Tri?t lý ngh? tham v?n THAM VẤN VÀ TƯ VẤN TRIẾT LÍ NGHỀ THAM VẤN Các chuyên gia tham vấn Hoa Kỳ đã xây dựng những cơ sở được coi là triết lý cho hoạt động tham vấn Đó là Mô hình lành mạnh, Khía cạnh p[.]
Trang 1THAM VẤN VÀ TƯ VẤN TRIẾT LÍ NGHỀ THAM VẤN
Các chuyên gia tham vấn Hoa Kỳ đã xây dựng những cơ sởđược coi là triết lý cho hoạt động tham vấn Đó là Mô hình lànhmạnh, Khía cạnh phát triển, Phòng ngừa và can thiệp sớm và cuốicùng là Làm mạnh thân chủ
1 Mô hình lành mạnh:
Niềm tin đầu tiên mà các nhà tham vấn cho là tốt nhất trong việctrợ giúp con người giải quyết các vấn đề cảm xúc và cá nhân là môhình Lành mạnh – wellness model (Hermon & Hazler, 1999; McAuliffe & Ericksen, 1999) Năm 2000, Myers, Sweeney và Witmer đãphát triển mô hình này đặc dành cho tham vấn Trước kia, mô hình
cơ bản được sử dụng bởi các chuyên gia sức khỏe tâm thần(mental health professionals) ở Mỹ để tập trung vào vấn đề cảm xúc
là mô hình bệnh và y học (illness and medical)
Trong mô hình y học, người trợ giúp xác định bệnh tật bằngcách hỏi bệnh nhân Sự chẩn đoán bệnh tật luôn là bước đầu tiêntrong việc trợ giúp Mục tiêu trợ giúp là giúp bệnh nhân đạt đượcchức năng như khi chưa bị bệnh
Theo cách tiếp cận wellness model, mục tiêu cho mỗi người làđạt được sức khỏe tâm thần một cách tích cực có thể, với quanđiểm, sức khỏe tâm thần là một quá trình diễn tiến
Khuynh hướng lành mạnh về thể chất và cảm xúc xem xét dựatrên một số thang đo, những tiêu chí này đại diện cho sự lành mạnh
về cảm xúc và tâm thần trong các lĩnh vực quan trọng khác nhaucủa cuộc sống Nhà tham vấn đánh giá chức năng của thân chủ dựatrên những khía cạnh này để khẳng định cần tập trung vào khíacạnh nào là tốt nhất trong quá trình tham vấn Thang này bao gồm:Mối quan hệ gia đình, Bạn bè, những mối quan hệ khác, Nghềnghiệp/ công việc, Tâm linh, Hoạt động giải trí, Sức khoẻ thể chất,Môi trường sống, Tài chính, Tình dục
Sự khác biệt cơ bản giữa hai mô hình này là thái độ của chuyêngia đối với thân chủ và sự tập trung vào yếu tố lâm sàng của chuyêngia Các nhà tham vấn xem xét thân chủ có cả hai tiềm năng và khát
Trang 2khao muốn tự chủ và thành công trong cuộc sống hơn là xem như
có bệnh và cần được điều trị
2 Khía cạnh phát triển
Trong cuộc đời chắc chắn con người phải trải qua và ít nhất đãthành công một thách thức nào đó Các nhà tham vấn tin rằng hầuhết các vấn đề mà con người phải đối mặt đều là một sự nảy sinh tựnhiên và phổ biến Một số vấn đề mà các chuyên gia sức khỏe tâmthần có thể xem là bệnh lý thì nhà tham vấn xem nó như là sự diễntiến Chẳng hạn như:
- Ở tuổi thứ 5 bé trai cảm thấy hoảng sợ khi bị mẹ để lại lớp mẫugiáo lần đầu tiên
- 11 em gái ám ảnh vì một cậu bạn
- Tuổi teen, cậu con trai chống đối cha mẹ mãnh liệt
- Sau khi sinh đứa con đầu lòng, người mẹ trẻ cảm thấy trầm cảm
- Ở tuổi 35, người đàn ông gặp rắc rối và uống rượu
