Vợ nhặt được gợi cảm hứng từ nạn đói năm 1945, cái năm mà thần chết đem cái đói gõ cửa từng nhà, len lỏi vào từng ngõ ngách, cõi âm hòa vào cõi dương, tạo nên một khung cảnh ảm đạm và th
Trang 1Phân tích sâu các tác phẩm
văn học 12
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG BÀ CỤ TỨ TRONG ĐOẠN TRÍCH: “BÀ LÃO CÚI ĐẦU NÍN LẶNG…U THƯƠNG QUÁ” TỪ ĐÓ NHẬN XÉT TÌNH CẢM CỦA TÁC GIẢ GIÀNH CHO NGƯỜI NÔNG DÂN
BÀI LÀM Nhà văn Nam Cao đã từng khẳng đinh “nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ kiếp lầm than” Vì vậy, mỗi nhà văn muốn đứa con tinh thần của mình bám rễ vào mảnh đất văn chương, ghi lại dấu ấn trong lòng độc giả thì không đơn thuần chỉ là phản ánh cuộc sống, làm hiện lên một bức tranh về cuộc đời muôn màu muôn vẻ mà trước hết phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy Là một nhà văn chân chính như thế, Kim Lân-người con đẻ của đồng ruộng đã gửi trái tim của mình cho cuộc đời, để gom nhặt những mảnh đời bất hạnh thêu dệt nên một bài ca thấm đẫm tinh thần nhân đạo mang tên “vợ nhặt” Vợ nhặt vừa là bức tranh miêu tả thảm cảnh của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 vừa là bài ca ca ngợi niềm tin và sức sống của họ: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khao khát tổ ấm gia đình và yêu thương đùm bọc lẫn nhau Viết về những người nông dân khốn khổ ấy, nhà văn đã tập trung xây dựng hình tượng nhân vật “bà cụ Tứ” một người mẹ thương con với biết bao nỗi niềm của người từng trải Và những nỗi niềm ấy được kim lân thể hiện rõ nét qua đoạn trích “bà lão cúi đầu…u thương quá”
Kim Lân là cây bút viết truyện ngắn xuất sắc của văn học hiện đại việt nam Nhắc đến ông là nhắc đến người con đẻ của đồng ruông, một lòng đi về với đất, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn (Nguyên Hồng), nhắc đến một mảng văn học mang đậm hơi thở nông thôn mà đặc biệt là đồng bằng bắc bộ bởi ông thường gửi ngòi bút của mình vào cuộc sống và con người nông thôn khó khăn
Trang 4vất vả nhưng vẫn lạc quan, hóm hỉnh và tài hoa Những trang viết của ông đâu đâu cũng là đất, là nếp sống, hương vị của làng quê Việt Nam phả vào một cách dung
dị, chân thật Vợ nhặt là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy, một phong cách rất đỗi Kim Lân
Vợ nhặt được gợi cảm hứng từ nạn đói năm 1945, cái năm mà thần chết đem cái đói gõ cửa từng nhà, len lỏi vào từng ngõ ngách, cõi âm hòa vào cõi dương, tạo nên một khung cảnh ảm đạm và thê lương, cái chết tràn lan khắp nơi, sự sống trở
nên leo lét và nhỏ bé, cuộc sống của con người đứng trên vờ vực của sự tàn lụi
“Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ.” Nhưng điều kì diệu là khi cận kề bên cái chết, con người Việt Nam không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng về ánh sáng, sự sống và khao khát tình thương Tiền thân của “vợ nhặt” là tiểu thuyết “xóm ngụ cư” nhưng do chiến tranh giang dở, nhà văn bị thất lạc bản thảo nên đến năm 1954 nhà văn mới
có cơ hội quay lại bản thảo cũ và rút tiểu thuyết thành truyện ngắn
Trước tiên, bà cụ Tứ hiện lên là một người nông dân nghèo với thân phận ngụ cư, cuộc sống của hai mẹ con bà chỉ dựa vào những đồng phu xe ít ỏi của Tràng “căn nhà bà ở mọc lổn nhổn những búi cỏ dại” Bà chính là hiện thân của nỗi khổ con người , khổ vì đói, vì nghèo, vì ngụ cư và vì bà không thể làm tròn trách nhiệm của một người mẹ Bằng vài nét phác họa, nhà văn đã cho người đọc cảm nhận được bề ngoài khổ sở, tiều tụy của người mẹ già ấy “húng hắng ho”,
“lọng khọng đi vào” Việc Tràng cưới vợ hay nói đúng hơn là nhặt vợ đã gây nên bao thay đổi trong tâm trạng bà
Trước hạnh phúc của con trai lòng bà ngổn ngang nhiều tâm trạng, vừa vui, vừa buổn, vừa thương vừa tủi Mà trước hết nhà văn đã để nhân vật của mình bộc
lộ nỗi niềm xót xa, chạnh lòng, chua cay trước việc con trai nhặt vợ “Bà lão cúi đầu nín lặng” câu văn rất ngắn nhưng đủ để lột tả hết bao cảm xúc, nỗi niềm của người mẹ nghèo Đằng sau sự cúi đầu ấy là sự đầu hàng trước số phận, là sự tủi nhục của một người mẹ không làm tròn trách nhiệm với con Trạng thái “nín lặng”
để lại cho người đọc bao nỗi ám ảnh và xót thương Khi nhận ra cơ sự, giường như
bà uất nghẹn, nghẹ ngào trong sự dằn vặt không thể nói ra Vậy tại sao con trai tìm được hạnh phúc mà lòng bà lại đau dến vậy? Bà tự độc thoại “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con
Trang 5đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì…” Từ “chao ôi”được đặt đầu câu như một lời than vãn, nhà văn đã bỏ lửng suy nghĩ của bà bằng dấu ba chấm Sau dấu ba chấm ấy có lẽ bao nỗi uất nghẹ, bao tâm sự của một người mẹ “lực bất tòng tâm”
Từ xưa đến nay, cưới hỏi là việc hệ trọng của cuộc đời, là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, đời người chỉ có một lần mà con bà lại phải đi nhặt vợ như nhặt một cọng rơm cạng rác ngoài đường, ngoài chợ, bà không xót sao được Có lẽ chính cái đói, cái nghèo đã bóp đi cái gọi là trách nhiệm của một người mẹ, bao nhiêu sự đau đớn, tủi hờn đổ dồn lên dấu ba chấm, thể hiện bao nỗi lòng của người mẹ “có tâm nhưng không đủ lực” Là người mẹ trải đời, bà hiểu rằng “ người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy được con mình” Bà hiểu hơn ai hết một đứa một đứa dở hơi, xấu xí lại nghèo như tràng sẽ không bao giờ có được vợ, chỉ khi gặp cô gái gặp bước đường cùng này, cô ta mới lấy Tràng mà Tràng mới có được vợ như có một món đồ Để rồi, những uất nghẹn ấy tạo thành những giọt nước mặt “trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” Đó là lúc
lí trí không thắng nổi con tim, là lúc mọi đau đớn, xót xa dâng trào đến đỉnh điểm.Bà khóc vì thương con, khóc vì số phận bạc bẽo của con trai mình Kim lân
đã như một nhà quay phim tài ba khi lia ống kính của mình chớp lấy những giọt nước mắt đau khổ ấy Đó là những thước phim cận cảnh, làm hiện lên đôi mắt hằn
in dấu chân chim gió sương, mưa nắng của một người mẹ, giọt nước mắt chảy ra từ
kẽ mắt nứt nẻ theo thời gian Nỗi niềm của bà cụ Tứ còn được thể hiện qua ánh mắt “ Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài Bóng tối trùm lấy hai con mắt Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt.”Mọi nỗi niềm của bà đều được chứa đựng ở con mắt ấy, mắt bà nặng trĩu những nỗi lo nỗi buồn, nặng trĩu những đau khổ của quá khứ mà bà phải trải qua Màu sắc chủ đạo trong con mắt ấy là màu đen đặc của bóng tối, không chỉ là bóng tối của màn đêm,mà còn là bóng tối của cái đói, cái nghèo, cực khổ bao trùm lên cuộc đời của bà, là bóng tối của bao nỗi chết chóc, ám ảnh qua nỗi nhớ của những người đã khuất là chồng và người con gái Bóng tối đè nặng lên ánh nhìn, đè nặng lên tấm lòng của người mẹ nghèo để rồi trong bà trào dâng một nỗi xót xa cho số phận mình nhưng hơn hết là lo lắng cho sự tồn tại, tương lai của các con Qua cách miêu tả qua ánh nhìn ấy, nhà văn như đang xoáy sâu, nhập thân làm một với bà cụ Tứ để đi vào ngõ ngách sâu kín, những uẩn khúc của tâm lí nhân vật “Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài”đây là những xúc cảm chất chứa trong lòng không thể nói ra, thở dài không phải là trách mắng hay khinh bỉ người con dâu kia mà là tiếng thở dài của bao lo toan chất chứa cả
