấy đã thể hiện phần nào cảm xúc trong lòng người  chiến sĩ Nghệ thuật hoán dụ với hình ảnh “áo chàm” chính là để chỉ người dân Viêt Bắc bịn rịn trong màu áo ấy đưa tiễn các chiến sĩ vềvới thủ đô Kẻ ở người đi mà cầm tay nhau nhưng lại không biết nói lên điều gì Có lẽ không cần nói

mà cả hai đều biết được những ý nghĩa trong lòng nhau

Thế rồi trong hoàn cảnh ấy toàn thể những con người ở lại cất lên lời nói để nhắc lại những kỉ niệm trong mười lăm năm thiết tha mặn nồng ấy:

“Mình đi, có nhớ những ngày … Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Vẫn tiếng gọi mình thiết tha những người dân VB nhắc lại những ngày mưa nguồn suối lũ về, cả trời đất mây mù che kín Khoảng khắc khó khăn ấy người dân luôn có những chiến sĩ kề bên Hay người chiến sĩ kia về thì có nhớ đến chiến khu hay không, chiến khu ấy nghèo chỉ có cơm chấm muối thế nhưng nó tràn đầy những niềm yêu thương cưu mang đùm bọc của nhân dân nơi đây Và trong hoàn cảnh chiến tranh khó khăn như thế miếng cơm chấm muối kia là đã quá đầy đủ rồi Mối thù nặng vai người chiến sĩ, người dân như san sẻ gánh nặng ấy cho người chiến sĩ Những người chiến sĩ về Hà Nội

có còn nhớ đến rừng núi đất trời nơi đây Và bây giờ trám bùi thì để rụng còn măng mai để già Những

gì của thiên nhiên VB vốn là để cho những chiến sĩ cách mạng thì giờ đây người đi những thứ ấy lại để rụng để già Những từ nhớ như điệp đi điệp lại nhiều lần như vang vào trong lòng người những nhớ

Trang 2

thương không muốn rời Cặp xưng hô mình ta như biến hóa thành nhiều nghĩa, cứ lúc thì chỉ người ở lại nhưng lúc lại chỉ người ra đi Điều đó thể hiện sự yêu thương gắn bó của những con người nơi đây với các anh chiến sĩ Kẻ ở như thâu tóm cả thiên nhiên và con người VB với những tình cảm của một tấm lòng son sắc không phai Những địa danh được nhắc đến như chứng minh cho những trận chiến thắng mà các anh chiến sĩ đã lập nên tại đây.

Trước những lời chia tay thương nhớ thiết tha ấy, người chiến sĩ cách mạng cũng như trải lòng mình nói lên những tâm tư tình cảm gắn bó:

“Ta với mình, mình với ta ………Chày đêm nện cối đều đều suối xa ”

Tố Hữu cũng học cách nói dân dã như chính những người nhân dân nơi đây vậy Dù người chiến sĩ cách mạng ra đi thế nhưng trong lòng vẫn không thể nào quên được những kỉ niệm tình cảm ấy Nghĩa tình giữa kẻ ở và người đi tựa như nước trong con suối kia vậy Nó dào dạt ào ạt mãi mãi Và những người chiến sĩ vẫn mãi đinh ninh một lời thề sắc son với người dân VB Từng kỉ niệm gắn bó như đượcthuật lại trong từng câu nói của người ra đi Từ kỉ niệm về bát cơm thì sẻ nữa, chăn sui đắp cùng Nhớ

cả những người mẹ VB với dáng hình địu con lên nương hái bắp Một vẻ đẹp cần cù chịu thương chịu khó của nhân dân Không những thế cả những giây phút cùng nhau học cái chữ quốc ngữ nữ Đó là thái

độ trật tự nghiêm túc của tất cả mọi người Và những giờ liên hoan trong ánh đuốc lập lòe, những ngày tháng ấy như mãi khắc sâu vào trong tâm trí của người ra đi Để mãi khi về đến thủ đô gió ngàn vẫn không sao quên tiếng mõ rừng chiều cùng chày đêm nện cối Qua đây ta thấy được những tấm lòng của

cả hai bên dành cho nhau vô cùng nồng ấm và tha thiết

Các anh chiến sĩ lại kể tiếp về những hình ảnh thiên nhiên nơi đây hiện lên qua những lời kể ấy thật sự rất đẹp Những câu thơ như vẽ lên một bức tranh tứ quý nơi đây, bốn mùa thiên nhiên hiện lên vô cùng đẹp:

“Ta về, mình có nhớ ta ………Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung ”