- 40 tuổi, người phụ nữ cảm thấy vô giá trị khi đứa con nhỏ nhất đãtốt nghiệp đại học
- 46 tuổi, người đàn ông bỗng ngoại tình với một cô gái trẻ sau 23năm chung sống với vợ
- 65 tuổi, người đàn bà cảm thấy trầm cảm khi về hưu
- 80 tuổi, ông già quên rất nhiều đến nỗi bị phàn nàn là mất trí
Bằng cách nghiên cứu các giai đoạn phát triển trong cuộc đời vàhiểu các vấn đề mà tất cả các cá nhân phải đối mặt nhà tham vấn cóthể giúp thân chủ trải nghiệm vấn đề như là một sự tự nhiên và phổbiến ở con người Thậm chí vấn đề được xem như là tâm bệnh lýbởi các chuyên gia khác như trầm cảm nặng, nghiện chất, có thểđược xem như là vấn đề tạm thời gây phiền nhiễu cho con người vàđược giải quyết hiệu quả nếu cá nhân tiếp tục cách sống tích cực
Trang 33 Phòng ngừa và can thiệp sớm
Tổng kết mang tính triết lý thứ ba của các nhà tham vấn là ngănngừa các vấn đề cảm xúc và tâm thần hơn là điều trị (Conyne&Horne, 2001; Kulic, Dagley, & Horne, 2001; Mc Carthy & Mejia,
2001, Owens & Kulic, 2001; Sapia, 2001; Wilson & Owens, 2001).Khi không thể ngăn ngừa các nhà tham vấn mới cố gắng can thiệp.Công cụ cơ bản của nhà tham vấn trong việc ngăn ngừa vấn đềcảm xúc và tâm trí (mental ) là giáo dục đào tạo Nhà tham vấnthường thực hành nghề nghiệp của mình với tư cách là một giáoviên sử dụng tâm lý giáo dục như là một công cụ bằng cách cảnhbáo trước những khía cạnh stress tiềm năng và chuẩn bị cho họnhững hành trang để thách thức tới thành công Một số hoạt độngmang tính ngăn ngừa như : Chương trình giáo dục làm cha mẹ, toạđàm về việc ra quyết định, nhóm khám phá nghề nghiệp, tham vấntiền hôn nhân
4 Làm mạnh thân chủ
Niềm tin thứ 4 mà các nhà tham vấn đưa ra trong là giúp thânchủ có khả năng giải quyết vấn đề của mình một cách độc lập.Thông qua việc dạy cho thân chủ những chiến lược giải quyết vấn
đề một cách hợp lý và tăng cường khả năng hiểu bản thân mình,các nhà tham vấn hy vọng rằng thân chủ sẽ không cần đến sự trợgiúp trong tương lai nữa
Khi gặp gỡ người trợ giúp, thân chủ trở nên rất dễ bị phụ thuộcvào người trợ giúp Một số hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thầnkhuyến khích sự phụ thuộc này trong cuộc đời Các nhà tham vấnthì khuyến khích thân chủ tự chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình
và sống theo cách giúp cho họ trở nên tự chủ và độc lập Mặc dùmột số người có thể cần tới sự trợ giúp thể chất hay tâm thần nhưngtất cả họ đều được trợ giúp để trở nên độc lập như họ có thể Cácnhà tham vấn không xem mình như là chuyên gia phải tư vấn khi cóvấn đề xảy ra Hơn nữa, nhà tham vấn truyền tải niềm tin rằng thân
Trang 4chủ có khả năng phát triển các kỹ năng họ cần có cho sự lành mạnh
và cuộc sống độc lập
Tô Thị Hạnh (biên dịch)
(Theo Ethical, Legal, and Professional Issues in Counseling)
KHI NÀO TÍNH BÍ MẬT CẦN ĐƯỢC DỠ BỎ ?