Trang 6một đời Không chỉ là xót thương cho người con trai máu mủ, xót thương cho cuộc đời của mình mà bà còn xót thương cho người đàn bà theo Tràng về làm vợ “bà lão nhìn người đàn bà lòng dầy thương xót”bà xót cho thân phận của Thị, người phụ
nữ vì cái đói, cái nghèo mà trở nên tiều tụy, rẻ mạt, phải bán đi cái gọi là “liêm sỉ”để theo Tràng tìm một mái ấm Bà cúi đầu xót xa cho Thị, bà hiểu Thị về làm con dâu của bà là một sự thiệt thòi “Kể ra có được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai chấp nhặt chi cái lúc này.”bà biết rằng đám cưới lẽ ra phải có ông mai, bà mối, phải có vài ba mâm cơm mời hai bên gia đình nhưng nhà bà nghèo, cái ăn còn chưa có nói gì là một cái đám cưới, bà biết Thị thiệt thòi đủ kiểu “ Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi”bà không hề coi khinh người đàn bà “mang tiếng theo trai kia”, ngược lại bà còn thương yêu, trân trọng, biết ơn người vợ nhặt Như vậy, bằng vài chi tiết tiêu biểu, nhà văn đã làm nổi bật tâm trạng xót xa, chạnh lòng của người mẹ nghèo khi nhận ra cơ sự Qua đó, nhà văm đã tìm ra “hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn”(Nguyễn Minh àng ) là một người phụ nữ sâu sắc, thương con, vị tha, nhân hậu phía sau vẻ bề ngoài già cả và tiều tụy Đó là vẻ đẹp của bà cụ Tứ nói riêng cũng là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam nói chung Ta cũng có thể bắt gặp nét đẹp ấy ở người đàn bà hàng chài trong tác phẩm chiêc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, họ đều là những người “áo rách nhưng lòng vàng“ đáng được trân trọng và ngợi ca Đặc biệt 2 người phụ nữ ấy có tình yêu với các con vô bờ bến và tấm lòng nhân ái sâu sắc: Nếu người đàn bà hàng chài thể hiện tình yêu ấy bằng cách xin ngừoi chồng vũ phu đưa chị lên bờ để đánh nhằm tránh cho các con khỏi bị tổn thương bởi bạo lực gia đình, chị cảm thông cho hành động vũ phu của anh chồng do áp lực cuộc sống dồn nén ; thì bà cụ tứ lại bộc lộ qua những nỗi lo lắng, xót xa cho Tràng, đặc biệt là
sự bao dung, vị tha cho thân phận của Thị Tấm lòng cao cả đó của người mẹ khiến cho người đọc thật cảm động Họ là tiêu biểu cho hình ảnh người mẹ Viêt Nam với những phẩm chất tốt đẹp!
“Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề với cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới
sự sống, vẫn hy vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người” Đó là những chia sẻ của Kim Lân về “Vợ nhặt” Chính vì vậy mà khi khắc họa tâm trạng bà cụ Tứ, nhà văn không chỉ viết về cái buồn, cái xót xa mà đằng sau
Trang 7cảm xúc xót xa ấy, ông viết về tâm trạng vui mừng, lạc quan của người mẹ già trước tình huống trớ trêu “Tràng nhặt vợ” Bà nhẹ nhàng nói với người con dâu “ ừ thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng” Từ “mừng lòng” nói lên hết cảm xúc của bà lúc này “mừng lòng” chứ không phải là “bằng lòng” bởi
“bằng lòng” nói đến sự gượng ép, miễn cưỡng, đối với sự xuất hiện của Thị bà cụ
Tứ bà không miễn cưỡng chấp nhận hay khinh rẻ, ngược lại bà còn trân trọng, xem Thị là người đồng hành cùng mình bao khó khăn phía trước “Mừng lòng” chứ không phải là “vui lòng” bởi niềm vui có lớn đến đâu cũng không thể quên đi thực tại ngoài kia, nạn đói vẫn đang hoành hành, cái chết như ngả rạ vẫn đang tiếp diễn, đem người vợ nhặt về nhà cũng đồng nghĩa với việc đêm một miệng ăn về nhà Có thể nói “mừng lòng” diễn tả một niềm vui vừa phải, niềm vui trong nạn đói, không quá sung sướng, không không quá gượng ép Bà vui vì từ nay vì từ nay đứa con xấu xí của bà đã có vợ, gia đình bà có thêm một người phụ nữ để lo toan Dù đang cận kề bên cái chết, cái đói nhưng người mẹ ấy vẫn tin tưởng, lạc quan vào cuộc sống, đưa ra những lời khuyên cho đôi vợ chồng mới cưới “nhà ta thì nghèo các con ạ về sau”bà đặt niềm tin vào các con, bà khuyên hai đứa con bảo ban nhau
mà làm ăn rồi vượt qua tao đoạn khó khăn mà mở mày mở mặt sau này Bà lão đã tùng một câu tục ngữ(không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời)để răn dạy các con
Sự lạc quan của bà cụ Tứ cũng là nội dung mà tác giả muốn truyền tải đến thế hệ bạn đọc, dùng cận kề bên cái chết, con người Việt Nam vẫn luôn lạc quan, yêu đời, trân trọng cuộc sống Đó là thứ diệu kì của con người Việt Nam mà kim lân đã tìm được
Cuối cùng, nhà văn đã khắc họa tâm trạng lo lắng của bà cụ Tứ qua nỗi lo, nỗi trăn trở về tương lai Dù có hạnh phúc đến đâu, sung sướng đến mấy bà cũng không thể quên hiện thực ngoài kia, cái chết vẫn đang tiếp diễn, dòng người chết đói đang chất thành đống ngoài kia, biết đâu ngày mai người nằm ngoài kia lại là
bà, là hai đứa con của bà, bà không lo sao được Bao nhiêu câu hỏi dồn dập trong đầu bà “biết rằng không?’’ “vợ chồng chúng nó lấy nhau không” bà lo liệu vợ chồng Tràng có vượt qua được giai đoạn này hay lại lặp lại cuộc đời của bà, lặp lại cái cuộc đời đau khổ, tủi cực mà bà từng trải qua Như vậy, với tâm trạng lo lắng, Kim Lân đã hoàn thành bức tranh tâm trạng của bà cụ Tứ, nhà văn như hóa thân vào nhân vật để khám phá, tìm tòi lần lượt những nỗi niềm, cảm xúc của người mẹ
“áo rách nhưng lòng vàng”
Trang 8“Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một phát minh về hình thức, một phát hiện mới
về nội dung” Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân là một tác phẩm như thế khi vừa gửi đến cho độc giả nội dung sáng tạo, mới lạ vừa là sự độc đáo trong nghệ thuật Trước tiên, phải nói đến tình huống truyện éo le, trớ trêu, dở khóc dở cười “Tràng nhặt vợ”, nếu ví cả tác phẩm là một dòng sông thì tình huống ấy là một xoáy nước, bởi nó là nút thắt của câu chuyện, là hoàn cảnh để mọi nhân vật bộc lộ cảm xúc và phẩm chất trong đó có bà cụ Tứ Nhà văn xây dựng tình huống ấy không phải là để mua vui, mà để làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất của các nhân vật, cùng làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm Khác với những nhà văn khác, văn của Kim Lân giản
dị, mộc mạc như những con người dân quê, chính vì vậy mà từ ngữ trong Vợ nhặt cũng như thế mộc mạc và đời thương, gần gũi với cuộc sống nông thôn Từ ngữ, hình ảnh trong tác phẩm không quá trau chuốt, mượt mà nhưng lại mang lại hiệu biểu đạt cao Nhắc đến truyện, ta không thể không nhắc đến nghệ thuật xây dựng nhân vật Với bà cụ Tứ, Kim Lân đã không dùng ngòi bút của mình để miêu tả chân dung, mà tập trung miêu tả nội tâm nhân vật Nhà văn đã lột tả đầy đủ mọi tâm trạng của một người mẹ nghèo trước hạnh phúc của người con trai, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp khuất lấp bên trong người mẹ già Cuối cùng, đoạn văn còn là cách
kể chuyện linh hoạt, giản dị, tự nhiên và chân thật
“Nói đến giá trị nhân đạo là nói đến thái độ của người nghệ sĩ giành cho con người mà hạt nhân căn bản là lòng yêu thương”(từ điển văn học) Với vợ nhặt cũng vậy, Kim Lân đã gửi gắm giá trị nhân đạo của tác phẩm và tình cảm giành cho bà