Có thể nói rằng xưng hô mình ta lại một lần nữa được thay đổi, Ta ở đây chính là những người chiến sĩ cách mạng Còn mình chính là những người dân ở lại Những người chiến sĩ ấy cũng đã hỏi những người ở lại rằng có nhớ họ không Hỏi như thế nhằm thể hiện sự lưu luyến yêu thương với mảnh đất và con người ở đây Không biết rằng họ có nhớ không còn những người chiến sĩ lại nhớ cả hoa cùng người Hoa kia chính là để chỉ cho thiên nhiên VB Sau câu hỏi và sự bày tỏ tình,những người chiến sĩ nhắc đến những cảnh vật và hoạt động của con người VB gắn liền với bốn màu xuân hạ, thu, đông Thếnhưng nhà thơ lại chọn miêu tả thiên nhiên và con người nơi đây vào mùa đông trước bởi vì họ đến đâyvào mùa đông và ra đi cũng vào mùa đông Mùa đông hiện lên với hình ảnh của những hình ảnh của rừng xanh và màu đỏ tươi của hoa chuối Con người hiện lên với vẻ đẹp kiên cường chinh phục tự nhiên Mùa xuân, cảnh VB hiện lên với rừng hoa mơ trắng tinh khiết, con người thì hiện lên với vẻ đẹp của sự cần mẫn trong lao động Xuân qua hè đến thiên nhiên được thay từ màu trắng hoa mơ thành màuvàng của rừng phách Người con gái hái măng một mình Đến mùa thu thiên nhiên lại ngập tràn trong ánh trăng rằm soi sáng Người chiến sĩ nhớ đến những người nhân dân VB với khúc hát ân tình thủy chung Như vậy qua từng ấy câu thơ thiên nhiên và con người VB hiện lên thật đẹp như đang níu giữ bước chân người ra đi

Thế rồi hàng loạt những địa danh gắn liền với những hoạt động cách mạng của những người chiến sĩ được nhà thơ liệt kê ra như để khắc sâu vào trong tâm thảm mỗi người chiến sĩ về tình quân dân đã làmnên chiến thắng vang dội:

Trang 3

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng ……… Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà ”

Chính thiên nhiên cũng như đang che chở cho những người con VN Những núi đá dựng thành chiến hào thành quách để che chở cho người chiến sĩ và nhân dân nơi đây khỏi những bom đạn của quân thù

Và khi ấy cả bộ đội cả dân quân đều cùng nhau làm nên lịch sử Trên dưới một lòng quyết tâm đánh địch Người về nhưng trong vẫn nhớ đến những khoảng khắc đánh trận và những địa danh kia

Và thế rồi không ai bảo ai cả kẻ ở người đi đều nhớ đến những ngày ráo riết chuẩn bị hành quân cho cuộc chiến đấu chống lại chiến dịch của thực dân Pháp Khi ấy chính là lúc tình quân dân thể hiện rõ nhất:

“Những đường VB của ta …………Vui lên VB, đèo De, núi Hồng ”

Đó là cảnh hành quân của những người chiến sĩ và nhân dân VB Tất cả đồng lòng như một, Ánh sao

để chỉ người chiến sĩ còn mũ nan chính là những người dân quân VB Cả hai cùng đồng lòng trong chiến dịch Điện Biên Phủ Những đoàn dân quân với những ngọn đuốc trên tay như soi sáng cả bầu trời

VB Ngọn đuốc ấy như một lý tưởng quyết tâm chiến đấu để bảo vệ ĐN đánh đuổi kẻ thù Khí thế của tất thẩy với sức mạnh giống như là nát đá Bằng biện pháp nghệ thuật phóng đại sức mạnh của nhân dân ta như được thể hiện rõ hơn Nghìn đêm nhân dân ta phải sống trong cảnh khó khăn vất vả, cuộc sống khó khăn như đêm tối vậy Thế rồi hình ảnh “đèn pha” bật sáng như lên thể hiện một niềm tin vàotương lai tươi sáng của những nhân dân ta Họ đã sống trong khốn khổ để bật phá rũ bùn đứng dậy đấu tranh vì một niềm tin vào tự do hạnh phúc Bọn giặc kia sẽ phải cút ra khỏi ĐN ta trả lại cho nhân dân

ta một cuộc sống tự do và toàn vẹn lãnh thổ Vậy là sau bao nhiêu khổ cực khó khăn nhân dân ta đã dành được chiến thắng Tin vui ấy vui trăm mình Từ Hòa Bình, đến Tây Bắc và Điện Biên cũng như chung vui với niềm chiến thắng ấy Tất cả những địa danh ấy đều như thể hiện niềm vui của cả nước

Để kết cho niềm vui lẫn niềm nhớ thương lưu luyến không muốn rời ấy nhà thơ cất lên những niềm tự hào về dân tộc Đồng thời đó cũng là những giây phút nhớ về cảnh sinh hoạt đảng, biết bao nhiêu việc bàn luận ở hang động núi rừng:

Ai về ai có nhớ không………Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào ”

Ngày những người chiến sĩ trở về với miền xuôi nghe trong lòng vẫn bâng khuâng nhớ đến những ngàytháng cùng nhau kháng chiến Những cuộc họp những niềm vui đều được thể hiện trong những câu thơ cuối này Lá cờ đỏ sao vàng như chứng minh cho thắng lợi của nhân dân ta Ở đâu còn rợp bóng quân thù thì ở đó có Đảng và Bác Hồ Chính vì thế mà tất cả hãy trông về miền Bắc mà nuôi chí bền Vì chỉ khi có chí mới làm nên được mọi việc, thắng trận ngay cả khi quân thù có đủ điều kiện hơn ta về mọi mặt Mười lăm năm kháng chiến sẽ còn mãi trong lòng những người chiến đấu và cả nhân dân ở đây nữa Bao nhiêu gian khổ là bấy nhiêu tình cảm

Trang 4

Phân tích bài thơ VB của Tố Hữu

- Tố Hữu được mệnh danh là ngọn cờ đầu của phong trào thơ cách mạng Thơ ông là vũ khí để tuyên truyền, cổ động tinh thần chiến đấu cũng như nêu cao tình yêu và tinh thần yêu nước mãnh liệt Mặc dù thơ ông viết về chính trị nhưng không hề khô khan, ngược lại rất tình cảm Bài thơ “VB” sáng tác sau khi chiến thắng thực dân Pháp, tác giả muốn gợi lại tình quân dân thắm thiết, ân tình và sâu nặng trong cuộc kháng chiến Bài thơ được viết theo thể đối đáp càng gợi lên sự bình dị, ấm áp và than quen đến lạ lùng

- Bài thơ VB được viết theo thể lục bát tạo nên âm hưởng nhẹ nhàng, trầm bổng mà lắng sâu trong lòng người đọc Đây chính là một sự khéo léo tạo nên thành công của bài thơ chính trị mà trữ tình, dạt dào cảm xúc này

- Những câu thơ chính là tâm trạng của người ở lại trong sự níu kéo và tiếc nuối khi phải chia xa những người chiến sỹ cách mạng đã bao nhiêu năm gắn bó Tác giả đặt đại từ “ta” và “mình” thểhiện sự gắn bó khăng khít, son sắt và chung thủy Tác giả đã đứa ra quãng thời gian cụ thể là

“mười lăm năm ấy” – quãng thời gian rất dài gắn liền với cuộc chiến tranh ác liệt của nhân dân

ta với thực dân Pháp Đó cũng chính là quãng thời gian tình quân và dân thiết tha, nặng tình nặng nghĩa Lòng người ra đi và người ở lại tràn ngập nỗi nhớ thương, nhìn đâu đâu cũng thấy bóng dáng của những điêu xưa cũ, còn vẹn nguyên và tinh khôi ở trong lòng Tố Hữu dường như đã gieo vào lòng người đọc cái cảm giác vấn vương một cách lạ lùng Tâm trạng quyến luyến, bịn rịn của người ở lại khiến cho người ra đi không khỏi bồn chồn không muốn rời chân bước đi:

- Tâm sự của người ở lại khiến cho người ra đi không đành lòng bước đi Tiếng nói đó lại làm chực trào nhớ thương và những kỉ niệm khó quên Tâm trạng ấy được gói gọn trong từ “bang khuâng” như dung dằng, níu kéo chẳng muốn bước đi Thật khó để có thể hiểu được cảm xúc của người trong cuộc lúc này Lúc này đây chính tâm trạng của người ra đi và người ở lại đều không thể lý giải được là tại sao lại như vậy Phải chăng tình yêu đã quá lớn và kỉ niệm đã quá đầy để có thể quay mặt bước đi Suốt 15 năm sống và gắn bó với mảnh đất nơi đây, đồng đội và đồng bào đã phải trải qua bao nhiêu cay đắng, ngọt bùi, san sẻ cho nhau từng bữa cơm giấc ngủ Những năm tháng gian khổ ấy đâu chỉ kể với nhau trong vài câu chữ như thế này, nhưng chính câu chữ đã khiến cho cảm xúc tràn ra, không thể thôi nhớ và thôi mong Người ra đi đã đáp trả lại tình cảm người ở lại:

- « Ta » và « mình dường như hòa quyện với nhau thành một thể thống nhất, không tác rời nhau Người ra đi một mực khẳng định rằng « mặn mà đinh ninh » Hai từ « đinh ninh » như ghim chặtvào lòng người đọc tấm lòng son sắt và thủy chung trước sau như một Đó là tình cảm hết sức thiêng liêng và cao cả