Bí mật là một trong những nguyên tắc cơ bản và cũng là yếu tốquan trọng quy định đạo đức của người làm công tác Tư vấn tâm lý.Trong hầu hết trường hợp, những thông tin trao đổi giữa Nhà tưvấn và khách hàng sẽ được giữ bí mật Điều này là cần thiết giúpbảo đảm quyền lợi chính đáng của khách hàng Tuy nhiên, trong một
số trường hợp ngoại lệ, tính bí mật cần phải được dỡ bỏ
§ Khách hàng đe doạ Nhà tư vấn
§ Khách hàng có ý muốn tự hủy hoại bản thân hoặc hành hungngười khác
§ Khi khách hàng là nạn nhân của lạm dụng tình dục trẻ em hoặc bị
bỏ rơi
Trong những tình huống trên, Nhà tư vấn nên đặt sự an toàncủa khách hàng, của bản thân và những người khác lên trên tính bímật và thông báo những thông tin này đến các cơ quan chức năng
để tìm hướng giải quyết Để làm tốt công việc này, Nhà tư vấn cầnphải có sự hiểu biết về luật pháp: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
cụ thể của từng cơ quan thi hành pháp luật, đánh giá được mức độ
an toàn cũng như khả năng giải quyết vấn đề của những đơn vị nàytrong những tình huống cụ thể
§ Công dân của mỗi quốc gia đều phải tuân thủ theo luật pháp
Vì vậy, thông tin tư vấn có thể sẽ được cung cấp một phần hay toàn
bộ theo yêu cầu của tòa án hay những người thi hành pháp luật
§ Tính bí mật cũng có để được phá vỡ nếu khách hàng muốnNhà tư vấn cung cấp những thông tin của họ với một người khác Vídụ: bác sĩ, giáo viên, tòa án hay một người cụ thể
Trong trường hợp này, Nhà tư vấn cần phải lập một bản cam kếtbao gồm danh sách những thông tin mà khách hàng muốn cungcấp, đối tượng mà khách hàng muốn cung cấp và yêu cầu kháchhàng ký vào
Trang 5Vấn đề về tính bí mật sẽ rắc rối hơn khi Nhà tư vấn làm việc vớiđối tượng khách hàng là trẻ em Trẻ em chưa được coi là nhữngngười có đủ khả năng làm chủ mọi vấn đề liên quan đến bản thânmình Vì vậy, tất cả quyền của các em sẽ được quyết định thông quanhững người thi hành pháp luật
Quốc Khánh (Interviewing and Diagnostic Exercises for Clinical and couselling skill building)
TRỊ LIỆU TÂM LÍ VÀ THAM VẤN
Có thể nói, cuộc tranh luận về thuật ngữ tham vấn, tư vấn hay trịliệu tâm lý vẫn luôn là vấn đề nóng hổi hiện nay trong các diễn dànbàn về tham vấn tại Việt nam Trong không ít hội thảo có người phêphán việc sử dụng tư vấn khi tham vấn Đồng thời cũng có ngưới lạiđồng nhất hai khái niệm này Bên cạnh đó cũng không ít người lạibăn khoăn liệu có gì khác nhau giữa tham vấn và trị liệu tâm lý Bàiviết này xin cung cấp một số thông tin nhằm giúp bạn đọc cũng nhưcác nhà nghiên cứu có quan tâm hiểu rõ hơn về sự giao thoa cũngnhư và khác biệt giữa các thuật ngữ trên làm cơ sở cho việc sửdụng chúng một cách đúng đắn trong những bối cảnh có liên quan.Trị liệu- tiếng anh là Therapy - được lấy từ gốc Hy lạp làTherapia có nghĩa là chữa trị, làm lành Trị liệu tâm lý có nghĩa là sựxóa bỏ rắc rối, những bệnh lý mang tính tâm lý
Tham vấn và trị liệu tâm lý có mối quan hệ khá mật thiết vớinhau Do có nhiều cách hiểu khác nhau về hai thuật ngữ này nêncuộc tranh luận về sự khác biệt giữa chúng đã diễn ra từ lâu chođến nay vẫn chưa kết thúc
Có quan niệm cho rằng trị liệu tâm lý bao hàm tham vấn Người
ta cho rằng trị liệu tâm lý như một quá trình can thiệp của nhà tâm lýhọc, nhà công tác xã hội hay nhà tham vấn đối với tình trạng sứckhỏe tâm thần của đối tượng (thân chủ /người bệnh) bằng việc sửdụng các liệu pháp tâm lý như tham vấn để điều trị những rối nhiễu
về cảm xúc hay tâm thần
Một quan điểm khác lại xem trị liệu tâm lý như là tập hợp kỹthuật, đặc biệt là hình thức đối thoại và giao tiếp trực tiếp để cảithiện sức khỏe tâm thần của khách hàng hay người bệnh hoặc cảithiện mối quan hệ của nhóm người (ví dụ như gia đình) Trong quátrình này nhà trị liệu và khách hàng (hay người bệnh) thảo luận
Trang 6những vấn đề tiềm ẩn và tìm ra giải pháp tích cực Hình thức canthiệp này được sử dụng trong trợ giúp những khách hàng có vấn đềtâm thần Nó còn được sử dụng để giúp đỡ những người có khókhăn trong mối quan hệ hàng ngày dưới hình thức tham vấn Do vậyhai khái niệm tham vấn và trị liệu tâm lý thường được sử dụng thaythế cho nhau.