cụ Tứ nói riêng và người nông dân nghèo nói chung Nhà văn bày tỏ sự trân trọng,
ca ngợi, cho những người nghèo khổ nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp Đọc những trang văn mộc mạc của Kim Lân, ta biết được một bà cụ Tứ nghèo khổ, nhưng đằng sau ngoại hình ấy lại là người phụ nữ thương con, giàu lòng bao dung
và nhân hậu Dù cái đói vẫn đang bám riết nhưng bà vẫn dang rộng vòng tay chào đón người vợ nhặt, vẫn trân trọng, yêu thương người đàn bà theo con trai về làm
vợ Có thể nói, đây là vẻ đẹp ngàn đời của người phụ nữ Việt Nam: yêu chồng, thương con, giàu đức hi sinh và nhân hậu Ngòi bút của Kim Lân còn ca ngợi tinh thần lạc quan cùng sự sâu sắc của người nông dân nghèo khổ Họ biết quên đi nạn đói, dù trong hoàn cảnh cùng cực nhất vẫn lạc quan, tin tưởng vào đảng, vào cuộc đời Không chỉ ca ngợi, nhà văn còn đồng cảm, xót thương đối với những người dân nghèo khổ Ông xót xa với người mẹ nghèo, không thể lo cho đứa con trai một cái đám cưới, xót xa cho nỗi lòng chua xót, quặn thắt của người mẹ nghèo, bất lực
Trang 9trước hoàn cảnh Nhà văn Nam Cao đã từng nói “hãy sống rồi hãy viết, hãy hòa vào cuộc sống vĩ đại của nhân dân” đọc đoạn trích ta thấy Kim Lân như sống cùng những người dân nghèo để hiểu, để cảm nhận những nỗi lòng, những khó khăn của
họ Sự ca ngợi, đồng cảm, xót xa cũng là những giá trị nhân đạo của Vợ nhặt, đó cũng là cái làm nên giá trị ngàn đời của tác phẩm
“Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của người dẫn tới xứ sở cái đẹp” với “vợ nhặt’’ Kim Lân đã hoàn thành xuất săc sứ mệnh của mình, khi dẫn người đọc đến xứ sở cái đẹp Cái đẹp ấy không phải là cái đẹp ở bức tranh thiên nhiên, càng không phải cái đẹp ở bức chân dung con người mà là cái đẹp ở tâm hồn người lao động”: nhân hâu, sâu sắc, lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống Vợ nhặt đã khép lại nhưng giá trị của tác phẩm, hình ảnh bà cụ Tứ sẽ vẫn còn vẹn nguyên trong lòng độc giả Xin được mượn một câu danh ngôn để thay cho lời kết này “trên đời có lắm kì quan, kì quan đẹp nhât là trái tim người mẹ”
Trang 111.Giới thiệu tg, tp, đoạn trích
2 Giới thiệu khái quát bà cụ Tứ
Thương con, bao dung, nhân hậu
4 Tâm trạng vui mừng, lạc quan
Trang 12Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng trong đoạn trích “sáng hôm sau tu sửa lại căn nhà” Từ đó, nhận xét sự thay đổi của Tràng
Bài làm Đến với mảnh đất văn chương, nếu Nguyễn Công Hoan coi “đời là mảnh ghép của những nghịch cảnh”; Thạch Lam ví “đời là miếng vải có nhiều lỗ thủng, nhiều vết ố nhưng vẫn nguyên vẹn”; và Nam Cao thì coi “cuộc đời là tấm áo cũ bị
xé rách tả tơi từ cái làng Vũ Đại đến mỗi gia đình, mỗi số phận”, thì Kim Lân lại không nhìn đời bằng con mắt “đau thương” như thế Là nhà văn nhân đao, ông đã
để cuộc đời phả gió vào trái tìm mình, để cảm nhận, để viết nên những trang văn đầy xúc động về những người nông dân tuy khốn khổ, thiếu thốn nhưng vẫn lạc quan và chan chứa tình người Điển hình cho phong cách ấy là tác phẩm “vợ nhặt”
Vợ nhặt vừa là bức tranh miêu tả thảm cảnh của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 vừa là bài ca ca ngợi niềm tin và sức sống của họ: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khao khát tổ ấm gia đình và yêu thương đùm bọc lẫn nhau Viết về những người nông dân khốn khổ ấy, nhà văn đã tập trung xây dựng hình tượng nhân vật “Tràng” Và bài ca ấy được nhà văn gửi gắm ở nhân vật Tràng thông qua việc miêu tả sự thay đổi về tâm trạng của anh trong đoạn trích “sáng hôm sau căn nhà”
Kim Lân là cây bút viết truyện ngắn xuất sắc của văn học hiện đại việt nam Nhắc đến ông là nhắc đến người con đẻ của đồng ruông, một lòng đi về với đất, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn (Nguyên Hồng), nhắc dến một mảng văn học mang đậm hơi thở nông thôn mà đặc biệt là đồng bằng bắc bộ bởi ông thường gửi ngòi bút của mình vào cuộc sống và con người nông thôn khó khăn vất vả nhưng vẫn lạc quan, hóm hỉnh và tài hoa Những trang viết của ông đâu đâu cũng là đất, là nếp sống, hương vị của làng quê việt nam phả vào một cách dung dị, chân thật Vợ nhặt là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy, một phong cách rất đỗi Kim Lân
Vợ nhặt được gợi cảm hứng từ nạn đói năm 1945, cái năm mà thần chết đem cái đói gõ cửa từng nhà, len lỏi vào từng ngõ ngách, cõi âm hòa vào cõi dương, tạo nên một khung cảnh ảm đạm và thê lương, cái chết tràn lan khắp nơi, sự sống trở
nên leo lét và nhỏ bé, cuộc sống của con người đứng trên vờ vực của sự tàn lụi
“Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ.” Nhưng điều kì diệu là khi cận kề bên cái chết, con người Việt Nam không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng về ánh sang, sự sống và khao
Trang 13khát tình thương Tiền thân của “vợ nhặt” là tiểu thuyết “xóm ngụ cư” nhưng do chiến tranh giang dở, nhà văn bị thất lạc bản thảo nên đến năm 1954 nhà văn mới
có cơ hội quay lại bản thảo cũ và rút tiểu thuyết thành truyện ngắn
Trước hết, Tràng xuất hiện là một anh nông phu nghèo với thân phận ngụ
cư, cuộc sống của mẹ con anh chỉ dựa vào những đồng phu xe ít ỏi Đã vậy, anh còn là một sản phẩm không hoàn hảo của tạo hóa, “hai mắt nhỏ tí, quai hàm bạnh
ra, lưng vập vạp như con gấu” đã vậy anh còn dở hơi “hay ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch” Có thể thấy, anh hội tụ đủ mọi nguy cơ ế vợ :nghèo, thân phận thấp kém, xấu xí, dở hơi Thế nhưng, Kim Lân đã đặt anh vào một tình huống éo le, ngang trái “Tràng nhặt vợ”chỉ bằng vài ba câu nói bông đùa Thế là giữa nạn đói, Tràng dẫn một cô gái về làm vợ mà nói đúng hơn là nhặt vợ như nhặt một cọng rơm, cọng rác ngoài đường ngoài chợ Điều đó đã gây nên sự thay đổi trong tâm trạng của bà cụ Tứ, người dân xóm ngụ cư và cả chính bản thân Tràng
“Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề với cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới
sự sống, vẫn hy vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người” Đó là những chia sẻ của Kim Lân về “Vợ nhặt” Chính vì vậy, sau khi mieu tả cảnh chết chóc, không gian bi thương của nạn đói và con người năm đói, Kim Lân đã thổi vào nhân vật sự sung sướng, phấn chấn và choáng ngợp Không còn là anh cu Tràng với vẻ mặt đăm đăm, mệt mỏ nữa mà sau đêm tân hôn, ta bắt gặp một anh Tràng hoàn toàn khác: vui vẻ và sung sướng “Mặt trời lên bằng con sào Tràng mới trở dậy” anh như bị cuốn vào giấc mơ có vợ, anh như chìm đắm, say sưa vào giấc mơ ấy Nhưng một điều bất ngờ là Tràng trở dậy với dáng vẻ khoan khoái lạ thường “trong người êm ái, lửng lơ như vừa ở trong giấc mơ đi ra”
Từ êm ái, lửng lơ kết hợp với biện pháp tư từ so sánh tô đậm tâm trạng hân hoan tột độ của anh Tràng khờ khệch ngày nào Anh vừa bước ra từ một câu chuyện cổ tích, anh mất trọng lượng lửng lơ giữa cõi ảo, cõi mơ Có thể nói, tình yêu như một liều thuốc tinh thần cho những người nông dân nghèo khổ Sau khi có được tình yêu, Tràng như biến thành một con người hoàn toàn khác, mang một niềm vui to lớn Có lẽ đấy là cảm xúc của người đã lâu không có được tình yêu nay lại đến một cách đột ngột trong nạn đói “ hắn ngỡ ngàng như không phải” Anh ngờ ngợ về việc mình đã có vợ, đó cũng là cảm xúc bình thường bởi tình yêu đến với anh một cách quá đột ngột mà chính Tràng cũng không định hình được bước ra giấc mơ