- Khi nhớ về núi rừng VB tác giả nhớ tất thảy thiên nhiên và con người nơi đây Mọi thứ hiện lên đều rất sống động, đậm nghĩa, vẹn tình Chỉ với vài bước phác họa bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người nơi đây hiện lên một cách vẹn tròn, ý nghĩa, tươi đẹp nhất :

- Một bức tranh tứ bình tuyêt đẹp, sống động và tinh khôi và núi rừng VB Trong bức tranh ấy không chỉ có hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ mà còn xuất hiện thêm hình ảnh con người

Trang 5

chân chất, mộc mạc nhưng lại tình cảm và ý nghĩa biết bao.Có lẽ đây là đoan thơ hay nhất, đẹp nhất, trữ tình nhất trong bài thơ VB Nó chính là điểm sáng để cả bài thơ tràn đầy tình yêu thương và tinh thần lạc quan nhất.

- Diệp từ nhớ được lặp đi lặp lại rất nhiều lần khiến cho nỗi nhớ trong cả bài thơ dường như tràn

ra lênh láng, cảm xúc của tác giả cũng như vỡ òa, dội lên mãnh liệt

- Với giọng điệu không còn dìu dặt, tha thiết đặc trưng của thể lục bát nữa mà đã chuyển sang sự hào hùng, vang dội khi kể về những trận chiến giữa núi rừng VB Đọc những vần thơ này, chúng

ta nhận ra được hài khí Đông A thật mãnh mẽ và quyết liệt, dữ dội trong lòng của tác giả

Những năm tháng đó, những cuộc chiến đó vẫn chưa hề xóa nhòa trong lòng quân và dân

- Thực vậy, bài thơ « VB » của Tố Hữu với giọng điệu thiết tha, da diết và hào hùng, đanh thép đãgợi mở về tình quân dân đậm đà thắm thiết và tinh thần yêu nước mãnh liệt của nhân dân ta Đọc bài thơ chúng ta thêm ngưỡng mộ và khâm phục sự tài tình của Tố Hữu

Trang 6

Bức tranh tứ bình trong VB

Tố Hữu được xem là “lá cờ đầu” trong phong trào thơ Cách mạng Việt Nam với những tác phẩm lưu mãi với thời gian Thơ ông viết về chính trị nhưng không khô khan, mà ngược lại, dễ đi sâu vào lòng người bởi tình cảm và giọng văn trữ tình truyền cảm “VB” được sáng tác trong hoàn cảnh chia ly tiễn biệt giữa quân và dân tại căn cứ địa VB sau kháng chiến chống Pháp Bài thơ được xem như lời tâm tình chan chứa nỗi niềm của Tố Hữu đối với mảnh đất anh hùng này Đặc biệt người đọc chắc hẳn sẽ không quên bức tranh tứ bình bằng thơ tuyệt đẹp trong “VB”

Xuyên suốt bài thơ “VB” là dòng tâm tư, tình cảm chan chứa và sâu lắng của Tố Hữu dành cho quân vàdân từng tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ Người đọc sẽ bắt gặp những hình ảnh gần gũi, đời sống bình dị, cả những con người chân chất VB qua lời thơ Tố Hữu Phải có một tình cảm

da diết, phải là người “nặng” tình thì Tố Hữu mới thổi hồn vào từng câu đối đáp bằng thơ lục bát nhuầnnhuyễn như vậy

Có thể nói rằng điểm sáng của cả bài thơ toát lên từ bức tranh tứ bình tuyệt đẹp của núi rừng VB qua giọng thơ dìu dặt, trầm bổng của Tố Hữu Người đọc sẽ được chìm đắm trong khung cảnh hữu tình, nên thơ của “xứ Tiên” này

Khổ thơ được mào đầu bằng câu đối đáp nhẹ nhàng giữa “ta” – “mình”:

Dẫn dắt người đọc cùng tham quan cảnh tiên nơi VB, Tố Hữu đã vẽ lên một bức tranh mùa đông ấm

áp, tràn đầy tin yêu:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Người đọc ngẩn ngơ trước mùa đông nơi vùng cao Tây Bắc với vẻ đẹp đặc trưng của nó Phải nói rằng tuy là mùa đông nhưng qua thơ Tố Hữu, cảnh sắc không buồn, không trầm lắng, mà người lại rất sáng, rất ấm áp qua hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi” Màu đỏ của hoa chuối chính là nét điểm xuyết, là ánh sánglàm bừng lên khung cảnh rừng núi mùa đông VB Đây được xem là nghệ thuật chấm phá rất đắc điệu của Tố Hữu giúp người đọc thấy ấm lòng khi nhớ về VB Ánh nắng hiếm hoi của mùa đông hắt vào con dao mang theo bên người của người dân nơi đây bất chợt giúp người đọc thấu được đời sống sinh hoạt và lao động của họ Màu đỏ của hoa chuối quyện với màu vàng của nắng trên đèo cảo đã tạo thànhmột bức trang mùa đông rạng rớ, đầy hi vọng