Carl Rogers xuất thân từ nhà tâm lý lâm sàng, mặc dù khi giớithiệu tác phẩm với hai khái niệm Counseling and Psychotherapy(1952), ông vẫn xem Tham vấn và trị liệu tâm lý là hoàn toàn giốngnhau (S Narayana, 1981) Hay C.H Patterson (1974, 1986) cũngkhông đề cập tới sự khác biệt rõ rệt nào trong tài liệu mà ông đãxuất bản G Corey (1991), C.B.Truax và R Carkhuff (1967) sử dụnghai khái niệm Tham vấn và trị liệu tâm lý hoán đổi cho nhau HộiTham vấn và trị liệu tâm lý Australia xem tham vấn và trị liệu là một,bởi vì theo họ cả hai hoạt động này đều là quá trình tâm lý nhấnmạnh nhu cầu của đối tượng, cùng sử dụng những kỹ năng giốngnhau như lắng nghe tích cực, thấu hiểu những điều họ nói và thúcđẩy khả năng tự giúp, tính trách nhiệm của cá nhân
Tuy nhiên một số tác giả khác lại bảo vệ quan điểm về sự khácbiệt giữa tâm lý trị liệu và tham vấn Điển hình như F Robinson(1950), C.Thorne (1950), P Blos (1946) L Tyler (1958) Các tác giảnày cho rằng trị liệu tâm lý chú trọng tới thay đổi nhân cách còntham vấn hướng tới việc giúp đối tượng sử dụng nguồn lực sẵn có
để đối phó với vấn đề trong cuộc sống tốt hơn Sự phân biệt đó cònđược biện hộ bởi lý luận rằng trong Tham vấn yếu tố được xem nhưtrọng tâm đó là bản thân đối tượng, mối quan hệ đầy tính nhân văngiữa nhà tham vấn và đối tượng, nhưng trong tâm lý trị liệu yếu tốnổi trội là nhà trị liệu cùng với những kỹ thuật trị liệu cụ thể và xuhướng sử dụng hệ thống lý thuyết trị liệu để phân tích tâm lý hayhành vi của đối tượng Hơn thế nữa, tham vấn thường được diễn ratrong những cơ sở như trường học, cộng đồng nhiều hơn, trong khi
đó tâm lý trị liệu lại thường thấy cả ở các cơ sở y tế mang tính chữatrị
Để có thêm thông tin về sự khác biệt của hai hoạt động nàytrong thực tiễn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn và thảo luận nhómvới 9 chuyên gia làm tham vấn tại Canada, Úc, Singapore Kết quảcho thấy 4 chuyên gia tâm lý cho rằng họ xem trị liệu tâm lý và tham
Trang 7vấn là như nhau, số còn lại cho rằng có sự khác biệt nhất định giữahai thuật ngữ này Một số chuyên gia Công tác xã hội khi được hỏicho rằng, khi thực hiện tham vấn họ và các đồng nghiệp không làmtrị liệu và sử dụng các kỹ thuật test tâm lý như một công cụ chínhcủa quá trình can thiệp.
Từ nghiên cứu tài liệu cũng như thực tiễn, chúng tôi cho rằngmặc dù khó có thể tách bạch tham vấn và trị liệu tâm lý song có sựkhác nhau nhất định giữa chúng ở một số khía cạnh sau:
- Thứ nhất, đối tượng trợ giúp trong tham vấn thường là nhữngngười có vấn đề liên quan tới cuộc sống hàng ngày, còn trong tâm lýtrị liệu, đối tượng gòm cả những người có vấn đề rối nhiễu tâm lý,hành vi ở mức độ tương đối rõ rệt và mang tính bệnh lý nhiều hơn
- Thứ hai, công cụ can thiệp của tham vấn chủ yếu là mối quan hệtương tác nghề nghiệp với sự tích cực, chủ động của chính đốitượng dưới sự xúc tác gợi mở của nhà tham vấn, còn công cụ ưuthế của tâm lý trị liệu là hệ thống các liệu pháp (phân tâm, hành vi,cảm xúc thuần lý ) và các trắc nghiệm tâm lý v.v