Trang 14này, Tràng lại đi vào một giấc mơ khác, Tràng đi ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi chứng kiến sự thay đổi của cảnh vật xung quanh mình “Hăn chắp hai tay lửng thửng bước ra ngoài sân’’ không còn là bước đi mệt mỏi luồn qua xóm ngụ cư hay cái dáng vạt áo một bên vai nữa mà sau sáng hôm sau, Tràng trở nên oai phong, mang phong thái rất ung dung Đập vào mắt Tràng lúc này là không gian vô cùng trong lành, thoáng đãng, mang đúng ý nghĩa của một ngôi nhà “Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã hót sạch” Ngôi nhà có bàn tay của người phụ nữ như được mặc một chiếc áo mới, trở nên có sinh khí, có sự sống, khiến Tràng không khỏi bất ngờ Mới hôm qua, anh vừa thanh minh vừa gửi gắm trách nhiêm lên Thị “nhà cửa không có người đàn bà nó thế đấy”hôm nay anh đã được chứng kiến một khung cảnh vô cùng mới mẻ, ấm áp, gọn gàng, mang hởi thở của sự sống Nếu nhà văn Nam Cao khẳng định sự hoàn lương của Chí Phèo sau đêm tình với Thị Nở bằng việc tỉnh rượu đến tỉnh ngộ, hắn cảm nhận được âm thanh quen thuộc: tiếng chim hót, tiếng của những người đàn bà đi chợ thì Kim Lân lại để Tràng thức dậy với tâm trạng ngỡ ngàng tột độ về khung cảnh sống Như vậy, bằng vài ba nét bút, hình ảnh, Kim Lâ đã tô đậm tâm trạng vui mừng, sung sướng, ngỡ ngàng, choáng ngợp của Tràng sáng hôm sau
Văn học là tiếng nói của tình cảm, là thư kí trung thành của trái tim, chính vì vậy mà ngòi bút của Kim Lân đã diễn tả một cách sinh động và chân thật cảm xúc, tâm trạng của Tràng sau đêm tân hôn, sau khi chứng kiến cảnh tượng bình dị trước mắt “Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động”.Khung cảnh
ấy ngày nào chẳng có, trước đây anh đã phớt lờ đi nhưng hôm nay anh mới thấm thía cảm động Người ta chỉ cảm động với những gì diễn ra hằng ngày khi trong họ
có sự thay đổi lớn và ngay hôm nay, ta bắt gặp sự thay đổi lớn, quyết định cả số phận sau này của anh Vậy tại sao trước khung cảnh quen thuộc, Tràng lại cảm động? Suốt chặng đường dài đằng đẵng của bà cụ Tứ, Tràng đã không gửi được niềm vui nào vào cuộc đời của mẹ, anh đã không thể lo cho mẹ một cuộc sống no
đủ nên anh cảm động, anh thấy xót xa, có lỗi Còn cô vợ nhặt kia, mới hôm qua thấy ả chao chát, chỏng lỏn, hôm nay lại chốc dịu dàng đến laj, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất rồi đi thẳng vfao lòng Tràng Từ sự cảm động ấy dẫn
Trang 15đến việc anh thấy “yêu thương, gắn bó với căn nhà này lạ lùng’’ không còn là anh
cu Tràng khờ khạo, vô lo nữa mà anh yêu ngôi nhà này vô cùng, đối với anh, ngôi nhà này k chỉ là ngôi nhà che mưa, che nắng mà còn là nơi của những yêu thương, bao hạnh phúc Cuộc đời là vậy, người ta thường chỉ tìm kiếm hạnh phúc ở những chân trời xa xôi, mà quên đi hạnh phúc ngay cạnh mình, và Tràng sau khi thức tỉnh, anh nhận ra yêu thương ở ngay chính ngôi nhà của mình Đó cũng là chìa khóa thay đổi cả cuộc đời của Tràng sau này, biến anh trở thành một người đàn ông trưởng thành, có trách nhiệm hơn trong hôn nhân, “Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng” dù nạn đói đang hoành hành ngoài kia, cái chết vẫn tràn lan khắp đầu làng, cuối ngõ nhưng anh vẫn muốn sinh con, đẻ cái, đó là một suy nghĩ rất người, anh muốn vượt qua mọi nghịch cảnh để tạo ra một gia đình đúng nghĩa “ Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”, chữ “nên ngươi’’ nghe mà cảm động biết bao, bây giờ Tràng mới là con người bởi trước đây anh chỉ tồn tại chứ không được sống, anh sống một cuộc đời tẻ nhạt, thiếu thốn tình yêu tưg người cha, anh vô tình quên đi hạnh phúc bên người mẹ già và lúc này đây anh mới thấy mình là người, là “nên người” Để rồi, anh biết trách nhiệm của mình là phải lo cho
vợ, cho con, đó là suy nghĩ thật đáng khen ngợi Dù Thị là người anh nhặt về, nhưng anh không hề khinh rẻ người đàn bà mang tiếng theo trai kia ngược lại anh vẫn luôn cảm ơn, trân trạng Thị Anh đâu phải là thằng cười hềnh hệch ngày hôm qua mà là người đàn ông trưởng thành trong suy nghĩ, có trách nhiệm với hôn nhân
và khao khát hạnh phúc mãnh liệt Những tình cảm, cảm xúc của anh được trải dài trong những trang văn vô cùng thấm thía, cảm xúc Sự cảm động ây không dành cho anh cu Tràng dở hơi, mừng khi mẹ đi chợ về mà đến từ một người đàn ông có trách nhiệm với gia đình, với hôn nhân Không chỉ trưởng thành trong suy nghĩ mà
sự trưởng thành ấy còn đến từ hành động “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” Xăm xăm khác với dáng vẻ đăm đăm, mệt mỏi của chiều hôm qua, anh muốn tu sửa lại căn nhà nghĩa
là anh muốn làm trọn trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình, của một người chồng, người con trai, tu sửa lại văn nhà là lời tuyên chiến với nạn đói năm 1945 Giữa mùi gây của xác người, của phông nền u ám và xám xịt, ta vẫn cảm nhận được mùi hương được chưng cất của niềm tin và hi vọng, của tình thương Cái ước muốn,cảm xúc của Tràng có sự đồng điệu với ước mơ của Chí Phèo trong buổi sáng ngày hôm sau Sau đêm tình với Thị Nở, Chí thèm được lương thiện, “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn cày
Trang 16thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm." Tràng và Chí sau khi có được hạnh phúc đều thức tỉnh, đã thay đổi Nhưng mỗi nhà văn đến vơi thi đàn văn học có một tiếng nói riêng, tiếng nói ấy vừa phụ thuộc vào quan điểm cá nhân, vừa bị chi phối bởi hoàn cảnh thời đại Chính vì vậy mà số phận của Tràng khác với Chí Phèo, lão Hạc, họ đều tìm đến cái chết như một cách để chấm dứt mọi khổ đau nhưng Kim Lân đã để Tràng thay đổi rồi kết thúc bằng một cái kết mở “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói
và lá cờ đỏ bay phấp phới” Nhà văn đã soi vào nhân vật ánh sáng của đảng, của thời đại, đó cũng là nội dung mà nhà văn gửi đến độc giả: dù cận kê người việt nam vẫn
“Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một phát minh về hình thức, một phát hiện mới
về nội dung” Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân là một tác phẩm như thế khi vừa gửi đến cho độc giả nội dung sáng tạo, mới lạ vừa là sự độc đáo trong nghệ thuật Trước tiên, phải nói đến tình huống truyện éo le, trớ trêu, dở khóc dở cười “Tràng nhặt vợ”, nếu ví cả tác phẩm là một dòng sông thì tình huống ấy là một xoáy nước, bởi nó là nút thắt của câu chuyện, là hoàn cảnh để mọi nhân vật bộc lộ cảm xúc và phẩm chất trong đó có anh cu Tràng Nhà văn xây dựng tình huống ấy không phải