Trang 7

Bức tranh mùa xuân ở núi rừng VB hiện lên thật trữ tinh, thơ mộng như tiên cảnh:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Đọc hai câu thơ này, người đọc dường như mường tượng ra khung cảnh mùa xuân nơi núi rừng thật hiền hòa, dịu êm, ấm áp Màu trắng của mơ gợi lên một bức tranh nên thơ trên cái nền dịu nhẹ của màu sắc Hoa mơ được xem là loài hoa báo hiệu mùa xuân ở Tây bắc, cứ vào độ xuân thì, chúng ta sẽ bắt gặp treenn những con đường màu sắc ấy Mùa xuân Tây Bắc, Tố Hữu nhớ đến hình ảnh “người đan nón” với động tác “chuốt từng sợi giang” thật gần gũi Động từ “chuốt” được dùng rất khéo và tinh tế khi diễn tả về hành động chuốt giang mềm mại, tỉ mỉ của người đan nón Phải thật sâu sắc và am hiểu thì Tố Hữu mới nhận ra được điều này Chữ “chuốt” như thổi hồn vào bức tranh mùa xuân ở VB, tạo nên sự hòa hợp thiên nhiên và con người

Bức tranh mùa hè sôi động dưới ngòi bút của Tố Hữu:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Tiếng ve kêu vàng giữa “rừng phách” đã làm nên cái động giữa muôn vàn cái tĩnh Màu vàng của rừng phách là đặc trưng báo hiệu mùa hè về trên xử sở vùng cao Tiếng ve như xé tan sự yên tĩnh của núi rừng, đánh thức sự bình yên nơi đây Từ “đổ” dùng rất đắc điệu, là động từ mạnh, diễn tả sự chuyển biến quyết liệt, lôi cuốn của màu sắc Bức trang mùa hè chợt bừng sáng, đầy sức sống với màu vàng rực của rừng phách Ở mỗi bức trang thiên nhiên, người đọc đều thấy thấp thoáng bóng dáng con người Có thể nói đây chính là sự tài tình của Tố Hữu khi gắn kết mối tâm giao giữa thiên nhiên và con người Giữa rúi bao la, thấp thoáng bóng dáng “cô gái hái măng” tuyệt đẹp đã khiến cho thiên nhiên có sức sống hơn

Và cuối cùng chính là bức tranh mùa thu nhẹ nhàng:

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Mùa thu về trên Tây Bắc với hình ảnh ánh trăng dịu, mát lành Thiên nhiên dường như rất ưu ái cho mùa thu xứ bắc với sự tròn đầy, viên mãn của ánh trăng Không phải là ánh trăng bình thường, mà trăng nơi đây là trăng của hòa bình, ánh trăng tri kỉ rọi chiếu những năm tháng chiến tranh gian khổ Chính ánh trăng ấy đã mang đến vẻ đẹp riêng của mùa thu VB Tố Hữu nhìn trăng, nhớ người, nhớ tiếng hát gợi nhắc ân tình và thủy chung

Thật vậy với 4 cặp thơ lục bát ngắn gọn, 4 mùa của thiên nhiên VB được gợi tả sắc nét, tràn đầy sức sống Tác giả thật tài tình, khéo léo, vốn hiểu biết rộng cũng như tình cảm sâu nặng đối với mảnh đất này mới có thể thổi hồn vào thơ Bức tranh tứ bình này sẽ khiến cho người đọc thêm yêu, thêm hiểu hơn cảnh vật và con người nơi đây

Trang 8

Phân tích bài thơ ĐN của Nguyễn Khoa Điềm

Cùng với các nhà thơ thế hệ chống Mỹ lúc bấy giờ, Nguyễn Khoa Điềm cũng hướng ngòi bút của mìnhđến một chủ đề lớn lao của thơ ca đương thời đó chính là ĐN Tuy nhiên hình ảnh “ĐN” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ có đau thương mất mát hay chỉ có những cảnh sơn hà hùng vì mà “ĐN” hiện lên trọn vẹn qua những suy nghĩ và cảm nhận hết sức mới mẻ Đoạn trích “ĐN” trong trường ca

“Mặt đường khát vọng” chính là một định nghĩa đủ đầy về ĐN và qua đó cũng thể hiện sâu sắc tư tưởng cốt lõi của tác phẩm: ĐN là của nhân dân