- Thứ ba, hình thức tham vấn được sử dụng ở phạm vi rộng hơn bởicác chuyên gia tâm lý, các nhà Cán bộ xã hội chuyên nghiệp, thậmchí các nhà sư phạm, cán bộ ngành y và một số nhà trợ giúp khôngchuyên giúp trên cơ sở nắm vững các kỹ năng cơ bản, nguyên tắcđạo đức của tham vấn, trong khi đó tâm lý trị liệu thường được sửdụng bởi các nhà tâm lý học, các cán bộ xã hội, các nhà tham vấnchuyên nghiệp được phép hành nghề
Trong bối cảnh nền văn hóa ở Việt Nam khi nhiều người cònchưa sẵn sàng chia sẻ những vấn đề riêng tư thì việc sử dụng thuậtngữ trị liệu tâm lý dễ được hiểu như sự chữa trị tâm lý như vậy cóthể làm tăng thêm tâm lý e ngại và hạn chế việc sử dụng dịch vụtham vấn - một công cụ bảo vệ sức khỏe tâm thần, tăng cường khảnăng thích nghi của cá nhân khá hữu hiệu Do vậy, chúng tôi chorằng nên có sự tách biệt hai thuật ngữ trên ở nước ta hiện nay
Nói tóm lại, tồn tại sự khác biệt nhất định trong Tham vấn, Tưvấn và Trị liệu tâm lý Song quá trình trợ giúp con người giải quyết
Trang 8vấn đề tâm lý xã hội luôn luôn phức tạp đòi hỏi sự tham gia củanhiều hình thức can thiệp Điều này khiến cho sự đồng nhất hayhoán đổi giữa chúng ở nhiều tác giả cũng là dễ hiểu Tuy nhiên, từđặc điểm của nền văn hóa cũng như xuất phát điểm của các lọaihình dịch vụ này hiện nay ở Việt Nam chúng tôi đề xuất nên có sựtách biệt giữa chúng tạo cơ sở cho sự phổ biến hóa việc sử dụngcũng như từng bước chuyên môn hóa các loại hình trợ giúp tâm lý
xã hội trên ở nước ta hiện nay
CÓ NÊN ĐỒNG NHẤT THAM VẤN VỚI TƯ VẤN ?
Cuộc tranh luận về thuật ngữ tham vấn, tư vấn hay trị liệu tâm lývẫn luôn là vấn đề nóng hổi hiện nay trong các diễn dàn bàn vềtham vấn tại Việt nam
Phần 1 : Tư vấn và Tham vấn
Có thể nói, Trong không ít hội thảo có người phê phán việc sửdụng tư vấn khi tham vấn Đồng thời cũng có ngưới lại đồng nhấthai khái niệm này Bên cạnh đó cũng không ít người lại băn khoănliệu có gì khác nhau giữa tham vấn và trị liệu tâm lý Bài viết này xincung cấp một số thông tin nhằm giúp bạn đọc cũng như các nhànghiên cứu có quan tâm hiểu rõ hơn về sự giao thoa cũng như vàkhác biệt giữa các thuật ngữ trên làm cơ sở cho việc sử dụng chúngmột cách đúng đắn trong những bối cảnh có liên quan
Tư vấn và tham vấn
Tư vấn- trong tiếng anh là Consultation - được xem như quátrình tham khảo về lời khuyên hay sự trao đổi quan điểm về vấn đềnào đó để đi đến một quyết định Tư vấn trong từ điển tiếng Việtđược định nghĩa như là sự phát biểu ý kiến về những vấn đề đượchỏi đến, nhưng không có quyền quyết định Hoạt động này phầnnhiều diễn ra dưới dạng Hỏi –và Đáp
Tác giả Trần Tuấn Lộ đã mô phỏng hoạt động tư vấn như sựtham khảo và cung cấp ý kiến giữa một bên A- có thể là một cánhân, một tổ chức cần tìm câu trả lời cho một thắc mắc hoặc tìm giải
Trang 9pháp với bên B- một cá nhân, một tổ chức khác có chuyên môn,kinh nghiệm và giúp họ giải đáp những thắc mắc hay vấn đề của họ.