là để mua vui, mà để làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất của các nhân vật, cùng làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm Khác với những nhà văn khác, văn của Kim Lân giản dị, mộc mạc như những con người dân quê, chính vì vậy mà từ ngữ trong Vợ nhặt cũng như thế mộc mạc và đời thương, gần gũi với cuộc sống nông thôn Từ ngữ, hình ảnh trong tác phẩm không quá trau chuốt, mượt mà nhưng lại mang lại hiệu biểu đạt cao Nhắc đến truyện, ta không thể không nhắc đến nghệ thuật xây dựng nhan vật Với nhân vật Tràng , Kim Lân đã không dùng ngòi bút của mình để miêu tả chân dung, mà tập trung miêu tả nội tâm nhân vật Nhà văn đã lột tả đầy đủ mọi tâm trạng của Tràng sau khi có được vợ, từ đó tìm thấy hạt ngọc trong tâm hồn của anh cu Tràng Cuối cùng, đoạn văn còn là cách kể chuyện linh hoạt, giản dị, tự nhiên và chân thật
“Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một phát minh về hình thức, một phát hiện mới
về nội dung” Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân là một tác phẩm như thế khi vừa gửi đến cho độc giả nội dung sáng tạo, mới lạ vừa là sự độc đáo trong nghệ thuật Trước tiên, phải nói đến tình huống truyện éo le, trớ trêu, dở khóc dở cười “Tràng nhặt vợ”, nếu ví cả tác phẩm là một dòng sông thì tình huống ấy là một xoáy nước, bởi nó là nút thắt của câu chuyện, là hoàn cảnh để mọi nhân vật bộc lộ cảm xúc và phẩm chất trong đó có bà cụ Tứ Nhà văn xây dựng tình huống ấy không phải là để
Trang 17mua vui, mà để làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất của các nhân vật, cùng làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm Khác với những nhà văn khác, văn của Kim Lân giản
dị, mộc mạc như những con người dân quê, chính vì vậy mà từ ngữ trong Vợ nhặt cũng như thế mộc mạc và đời thương, gần gũi với cuộc sống nông thôn Từ ngữ, hình ảnh trong tác phẩm không quá trau chuốt, mượt mà nhưng lại mang lại hiệu biểu đạt cao Nhắc đến truyện, ta không thể không nhắc đến nghệ thuật xây dựng nhan vật Với bà cụ Tứ, Kim Lân đã không dùng ngòi bút của mình để miêu tả chân dung, mà tập trung miêu tả nội tâm nhân vật Nhà văn đã lột tả đầy đủ mọi tâm trạng của một người mẹ nghèo trước hạnh phúc của người con trai, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp khuất lấp bên trong người mẹ già Cuối cùng, đoạn văn còn là cách
kể chuyện linh hoạt, giản dị, tự nhiên và chân thật
“Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một phát minh về hình thức, một phát hiện mới
về nội dung” Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân là một tác phẩm như thế khi vừa gửi đến cho độc giả nội dung sáng tạo, mới lạ vừa là sự độc đáo trong nghệ thuật Trước tiên, phải nói đến tình huống truyện éo le, trớ trêu, dở khóc dở cười “Tràng nhặt vợ”, nếu ví cả tác phẩm là một dòng sông thì tình huống ấy là một xoáy nước, bởi nó là nút thắt của câu chuyện, là hoàn cảnh để mọi nhân vật bộc lộ cảm xúc và phẩm chất trong đó có bà cụ Tứ Nhà văn xây dựng tình huống ấy không phải là để mua vui, mà để làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất của các nhân vật, cùng làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm Khác với những nhà văn khác, văn của Kim Lân giản
dị, mộc mạc như những con người dân quê, chính vì vậy mà từ ngữ trong Vợ nhặt cũng như thế mộc mạc và đời thương, gần gũi với cuộc sống nông thôn Từ ngữ, hình ảnh trong tác phẩm không quá trau chuốt, mượt mà nhưng lại mang lại hiệu biểu đạt cao Nhắc đến truyện, ta không thể không nhắc đến nghệ thuật xây dựng nhan vật Với bà cụ Tứ, Kim Lân đã không dùng ngòi bút của mình để miêu tả chân dung, mà tập trung miêu tả nội tâm nhân vật Nhà văn đã lột tả đầy đủ mọi tâm trạng của một người mẹ nghèo trước hạnh phúc của người con trai, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp khuất lấp bên trong người mẹ già Cuối cùng, đoạn văn còn là cách
kể chuyện linh hoạt, giản dị, tự nhiên và chân thật
Đọc đoạn văn ta cảm nhận được sự thay đổi của Tràng về tâm trạng cũng như tính cách, từ tâm trạng lo lắng, bối rối Sang tâm trạng vui mừng và xúc động,từ một con người ngô nghê chấp nhận cuộc sống tạm bợ thành một người đàn ông trưởng thành có trách nhiệm với gia đình, muốn xây dựng cuộc sống Đó là quá trình chuyển biến sâu sắc của một con người và nguyên nhân của sự biến đổi
Trang 18ấy là cô vợ nhặt Hay nói đúng hơn tình yêu thương, mái ấm gia đình đã biến anh chàng dở hơi thành một người đàn ông trưởng thành Tình yêu có một sức mạnh to lớn đến thế có thể thay đổi được cả tính cách của một con người Điều đó ta cũng
có thể cảm nhận được trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao Chí Phèo
và Tràng đều là những nhân vật tiêu biểu cho người nông dân nghèo bì dồn đến bước đường cùng, Tràng- một anh nông dân ngụ cư lại hơi, Chí Phèo một anh nông phu bị xã hội khinh rẻ, bị biến đổi nhân hình lẫn nhân tính Hai nhân vật đều được tình yêu thương cảm hóa, Nếu Chí Phèo từ khi gặp Thị Nở, hắn thèm được lương thiện, thèm làm hòa với mọi người thì Trạng khi có được tình yêu đã thay đổi chóng ván, anh đã chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh chống lại nạn đói Vậy mới thấy tình yêu có sức mạnh vô hình làm thay đổi cả một con người “ cái cốt lõi của văn học là tính nhân đạo”(Nguyên Ngọc) thông qua việc miêu tả sự thay đổi trong tâm lý nhân vật Tràng ,nhà văn muốn gửi đến một giá trị nhân đạo sâu sắc, ông ca ngợi, trân trọng và đặt niềm tin vào con người họ sẽ vượt qua được khó khăn thử thách họ sẽ cùng nhau chiến đấu với nạn đói
Truyện ngắn “Vợ nhặt” đọng lại trong lòng độc giả vô số những ấn tượng khác nhau: từ cách miêu tả khung cảnh ngày đói một cách chân thực đến biễn biến tâm lý bậc thầy của Kim Lân, nhưng có lẽ cái đọng lại cuối cùng vẫn là cách nhìn đời, nhìn người đầy xót xa và thương yêu của nhà văn, là niềm tin mà dường như ông muốn trao gửi đến tất cả chúng ta qua thiên truyện: Rằng, dù cuộc sống có bi thảm đến đâu thì cái cội nguồn nhân bản lưu giữ trong nhân dân vẫn là bất diệt; rằng con người không có khao khát chính đáng nào hơn là khao khát được sống như một con người, được nên người
Cảm nhận diễn biến tâm trạng của Tràng trong buổi sáng đầu tiên Tràng
có vợ, từ đó nhận xét về sự thay đổi của nhân vật
5.0
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Có đủ mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề Thân bài
triển khai được vấn đề Kết bài khái quát được vấn đề
0,25
b Xác định đúng vấn đề nghị luận
Cảm nhận về sự thay đổi của nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau
0,25
c Triển khai vấn đề nghị luận
Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn
chứng
1.0
Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nêu vấn đề nghị luận 0,5
Trang 19Diễn biến tâm trạng của Tràng trong buổi sáng hôm sau: 2,0
- Sáng hôm sau tỉnh dậy, Tràng hạnh phúc, sung sướng, ngỡ ngàng,
không dám tin vào việc mình đã có vợ Anh nhận ra sự thay đổi mới
mẻ của căn nhà, cảm nhận được không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ Từ
đó, anh có sự chuyển biến trong tình cảm và thay đổi trong nhận thức:
thấy yêu thương, gắn bó với ngôi nhà; ý thức được trách nhiệm và bổn
phận của mình với gia đình; mong muốn biến cảm xúc tích cực thành
hành động cụ thể