Mở đầu bài thơ là lời tâm tình sâu lắng đưa ta về với cội nguồn:

Khi ta lớn lên ĐN đã có rồi……….ĐN có từ ngày đó…

Trong đoạn thơ này của Nguyễn Khoa Điềm có thể thấy răng, ĐN không phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà ĐN chính là những gì thân thuộc và gần gũi nhất Trong câu chuyện ngày xửa ngày xưa, trong miếng trầu của bà ăn, trong dáng tre bất khuất kiên cường, trong những phục tục tập quán, trong hạt gạo nấu những bữa cơm hàng ngày… đều hiện hình lên một ĐN Việt Nam anh hùng, tình nghĩa, giản

dị mà thân thương nhất Đây có thể nói là một định nghĩa về ĐN hoàn toàn mới và hoàn toàn thiết thực nhất, rõ ràng nhất Với Nguyễn Khoa Điềm, “ĐN” không chỉ là những khoảng giới hạn về không gian địa lý mà ở đây nó còn có chiều dài thời gian lịch sử và chiều sâu văn hóa Không những thế, “ĐN” còn là tình yêu đôi lứa, có trong tình yêu đôi lứa:

Đất là nơi anh đến trường……….ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…

Đất và nước tách riêng, từng phần đều tượng trưng cho những điều gần gũi nhất Là nơi anh đến

trường, là nơi em tắm hàng ngày Thế nhưng khi “ta hò hẹn” thành một đôi trọn vẹn thì cũng như ĐN gộp lại vẹn tròn Với phát hiện mới mẻ này, Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ ra rằng: ĐN không chỉ bên ta, xung quanh ta và còn có cả ở trong ta.ĐN là nơi khởi đầu cho những câu chuyện xa xưa, cho những câu

ca dao tục ngữ, điển tích điển cố và tất thảy mọi sự sinh thành Hình ảnh “con chim phượng hoàng”,

“núi Bà Đen, Bà Điểm”, “Lạc Long Quân Âu Cơ” là những minh chứng cho ĐN hào hùng nghìn năm văn hiến của chúng ta Nhớ về ĐN cũng chính là nhớ về cội nguồn, hiểu được vì sao chúng ta được sinh ra Chính vì thế, ĐN trong ý niệm của Nguyễn Khoa Điềm còn là sự tiếp nối truyền thống:

Những ai đã khuất………….Đều có một phần ĐN

Biết bao thế hệ cha ông ta đã ngã xuống để boa vệ ĐN, bảo vệ núi sông bờ cõi Đó là cả một chiều dài lịch sử hào hùng rất tự hào của dân tộc ta Chính vì thế, con cháu đời sau phải tiếp tục gìn giữ truyền thống ấy Truyền thống yêu nước, thương nòi, sẵn sàng chiến đấu để bỏa vệ non sông cho những thế hệ

về sau Và cho đến hôm nay, “trong và em” “đều có một phần ĐN” Phần ĐN ấy là phần máu thịt, là một phần trách nhiệm phải giữ gìn và xây dựng, phần tình yêu để bảo vệ ĐN cho con cháu mai sau

Vì có những người đã không quản ngại thân mình hy sinh cho ĐN, làm nên ĐN cho nên:

Trang 9

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi……….Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Khi nói về 4000 năm lịch sử của ĐN, Nguyễn Khoa Điềm không hề kể về những vương triều hay những anh hùng nổi tiếng mà lại nhấn mạnh “người làm ra ĐN” lại chính là những con người bình dị

vô danh Chính họ chứ không phải ai khác đã gìn giữ và truyền lại hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ cho đời sau Và từ chính những con người vô danh làm nên ĐN bao năm qua đã giúp tác giả khẳngđịnh:

ĐN này là ĐN của nhân dân

ĐN của nhân dân, ĐN của ca dao thần thoại

Với câu thơ sau, hai vế song song nhân dân – ĐN lại càng khẳng định ĐN chính là kết tinh những giá trị tinh thần cao quý trong đời sống trí tuệ và tình cảm của nhân dân Những giá trị ấy đã kết tinh lại trong những câu ca dao, tục ngữ, trong những câu chuyện thần thoại cổ tích của cha ông ta để lại Đinh nghĩa về ĐN đến đây vừa giản dị nhưng cũng vừa lớn lao, sâu sắc

ĐN đã được khẳng định là của nhân dân và cũng là của anh, của em, và:

Em ơi em ĐN là máu xương của mình……….Làm nên ĐN muôn đời

Đoạn thơ thân tình như một lời nhắn nhủ thiết tha, chân thành: sự sống của chúng ta không chỉ do cha

mẹ sinh thành mà còn vì ĐN nuôi dưỡng Chính vì thế mỗi chúng ta cần phải có trách nhiệm gìn giữ, phát triển nó và truyền lại cho những thế hệ tiếp theo