Tư vấn được các tác giả nước ngoài hiểu theo nhiều cách vớivai trò khác nhau của người tư vấn
Tư vấn có thể được xem là mối quan hệ mà ở đó người chuyêngia đưa ra sự trợ giúp cho cá nhân hay tổ chức có nhu cầu giảiquyết vấn đề khó khăn (A.M Douherty, 1990) Tư vấn được M Fall,(1995) định nghĩa một cách rất đơn giản rằng “Tư vấn là việc tôi vàanh cùng nói về người đó, điều đó nhằm mục đích để thay đổi”.Người tư vấn có thể đóng vai trò như người chịu trách nhiệm tìm ranhững giải pháp (R Schein, 1969), hay thu thập thông tin, chẩnđoán vấn đề và đề xuất giải pháp (D.J Kurpius & J.C Brukbaker1976) hoặc là chỉ là người định hướng, điều phối tiến trình giải quyếtvấn đề (R Blake & J.S.Mouton 1976) Một nghiên cứu chỉ ra rằng,các nhân viên tham vấn tại cộng đồng trung bình sử dụng 10 %công việc cho làm công tác tư vấn (L.Stone & J Archer, 1990) Nhưvậy cũng không nên tuyệt đối hóa việc không làm tư vấn trong thamvấn Grace M (1998) cho rằng Tham vấn là một kỹ thuật trợ giúptrong Công tác xã hội cá nhân và việc cho lời khuyên là một kỹ thuậtcủa tham vấn Tuy nhiên bà nhấn mạnh lời khuyên đó không nênmang tính áp đặt mà cần khách quan, phù hợp với nhu cầu của đốitượng được xác định trên cơ sở thảo luận và dựa vào kiến thứcchuyên môn ví dụ như kiến thức về kế hoạch hóa gia đình Tuynhiên ở nước ta hiện nay, khi làm tham vấn người ta thường thiên
về đưa ra lời khuyên mang tính áp đặt ý chí chủ quan khá nhiều,khiến cho hoạt động tham vấn bị lu mờ và ý nghĩa của tư vấn bị hiểusai lệch
Những quan điểm trên cho thấy, việc trao đổi ý tưởng, cung cấpthông tin, và có thể là những lời khuyên trong tư vấn đã tham giamột phần vào quá trình giải quyết vấn đề Thực tế cho thấy tồn tạinhiều loại hình tư vấn như tư vấn hướng nghiệp, tư vấn giáo dục, tưvấn sức khỏe, tư vấn pháp luật, tư vấn kinh tế, kinh doanh Các hoạtđộng tư vấn về các vấn đề tâm lý xã hội qua báo chí, qua đài hayđiện thoại, thậm chí ngay tại các trung tâm tư vấn tâm lý hiện naycũng phần lớn hoạt động theo phương thức này Hình thức hỏi vàđáp, cung cấp thông tin trong các hoạt động tư vấn trên đã phần nàogiải đáp được những thắc mắc cũng như quan tâm của nhiều người
Trang 10Song cần nhấn mạnh rằng chức năng của tham vấn không phải đưa
ra lời khuyên Do vậy có sự khác biệt giữa tham vấn và tư vấn ởnhững điểm sau đây:
- Thứ nhất, về mục tiêu: Tư vấn chủ yếu hướng tới giải quyết vấn đềhiện tại, còn hoạt động tham vấn còn hướng tới mục tiêu lâu dài hơn
đó là giúp cá nhân nâng cao khả năng giải quyết vấn đề sau khiđược tham vấn
- Thứ hai, về tiến trình: tư vấn thường là cung cấp thông tin hay đưa
ra lời khuyên do vậy nó diễn ra trong một thời gian ngắn, giải quyếtvấn đề tức thời, còn tham vấn có thể diễn ra trong thời gian có thểkéo dài hàng tuần, hàng tháng thậm chí hàng năm
- Thứ ba, về mối quan hệ: Trong tư vấn: có thể là mối quan hệ dưới giữa một người là được xem là “uyên bác” với những thông tinchuyên môn, còn bên kia là người “thiếu hiểu biết” về vấn đề nào đó,bên cạnh mối quan hệ ở đây không đòi hỏi sự tương tác rất tích cực
trên-từ phía đối tượng Trong khi đó ở tình huống tham vấn, mối quan hệmang tính ngang bằng, bình đẳng và đòi hỏi có sự tương tác rấtchặt chẽ và hợp tác tích cực giữa hai bên, có thể nói nó đóng vai trònhư một công cụ quan trọng cho sự thành công của ca tham vấn
- Thứ tư về cách thức tương tác: Trong tư vấn cách thức can thiệpchính là cung cấp thông tin và lời khuyên bổ ích từ người tư vấn vớiđầy kiến thức chuyên sâu về vấn đề cần tư vấn Trong tham vấn sựthành công phụ thuộc vào kỹ năng tương tác của nhà tham vấn đểđối tượng tự nhận thức, hiểu chính mình và hoàn cảnh của mình đểchủ động tìm kiếm giải pháp phù hợp và thực hiện nó
Như vậy rõ ràng tư vấn và tham vấn là hai hình thức trợ giúp có
sự khác biệt nhất định ở một số khía cạnh Mặc dù khi tư vấn cótham gia vào quá trình tham vấn song để giúp đối tượng nâng caođược năng lực giải quyết vấn đề trong cuộc sống thì việc sử dụnghình thức tham vấn tỏ ra hữu hiệu hơn
Trang 11GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠO ĐỨC VÀ NGUYÊN TẮC HÀNH NGHỀ
Một số qui định chung trong việc giải quyết những vấn đề liênquan tới đạo đức và nguyên tắc hành nghề tư vấn là nội dung cuốicùng trong Bản nguyên tắc đạo đức mà Hiệp hội tư vấn Hoa Kỳ đưara
H.1 Hiểu biết về các nguyên tắc nghề nghiệp
Tất cả những nhà tư vấn phải làm quen và hiểu về các quy tắc đạođức, nguyên tắc hành nghề và những ứng dụng của các nguyên tắctrong các tổ chức cơ sở nghề nghiệp cụ thể mà mình đang làm việchoặc trong các tổ chức cấp chứng chỉ mà mình là thành viên Sựthiếu hụt những hiểu biết về đạo đức và nguyên tắc nghề nghiệpkhông phải là lý do chính để tránh khỏi những trừng phạt khi cónhững hành vi không tuân thủ nguyên tắc đạo đức (Xem thêmF.3.e.)