- Trong bữa cơm ngày đói, Tràng có cảm giác tiếc rẻ, vẩn vơ khi nghe
người vợ kể về việc ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta phá kho thóc
Nhật chia cho người đói; cảm giác được thôi thúc hành động để thay
đổi số phận (Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay
phấp phới )
1,5
0,5
- Từ một người vô tâm, trở thành một người đàn ông trưởng thành
trong suy nghĩ, biết yêu thương, quan tâm có trách nhiệm với gia đình
- Từ một người đi bên lề của cuộc đấu tranh, đã bước đầu có suy nghĩ
về hành động tham gia cách mạng để có cuộc sống ấm no
- Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi: sự đầm ấm của hạnh phúc gia đình
đã đem đến sức sống mới cho người đàn ông đang bên bờ vực của cái
đói và cái chết
- Ý nghĩa sự thay đổi: thể hiện niềm tin và sự trân trọng của nhà văn
Kim Lân vào sức sống của người lao động
Đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo, vừa bất ngờ, vừa éo le;
xây dựng nhân vật chân thực, sống động qua bút pháp miêu tả tâm lý
tinh tế; ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên
Đề bài: Về nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, có ý
kiến cho rằng: “Đó là một người phụ nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự trọng” Ý kiến khác lại khẳng định: “Đó là một người phụ nữ tự trọng, có ý thức về phẩm giá của
Trang 20mình” Từ cảm nhận của mình về hình tượng nhân vật người vợ nhặt, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên
BÀI LÀM
Tác giả Nguyên Hồng đã từng nói: “Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy” Khác với Nguyễn Tuân luôn muốn đi tìm những cái đẹp, cái hùng vĩ, độc lạ, thì nhà văn Kim Lân lại một lòng muốn lưu giữ những kỉ niệm với vùng đất và con người nông thôn Trong nền văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn những năm trước cách mạng và những năm đầu sau cách mạng tháng tám, Kim Lân là một trong những cái tên nổi bật nhất khi viết về đề tài người nông dân trong xã hội cũ Dù có số lượng tác phẩm hạn chế, thế nhưng hầu như tác phẩm nào của Kim Lân cũng hay và có nhiều giá trị, là cơ sở xếp nhà văn vào một trong chín tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại Điểm sáng và đáng lưu ý nhất trong các tác phẩm của Kim Lân ấy là giọng văn nhẹ nhàng, tình cảm, các tác phẩm của ông chủ yếu tập trung làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của người, hướng đến một lối thoát nhân văn cho những kiếp người lầm than khốn khổ, chứ không tập trung tái hiện hiện thực khắc nghiệt đau thương của xã hội cũ Tiêu biểu cho sự thành công trong truyện ngắn là tác phẩm “Vợ nhặt”
Truyện ngắn “Vợ nhặt” được in trong tập “Con chó xấu xí” năm 1962 Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng đang viết dở thì thất lạc bản thảo Sau năm 1954, khi hòa bình lập lại, ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này Nội dung truyện ngắn viết về khung cảnh nạn đói năm 1945 Giữ lúc nạn đói đang hoành hành, Tràng – một chàng trai nghèo đói, lại là dân xóm ngụ cư – dẫn một người đàn bà lạ về nhà khiến mọi người đều ngạc nhiên Trước đó, chỉ hai lần gặp gỡ, với mấy câu đùa vu vơ, vài bát bánh đúc, Thị đã chấp nhận theo Tràng về làm vợ Về đến nhà, Tràng vẫn còn ngỡ ngàng Mẹ Tràng từ ngạc nhiên đến lo lắng, xót thương, rồi cũng mừng lòng đón nhận nàng con dâu Sáng hôm sau, vợ và mẹ Tràng dậy từ sớm thu dọn nhà cửa Trông thấy cảnh tượng ấy, Tràng thấy thương yêu và gắn bó với gia đình của mình Trong bữa cơm ngày đói, nghe tiếng trống thúc thuế, hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ hiện lên trong đầu Tràng Nói về nhân vật Thị - người vợ được Tràng “nhặt” về giữa những ngày đói,
đã có ý kiến cho rằng: “Đó là một người phụ nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự trọng”, một
ý kiến khác lại khẳng định: “Đó là một người phụ nữ tự trọng, có ý thức về phẩm giá của mình”
Trang 21Xuất hiện trong tác phẩm, người vợ nhặt chỉ là một con số không tròn trĩnh: không tên tuổi, không quê hương, không gia đình, không nghề nghiệp… Từ đầu đến cuối tác phẩm, chị chỉ được gọi bằng “thị” – một cách gọi phiếm định dành cho chị và tất cả những người phụ nữ có cảnh ngộ và số phận đáng thương, tội nghiệp như chị Không những vậy, chân dung của người phụ nữ ấy hiện ra ngay từ đầu là những đường nét không mấy dễ nhìn: “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “gầy sọp”,
“khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”, “cái nón rách tàng”… bằng ấy những từ ngữ thôi cũng đã đủ để nói về một người trong những ngày tháng của nạn đói năm 1945 Thị là bất kì người đàn bà nghèo khổ nào đấy ngoài kia đang bị cái đói, cái khổ bủa vây Nhắc tới thị bằng hai tiếng “vợ nhặt” sao mà thê lương tới thế “Vợ” không được cưới hỏi, không được đưa rước về nhà chồng mà là “nhặt” về, lượm về cũng như một món hàng bị rẻ rúng Kim Lân dường như đã cho thấy giá trị bần cùng, thấp kém của con người trong xã hội vào những năm tháng ấy Một thời buổi đầy loạn lạc, bi thương như màu sắc của xóm làng buổi xế chiều “hai bên dày phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa bóng người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như bóng ma” Khung cảnh đầy thê lương như dâng lên tột bậc với tiếng quạ “cứ gào lên từng hồi”
Lần đầu tiên gặp Tràng, là khi anh Tràng đẩy xe thóc Liên đoàn đi lên tỉnh Khi ấy, thị cùng các cô gái – theo miêu tả của Tràng – đang “ngồi vêu” ở cửa kho Tình cờ ngang qua chốn ấy, anh hò một câu:
“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì”
Chỉ là câu hò chơi, chẳng có ý chọc ghẹo cô nàng nào, ấy vậy mà lại có cô gái là thị chạy tới để đẩy xe Khi ấy, thị vẫn còn “cười tít mắt”, còn căng tràn năng lượng, tươi tắn, cùng mấy cô gái “cứ đẩy vai” thị, làm cho cô cũng quyết định đứng dậy để đẩy xe bò cho anh Tràng Tơ duyên của hai mảnh đời cũng từ lần đẩy
xe bò ấy mà ra Chẳng biết có phải do sự trùng hợp, hay do các mảnh đời tội nghiệp, nghèo nàn tự tìm đến nhau hay không Lúc này thị vẫn là một cô gái vô tư, còn liếc mắt đưa tình với một anh chàng khác Ở đoạn văn này, cách miêu tả của Kim Lân cho thấy, dù đang sống trong một hoàn cảnh là nạn đói hoành hành, nhưng ở một khía cạnh nào đó, con người vẫn đang sống một cách lạc quan, tích cực, gái trai vẫn còn “tình tứ” với nhau
Vậy mà thoắt cái, lần “hội ngộ” tiếp theo của Tràng và thị lại trong một hoàn cảnh thực sự éo le “Áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” Thị xuất hiện trước mặt Tràng với những câu trách móc, hậm hực: “Điêu! Người thế mà điêu!” Lần này, thị xuất hiện
Trang 22với mục đích để “đòi” lại những gì mà Tràng đã hứa Thị đã bị cái đói đầy vào lối cụt, đẩy thị vào bước đi cuối cùng Thị bỏ cả cái gọi là danh dự và tôn nghiêm của mình Từ sự cong cớn, liếc mắt cười tít, thị chuyển sang vẻ tiều tụy, hốc hác vì cái đói, Tràng dường như không thể nhận ra thị Cùng với sự thay đổi về hình thức, cái đói đã xóa đi cái hồn nhiên hóm hỉnh của thị khi gặp Tràng, chị biến thành một người phụ nữ “đon đả”, táo bạo và liều lĩnh Thị chẳng còn để ý đến thứ gọi là