ĐN được xem là một đề tài, cảm hứng chủ đạo của thơ ca thời kì kháng chiến chống Mĩ Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức sâu sắc vai trò và sự đóng góp to lớn của nhân dân trong cuộc đấu tranh trường kì

và vô cùng ác liệt này Chính vì thế mà tư tưởng ĐN của nhân dân từ trong văn học truyền thống đã được nhà thơ phát triển đến đỉnh cao, mang tính dân chủ sâu sắc Chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng nhuần nhuyễn, biến đổi linh hoạt đầy sáng tạo chính là nét đặc sắc thẩm mĩ và thống nhất với tư tưởng “ĐN của nhân dân, ĐN của ca dao thần thoại” của bài thơ

Trang 10

Phân tích ĐN của Nguyễn Khoa Điềm

Mở đầu bài thơ Nguyễn Khoa Điềm giới thiệu cho chúng ta về nguồn gốc của ĐN Nói cách khác phần đầu trả lời cho câu hỏi ĐN có tự bao giờ Nếu như ĐN của Nguyễn Trãi nhắc đến bắt đầu từ những triều đại lịch sử:

“Từ Triệu, Đinh, Lý Trần bao đời xây nền độc lập”

Thì ĐN của Nguyễn Khoa Điềm lại xuất phát từ những gì bình dị gần gũi nhất:

“Khi ta lớn ĐN đã có rồi………… ĐN có từ ngày đó ”

Nhà thơ như thể hiện được cái ngàn đời tồn tại của ĐN mình Không biết ĐN có từ bao giờ mà chỉ biết rằng khi lớn lên ĐN đã có rồi, ĐN có từ cái câu chuyện cổ tích mẹ thường hay kể Có thể nói ĐN của chúng ta không xa vời khó nhớ khó hiểu trong việc tìm chính xác mốc hình thành nên ĐN cho đến nay

mà ĐN chỉ đơn giản xuất hiện qua những huyền thoại huyền tích thời xưa ĐN ấy không khó nhớ mà

nó giản dị ngay cả trẻ con khi được nghe cũng hiểu như thế Và ĐN bắt đầu bằng miếng trầu của bà, miếng trầu ấy đến nay đã có bốn nghìn năm tuổi và chắc chắn đến mãi mai sau nó vẫn chiếm một phần trong đời sống tinh thần của nhân dân ĐN bắt đầu từ đó và nó lớn lên, phát triền là khi nhân dân ta biếttrồng tre đánh giặc phát triển kinh tế và bảo vệ từng tấc đất tấc vàng của quê hương ĐN ấy còn xuất phát từ cái hành động bới tóc sau đầu của mẹ Cả cái tên gọi,cả tình cảm cha mẹ thương nhau như gừngcay muối mặn Có thể nói qua đấy ta thấy ĐN không bắt đầu bằng những triều đại, không bắt nguồn từ những dấu móc thời gian lịch sử chính xác mà bắt nguồn từ những gì đơn giản, thân quên, bình dị nhất.Mỗi nhà thơ đều có một cách làm nổi bật ĐN còn Nguyễn Khoa Điềm bước tiếp theo ông phân tích hai thành tố đất và nước sau đó lại tống hợp lại

Thứ nhất, ĐN tồn tại trong không gian sinh tồn của nhân dân ta:

“Đất là nơi anh đến trường…………ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

Trước hết đất là nơi anh đến trường, nước là nơi em tắm và kết lại ĐN là nơi ta hò hẹn Có thể nói qua đây nhà thơ muốn nói rằng ĐN không tồn tại đầu xa mà ở ngay trong không gian tình yêu đôi lứa Đó

là một ĐN của tình thủy chung yêu thương mặn nồng, một ĐN có sự thầm kín của tình yêu

ĐN còn tồn tại trong chính không gian sinh hoạt của nhân dân ta:

“Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"

Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"

Thời gian đằng đẵng”

Không chỉ có không gian mà ĐN tồn tại trên phương diện thời gian, những câu thơ tiếp theo như mang

ta trở về với thời của tổ tiên Lạc Long Quân và Âu Cơ:

Trang 11

“Đất là nơi Chim về……… Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”

Dân tộc ta vẫn tự hào về nguồn gốc con rồng cháu tiên và thời vua hùng Chính ĐN có từ ngày mẹ Âu

Cơ và Lạc Long Quân sinh ra đồng bào ta trong bọc trứng đó là một khoảng thời gian đã đằng đẵng trôi qua Thế nhưng đó lại chính là sự chứng minh cho thời gian hình thành ĐN của chúng ta đã có từ rất lâu rồi