H.2 Những vi phạm
a Những hành vi vi phạm nguyên tắc: Nhà tư vấn hoạt động đểcủng cố những nguyên tắc liên quan đến đạo đức và hoạt độngnghề nghiệp Khi nhà tư vấn có những lý do hoặc nghi ngờ có cơ sở
về đồng nghiệp của mình khi hành động không theo nguyên tắc đạođức, nhà tư vấn phải có những hành động phù hợp để duy trìnguyên tắc đạo đức (Xem thêm H.2.d và H.2.e.)
b Tư vấn: Khi nhà tư vấn không chắc chắn rằng một hành động nào
đó, hay một tình huống nào đó có thể vi phạm nguyên tắc đạo đức,nhà tư vấn phải tìm kiếm sự tư vấn, trợ giúp với những nhà tư vấnkhác, đồng nghiệp của mình hoặc những người có chức năng cóhiểu biết về vấn đề đạo đức và nguyên tắc nghề nghiệp
c Khi có những xung đột: Khi nhà tư vấn hoạt động trong một tổchức cụ thể nào đó mà những hoạt động của tổ chức đó có khảnăng vi phạm những nguyên tắc đạo đức nghề ngihệp, nhà tư vấnphải hiểu rõ những xung đột và phải đề cập đến vấn đề này với
Trang 12những người giám sát, những người có chức năng Trong điều kiện
có thể, nhà tư vấn phải tăng cường hoạt động để tìm kiếm nhữngthay đổi trong nội bộ tổ chức để củng cố hoạt động dựa trên nguyêntắc đạo đức và nghề nghiệp
d Những giải pháp không chính thức: Khi nhà tư vấn có những lý do
để tin rằng một nhà tư vấn khác hoạt động vi phạm tiêu chuẩn đạođức nghề nghiệp, trước hết nhà tư vấn phải nỗi lực để giải quyết vấn
đề với bản thân nhà tư vấn khác nếu có khả năng trừ khi nhữnghành động này trái với nguyên tắc bảo mật và vấn đề có thể khôngđược giải quyết
e Báo cáo về những trường hợp vi phạm: Khi những giải phápkhông chính thức đã được áp dụng nhưng không mang lại hiệu quả,nhà tư vấn phải thông báo những hành vi vi phạm đối với hội đồngphụ trách về đạo đức và nguyên tắc nghề nghiệp trừ khi những hànhđộng này trái với nguyên tắc bảo mật và vấn đề có thể không đượcgiải quyết
f Những lời khiếu nại không đủ cơ sở: Những nhà tư vấn khôngkhuyến khích tham gia vào những hoạt động khiếu nại thiếu cơ sởhoặc có chủ đích làm tổn hại đến đồng nghiệp của mình hơn là bảo
Trang 13SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CTXH VÀ THAM VẤN LÀ NHƯ THẾ NÀO ?
Hiện nay, nhiều người nhầm lẫn giữa nghề tham vấn với nghềcông tác xã hội Sự nhầm lẫn này gây không ít phiền phức cho cảnhân viên công tác xã hội cũng như tham vấn viên
Phân biệt giữa Công tác xã hội và tham vấn tâm lý?
Đây là hai lĩnh vực khoa học biệt lập nhưng rất gần gũi nhau, cónhững nguyên tắc và giá trị giống nhau, hoạt động bổ sung chonhau Công việc của họ gặp nhau ở điểm tiếp xúc trực tiếp với đốitượng được giúp đỡ, nhưng công việc của người tham vấn tâm lý(NTV) thu hẹp vào mối quan hệ mặt đối mặt với thân chủ và đi vàochiều sâu tâm lý, còn nhân viên công tác xã hội (NVXH) thì ngoàiviệc tiếp xúc với thân chủ qua đối thoại, còn tác động vào môitrường xung quanh họ để giúp họ giải quyết vấn đề
Hai bên bổ sung cho nhau như thế nào?