“mặt mũi” của mình, khi được Tràng nói “muốn ăn gì thì ăn”, thị đói đến mức cắm đầu ăn bốn bát bánh đúc: “Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng” Kim Lân đã khắc họa hình ảnh một người phụ nữ thật đáng thương! Từ ngoại hình đến cử chỉ, hành động, thị đều hiện lên trên trang giấy với sự khắc khổ, nhếch nhác, tội nghiệp Cái đói chẳng những tàn hại dung nhan mà còn tước đoạt cả tính cách và nhân phẩm của thị Vì đói mà trở nên “chao chát”, “chỏng lỏn”, “sưng sỉa” Cái đói khiến thị quên đi việc giữ gìn ý tứ và lòng tự trọng của con gái Sự khác biệt giữa hai lần gặp được tác giả miêu tả kĩ lưỡng, dùng cách đưa ra hai hình ảnh đối lập nhau, từ đó làm cho người đọc có thể hình dung rõ nhất về sự khốn cùng, khi con người ta bị dồn ép vào ngõ cụt Càng tội nghiệp hơn khi cái đói buộc thị phải trở thành “người
vợ nhặt” sau một câu nói nửa đùa nửa thật “này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cũng về” Thế là xong một câu chuyện tình, một cuộc hôn nhân! Sự lãng mạn chỉ là điều không tưởng Đang trên bờ vực của cái chết, thị còn lựa chọn nào hơn? Trong suy nghĩ của thị, Tràng như một cái phao cứu sinh, cứu thị ra khỏi sự đói khát của thế kỉ Cái đói đã làm cho thị và biết bao người dân lúc bấy giờ rẻ rúng như vậy Có ai ngờ được hạnh phúc lứa đôi được xây đắp bằng bốn bát bánh đúc và một lời nói bông đùa? Nhưng trong hoàn cảnh “người chết như ngả rạ”, “không khí ẩm lên mùi ẩm thối của rác tưởi và mùi gây của xác người” thì hạnh phúc tầm thường, đơn sơ kia cũng đáng quý biết bao
Khi nói về truyện ngắn "Vợ nhặt", Kim Lân đã tâm sự: "Những người đói,
họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống" Đọc những dòng này, ta lại nhớ đến sự tương đồng với hoàn cảnh của người phụ nữ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” Tô Hoài đã đem đến cho người đọc một người phụ nữ có nhiều điểm giống với thị Đến cả khi đi đến bước đường cùng, Mị vẫn chọn hướng đến sự sống Mị
đã hai lần nghĩ đến cái chết, một lần cầm nắm lá ngón chạy về với cha, một lần bị nhốt, Mị nghĩ rằng cần nắm lá ngón ăn để chết quách đi cho xong Ấy mà, khi đó
Mị không đủ dũng cảm, chạy về với cha nhưng khi nhìn thấy cha, Mị vẫn không thể chết Đến tận khi cái chết cận kề, khi bị trói ở cột nhà, lúc ấy sự sống trong Mị lại mãnh liệt, Mị lại muốn vùng lên để tìm đến sự sống Cả hai nhà văn đều cho chúng ta thấy được rằng, đến khi người ta lâm đến bước đường cùng, mong muốn lớn nhất chẳng phải được chết, mà là niềm mong ước, khao khát được sống đã vượt lên trên tất cả Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những
Trang 23con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai
Thị đến với Tràng trước hết làm tìm một chỗ nương tựa trong đói kém Bởi thế, thị không thể giấu nổi sự thất vọng thầm kín trước gia cảnh thảm thương của gia đình Tràng “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại Thị đảo mắt nhìn quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài” Trên đường về nhà chồng, trước những lời bàn tán xôn xao, những chỉ trỏ chòng ghẹo của người dân ngụ cư, người vợ nhặt cảm thấy xấu hổ, ngượng nghịu đến mức “chân nọ bước díu cả vào chân kia” Về đến nhà chồng, thị thất vọng trước cảnh nhà quá tồi tàn, khổ sở nhưng cố nén lại tất cả vào trong suy nghĩ Trong tiếng thở dài ấy không chỉ có nỗi thất vọng mà còn xen cả lo toan, ý thức trách nhiệm, bổn phận của mình trong việc xây dựng cuộc sống gia đình về sau Nhân vật Thị còn để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc bởi những phẩm chất tốt đẹp Vào trong nhà, thị e thẹn “ngồi mớm” vào mép giường và chào u một cách lúng túng Khác với vẻ chao chát, cong cớn, chỏng lỏn ban đầu, thị bây giờ là nàng dâu mới với đầy đủ sự ý tứ, cung kính, mực thước Bà cụ Tứ - một nhận vật xuất hiện phía sau, có vẻ như nhạt nhòa hơn so với Tràng và thị, lại là một nhân vật có vai trò quan trọng Khi bà cụ về nhà, bà được đưa hết từ cảm xúc này đến cảm xúc khác, từ ngạc nhiên, đến thương con, tự trách mình, nhưng cuối cùng bà vẫn có sự
mơ ước về một tương lai sáng lạn hơn Có lẽ, thị cũng rất để ý bà cụ, thị nhìn ra được những nỗi niềm trong lòng của một người làm mẹ, từ ấy, thị lấy lại được niềm tin vào gia đình nhỏ bé, thị muốn cùng Tràng vun đắp tổ ấm này Chính tình cảm yêu thương, sự đùm bọc sẻ chia trong cơn hoạn nạn đã khiến con người sống tốt hơn, ý thức sâu sắc hơn về bổn phận và trách nhiệm của mình
Nhân vật thị còn để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc bởi những phẩm chất tốt đẹp Vào trong nhà, thị e thẹn “ngồi mớm” vào mép giường và chào u một cách lúng túng Khác với vẻ chao chát, cong cớn, chỏng lỏn ban đầu, thị bây giờ là nàng dâu mới với đầy đủ sự ý tứ, cung kính, mực thước Chính tình cảm yêu thương, sự đùm bọc sẻ chia trong cơn hoạn nạn đã khiến con người sống tốt hơn, ý thức sâu sắc hơn về bổ phận và trách nhiệm của mình Sáng hôm sau, thị dậy sớm để cùng
mẹ chồng dọn dẹp trong ngoài Đến cả chính Tràng cũng phải ngạc nhiên: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không còn
vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh” Trong bữa cơm đón nàng dâu mới bữa cơm thảm hại ngày đói, thị vẫn vui vẻ bằng lòng với bát cháo cám đắng chát Thị là một cơn gió mới trong gia đình Hiện thực khắc nghiệt, xót xa “người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại” nhưng thị vẫn “điềm nhiên và vào miệng” Hoàn cảnh đấy, ai cũng phải cất lại nỗi tủi hờn bên trong để vui vầy cũng hạnh phúc bình dị, đơn sơ Sự lạc quan được gói
Trang 24trọn trong lời của bà cụ Tứ: “Cám đấy mày ạ, hì Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy” Có lẽ, khi quyết định về nhà với Tràng, thị ao ước có một cuộc sống tốt hơn, ít nhất là khi thị được Tràng “chiêu đãi” bốn bát bánh đúc Chẳng ngờ được, đến “làm dâu” mới thấy rõ sự nghèo đói của “nhà chồng” Nhưng thị chẳng nhẫn tâm phá bỏ đi bầu không khí tươi mới, hạnh phúc mới được thổi vào căn nhà nhỏ này, niềm hạnh phúc, hân hoan trong lòng của Tràng và bà cụ Tứ khi gia đình có thêm một thành viên mới Có thể thấy, đây là một cô “con dâu” hiểu chuyện, biết nghĩ sâu xa Điểm nhấn nghệ thuật ở người vợ nhặt chính là nghệ thuật khắc họa nhân vật của nhà văn Kim Lân Tác giả
đã đặt nhân vật trong tình huống “lạ”, “éo le”; diễn biến tâm lí được khắc họa qua các sự kiện với sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế qua hệ thống ngôn ngữ giản dị, mộc mạc
Trong hoàn cảnh ấy, có ý kiến đã cho rằng thị là “một người phụ nữ liều lĩnh, thiếu lòng tự trọng”, ý kiến trên có lẽ đã căn cứ vào một thực tế của truyện là người phụ nữ trong truyện đã theo không nhân vật Tràng chỉ sau hai lần gặp, nghe
ba câu nói đùa, ăn bốn bát bánh đúc Nếu ai bắt gặp một người con gái trong hoàn cảnh này cũng sẽ đánh giá đó là một người không có ý tứ, bất lịch sự Ấy nhưng, ta nên đặt mình vào hoàn cảnh của thị mới thấu hiểu được khát khao được sống, vượt lên cái đói khổ Lại có một ý kiến cho rằng thị là “đó là một người phụ nữ tự trọng,