Đó là ĐN trong quá khứ, còn ĐN hiện nay thì được biểu hiện trong tình yêu của anh và em:

“Mai này con ta lớn lên……….Làm nên ĐN muôn đời ”

Những ngày tháng mơ mộng kia chính là những ngày tháng ĐN yên bình sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới Những câu thơ cuối đoạn mới đọc lên chúng ta cứ ngỡ đó là một lời giáo huấn nhưng không hề phải Bằng giọng văn thủ thỉ nhẹ nhàng nhà văn như thể hiện trách nhiệm của tất cả chúng ta hiện nay đó là phải biết gắn bó san se cho dáng hình xứ sở quê hương Để làm nên ĐN muôn đời.Nguyễn Khoa Điềm không dừng lại ở đó mà mang chúng ta đến với tư tưởng ĐN của nhân dân và

để chứng minh cho luận điểm đó của mình nhà thơ đã lần lượt đi từ bình diện địa lý đến lịch sử và cuối cùng là văn hóa.Trước hết là trên phương diện không gian địa lý Những câu thơ cất lên như một bức tranh vẽ những danh lam thắng cảnh của ĐN ta mà qua đó chúng ta có thể thấy được những huyền tích

mà chính những người nhân dân tạo nên Có thể nói rằng bằng việc nêu ra những danh lam từ bắc chí nam ấy nhà thơ muốn chứng minh ĐN chính là nhân dân làm ra Chính những phẩm chất vẻ đẹp tâm hồn họ đã làm nên những địa danh ấy Và cho đến nay thì ĐN vẫn dáng hình của họ trên khắp các ruộng đồng gò bãi:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho ĐN những núi Vọng Phu

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”

Đó là những đức tính chung thủy, cần cù, hiếu học, chống giặc ngoại xâm anh dũng…Ở đây vẫn là cách khám phá quen thuộc của biết bao nhiêu người nghệ sĩ thế nhưng ta vẫn thấy một điểm mới mẻ của nhà thơ Điểm mới mẻ ấy là không gian địa lý ĐN không phải là sự trù phú của thiên nhiên mà chú

ý nhiều đến tên gọi nôm na giản dị bình thường Và cũng chính lẽ đó mà chúng ta như siêu lòng trước chứng minh xác thực cho luận điểm ĐN của nhân dân ấy Từ cái rộng lớn tươi đẹp của không gian địa

Trang 12

lý nhà thơ lại soi vào chiều dài của lịch sử nước ta Và từ đó nhà thơ chứng minh cho ĐN chính là của nhân dân.

Trong chiến đấu nhà thơ không kể tên đến những vị anh hùng những tướng tài giỏi giang mà kể đến những người anh hùng áo vải, quen cày cấy nhưng đến khi có giặc thì lại lên đường Không chỉ là con trai mà cả những người con gái cũng vậy Những người phụ nữ thì ở nhà làm hậu phương vững chắc cho chồng Nuôi con chăm mẹ già Ngày giặc đến nhà thi đàn bà cũng đánh Những người ấy có những người đã chết đó là cái chết giản dị bình tâm, cái chết vô danh không ai nhớ mặt đặt tên Thế nhưng chính con người ấy đã làm nên ĐN thứ nhất họ là phần đông dân cư, họ không lãnh đạo thế nhưng không có họ thì những người lãnh đạo cũng không thể một mình đánh thắng xâm lược lược Thứ hai chính sự hi sinh ấy đã hóa thân để làm nên ĐN hôm nay:

“Em ơi em

“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

ĐN của nhân dân, ĐN của ca dao thần thoại”

Nhân dân còn làm nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc cho ĐN:

“Dạy anh biết "yêu em từ thở trong nôi

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

Chỉ có mấy câu thơ thôi nhưng ba đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam được thể hiện Đó là sự thủy chung yêu thương của những cặp vợ chồng.Là sự bền bỉ trong chiến đâu, là quý lao động công sứccủa nhân dân ta Chính những nét văn hóa vô cùng giản dị nhưng lại nói lên tâm hồn con người Việt Nam ấy mà ĐN ta mang đậm bản sắc dân tộc nước nhà Để rồi ĐN ấy lớn lên trên những dòng sông cấtlên những câu hát nhớ thương yêu mến

Bằng giọng thơ thủ thỉ trữ tình như tâm sự, bằng hệ thống thi liệu với kho tàng văn học dân gian ca daotục ngữ Nguyễn Khoa Điềm đã truyền tải những tư tưởng mới mẻ của mình về ĐN Đồng thời qua đó

ta nhận ra rằng ĐN gần gũi với chúng ta biết nhường nào ĐN mãi của nhân dân của ca dao huyền thoại

Ngày đăng: 21/03/2023, 14:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w