Ví dụ khi tiếp xúc với một đối tượng ngoài các khó khăn tâm lý,còn có tình trạng thất nghiệp, không có thu nhập, NTV giới thiệu họcho phòng xã hội để giúp tìm việc làm Trước khi bắt tay vào việcNVXH phải tìm hiệu hoàn cảnh cụ thể của người đó bằng cách
“vãng gia”, nói chuyện với thân nhân để hiểu rõ gia cảnh Ngoài giađình, NVXH còn đi đến một cơ quan, cơ sở sản xuất để giới thiệuthân chủ Trong quá trình vãng gia NVXH còn phát hiện thân chủ cócon nhỏ không đi học vì không trả học phí được và tìm đến một lớptình thương để gởi gắm các cháu Nhưng trong quá trình làm việcNVXH có thể gặp một “ca” có vấn đề tâm lý phức tạp Anh/chị ta lạiphải giới thiệu lại cho NTV để giúp đỡ Giới thiệu chuyển tuyến(referral) là như vậy Cả hai loại nhân viên đều phải nắm vững các
“tài nguyên” trong cộng đồng để giới thiệu thân chủ của mình vìkhông có nghề nào có thể bao sân mọi giải quyết mọi nhu cầu của
xã hội
Cả hai nhân viên có một số nguyên tắc hành động chung nhưtôn trọng thân chủ vô điều kiện, chấp nhận thân chủ, lắng nghe, bảo
Trang 14vệ sự riêng tư (bí mật) của thân chủ… Cả hai đều không làm thaythân chủ mà giúp họ tự quyết địn bằng sức mạnh nội lực.
Hai bên phải có một số nền tảng kiến thức chung nên NVXH cóthể làm NTV cho những trường hợp không quá phức tạp
Ở nước ta hiện nay người được đào tạo thật bài bản về tư vấntâm lý rất hiếm hoi Một số được tập huấn ngắn hạn và phát huy nhờkinh nghiệm, Còn nhân viên xã hội mặc dù được đào tạo bài bảntrong và ngoài nước đã có nhưng chưa đông Dù sao cũng đã cómột số đang tham gia tích cực vào công tác tư vấn tâm lý Việc đàotạo bài bản cho cả hai ngành hiện nay là rất cần thiết
CÁC NHÀ TÂM LÝ HỌC CÓ THỂ GIÚP ĐỠ MỌI NGƯỜI TÌM THẤY ĐIỀU LÀM CHO HỌ HẠNH PHÚC
Tiền tài, xe hơi, nhà lầu – Con người làm việc vất vả để có đượcnhững thứ đó: Nhưng một khi có rồi, lập tức một số người cảm thấynếu có nhiều tiền hơn, nếu có thêm chiếc xe hơi thứ hai hay nếu cóthêm một ngôi nhà nghỉ mùa hè thì họ sẽ hạnh phúc hơn
Tuy nhiên, theo GS.TS M.Csikszentmihalyi - một nhà tâm lý họclớn của Mỹ - thì sự giàu có về vật chất không làm cho cuộc sống củacon người hạnh phúc Và, các nhà tâm lý học cần phải làm rõ xemđiều gì làm cho con người hạnh phúc
Trong bài phát biểu, tại cuộc họp thường niên của Hội Tâm lýhọc Mỹ được tổ chức tại San Francisco năm 1998, "Nếu như chúng
ta giàu có như vậy, tại sao chúng ta không hạnh phúc?", M.Csikszentmihalyi đã đưa ra các lý do khiến con người bị lái vàonhững việc tích lũy vật chất khi chính điều đó không thực sự đem lạihạnh phúc cho họ Ông cũng đưa ra các cách thức, mà qua đó, cácnhà tâm lý học có thể giúp mọi người tìm thấy điều làm cho họ hạnhphúc Ông nói: "Sự phòng ngừa bắt đầu bằng việc làm rõ câu hỏi:Phần nào của một cuộc đời là đáng sống?"
Là một giáo sư tâm lý học giáo dục của trường Đại học Tổnghợp Chicagô, M.Csikszentmihalyi đã dành hơn 30 năm để nghiêncứu vấn đề điều gì làm cho cuộc sống của con người có ý nghĩa vàđược thoả mãn Kết quả cho ông thấy rằng một cuộc sống vật chấtđầy đủ, không liên quan tới một cuộc sống tinh thần tốt đẹp Trongmột nghiên cứu gần đây của ông, tiến hành trên 1000 đối tượng là