có ý thức về phẩm giá của mình” Có lẽ người bảo vệ ý kiến này đã nghiêng về góc
độ nhìn nhân vật như là một nạn nhân của nạn đói, cảm thông tình thế đặc biệt của nhân vật và có cái nhìn yêu thương, trân trọng đối với những biểu hiện đáng quý của người vợ nhặt như: không chịu chấp nhận lời nói đùa ăn trầu, nghiêng nón che mặt và tỏ vẻ ngượng nghịu khó chịu khi bị nhìn soi mói trên đường về nhà Tràng, chỉ ngồi mớm ở mép giường khi vào nhà Ở đây, ta cũng có thể hiểu khi thị đang trong hoàn cảnh là một người nghèo đói, thị bị nạn đói dồn vào cảnh ngộ bi thảm nên trở nên liều lĩnh, trơ trẽn, chấp nhận đi theo người đàn ông mà không cần gì Trong cái bi thảm, khổ nhục ấy, người vợ nhặt vẫn có biểu hiện ý tứ, mực thước,
có ý thức giữ gìn phẩm giá Trong những khó khăn, nhân vật thị vẫn âm thầm nuôi dưỡng niềm khát khao về cuộc sống gia đình, niềm mong mỏi chính đáng về tương lai, cuộc sống ngày mai Cả hai ý kiến đều có cơ sở dù cách đánh giá về nhân vật
có sự trái ngược, khác nhau Ý kiến thứ nhất thiên về hiện tượng, về biểu hiện của nhân vật Ý kiến thứ hai vẫn có cơ sở từ biểu hiện và hành động nhân vật nhưng đã
có sự lưu ý, để ý về bản chất nhân vật Tuy nhiên, ta cần đặt nhân vật trong hoàn cảnh nạn đói năm 1945 và trong suốt chiều dài tác phẩm thì ý kiến thứ hai vẫn xác đáng hơn
Nhân vật thị trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân là nhân vật đại diện cho hàng triệu kiếp người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945 Tuy nhiên sống trong cảnh khốn khổ cùng đường nhưng thị vẫn giữ cho mình được tâm hồn
Trang 25quý giá, tiêu biểu nhất ấy là niềm khao khát được sống, khao khát được hạnh phúc, niềm hy vọng vào một tương lai mới tốt đẹp hơn Đây còn là một nhân chứng có ý nghĩa tố cáo, lên tội ác tày trời của Nhật – Pháp đã gây ra nạn đói khủng khiếp đẩy nhân dân ta vào cảnh lầm than, không được sống đúng nghĩa là một con người
Đề bài: Khung cảnh nạn đói
… Trên nền hiện thực ấy, Kim Lân đã xây dựng câu chuyện xoay quanh cuộc đối mặt giữa sự sống và cái chết của những người dân xóm ngụ cư Hiện thực ở đây được tác giả miêu tả thật đáng sợ và đau thương qua khung cảnh và sự chết chóc của con người
Không gian của nạn đói là ở một xóm ngụ cư Bản thân chữ "ngụ cư" đã khiến người đọc hình dung đến một địa điểm tập hợp những con người "tha phương cầu thực" để mưu sinh Ấy vậy mà cái xóm ấy đã nghèo nay lại còn bị nạn đói hoành hành, tra tấn dã man Và cũng chẳng 1 ai biết, cái đói ấy “đã tràn đến xóm này từ lúc nào” Động từ "tràn" khiến người đọc liên tưởng trận đói như một cơn lũ ùa về đột ngột, nhấn chìm mọi sự sống và con người chỉ biết bị động mà đón nhận, không thể nào chống đỡ được
Qua những trang văn của KL, người ta không còn phân biệt được, không còn hình dung được sự khác nhau giữa người sống và người chết Bởi những người
"từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dìu dắt nhau lên xanh xám như những bóng ma, người nằm ngổn ngang khắp lều chợ" Họ còn sống nhưng lại ủ rũ, xám xịt như những cái xác di động, gầy gò ốm yếu mệt mỏi, dật dờ vất vưởng không nhà cửa Thân thì còn sống nhưng tâm họ thì k và quả thật, khi đứng chung 1 khung hình với những người đã chết, người đọc k khó phát hiện ra những điểm tương đồng giữa người sống và người chết- đều nằm ngổn ngang, ốm yếu, xanh xám
Nhà văn Nam Cao từng tâm niệm: “ nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật k nên là ánh trăng lừa dối Nghệ thuật chỉ có thể là những tiếng đau khổ kia toát ra từ những kiếp lầm than” Quả thật, đến với Kim Lân và Vợ Nhặt, người đọc không khỏi xót xa bồi hồi trước khung cảnh nạn đói được khắc hoạ rất chân thật và gần như k gọt dũa gì Trận đói năm ấy đã cướp đi k biết bao nhiêu sinh mạng vô tội, chỉ biết những người đã mất nhiều như ngả rạ và nằm cong queo bên đường Phép so sánh đã gợi ra hình ảnh người chết nhiều, chết liên tục và dần mòn Chưa dừng lại ở đó, nhà văn còn khắc sâu vào tâm trí người đọc nỗi ám ảnh rùng rợn với hình ảnh con người đc so sánh với những bóng ma, khiến khung cảnh trở nên túng quẫn, u tối, đáng sợ Sự sống và cái chết được đặt cạnh nhau trong 1 môi
Trang 26trường gây ấn tượng, khiến cho khoảng cách giữa sống với chết chỉ mong manh như sợi tóc, cõi dương mà vương vấn hơi hướng cõi âm
Nói về tính chất tàn khốc của nạn đói này, có một nhà nghiên cứu đã viết:
"Nạn đói vô cùng khủng khiếp! Nó kéo dài cái chết khiến nạn nhân bị dày vò, đau khổ, tủi nhục Nhìn thấy người thân chết mà không cứu được, biết đến lượt mình
rồi sẽ chết nhưng không thoát được " và bức tranh nạn đói khủng khiếp ấy được Kim Lân miêu tả chân thực qua rất nhiều phương diện mà đầu tiên chính là không gian xóm ngụ cư Khi phóng tầm mắt ra xa hơn, cụ thể là "ngã tư xóm
chợ" Tác giả phát hiện ra vào buổi chiều, xóm chợ càng xác xơ, heo hút, tăm tối
Sự tăm tối ấy không phải do trời chiều đã chuyển dần về đêm mà còn do 2 bên dãy phố úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn Cả xóm ngụ cư bé nhỏ và tồi tàn ấy như bị nuốt chửng bởi bóng đêm, bởi sự vắng lặng, tĩnh mịch đến rợn người Không gian lặng thinh và tăm tối ấy chẳng khác gì tương lai của những người dân trong xóm và nó như nuốt chửng, giam hãm tất thảy mọi người
Trong cái tăm tối và tiêu điều ấy, người đọc như còn cảm nhận thấy sự lạnh lẽo bởi từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, không gian hoang vắng của cả cánh đồng chỉ còn có rơm rạ Điểm vào đó là âm thanh thê thiết của đám quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi đang gào lên từng hồi, mà theo tâm linh phương Đông, mỗi lần
có tiếng quạ kêu là có 1 người rời khỏi cõi trần Bao bọc lấy xóm ngụ cư, ai ai cũng ám ảnh dai dẳng từng hồi nuối tiếc không thôi, cho thấy cái chết cũng nối đuôi nhau liên tiếp không dứt Những nhà có người chết cũng vang lên tiếng khóc
hờ, vừa ai oán vừa não nề Quả thật, không khí nơi đây khiến người đọc như cảm thấy đang sống ở địa ngục trần gian bởi dường như không có dấu hiệu của sự sống
Việc khắc hoạ hình ảnh xóm ngụ cư trong cái đói đã không chỉ dừng lại ở không gian u tối tiêu điều và âm thanh thảm thiết thê lương mà tác giả đã khiến người đọc phải vận dụng cả thị giác và khứu giác để cảm nhận màu và mùi rất kinh khủng của nạn đói Qua những câu văn của Kim Lân, ta không khó hình
dung ra được màu xanh xám của những người gần chết vì đói, màu đen đặc của bóng tối bao trùm, và đen kịt của đàn quạ bay trên trời Những gam màu trầm ảm đạm ấy đã góp phần khiến cho bức tranh càng thêm xơ xác, thê lương Và giữa bức tranh chết chóc ấy thì mùi vị kinh khủng từ sự ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người và mùi khét lẹt của đống rơm được đốt ở những nhà có người chết hoà quyện khiến cho không gian năm đói càng kinh khủng và đáng sợ hơn tận cùng Cùng viết về số phận người dân nghèo trong nạn đói 1945, nếu Nam Cao với tác phẩm “ 1 bữa no” chủ yếu khắc hoạ hình ảnh bà cụ với số phận bi thảm, xoáy sâu vào bi kịch bị người nhà bỏ rơi thì KL với bút pháp tả thực đã tái hiện rất chân thật
Trang 27cảnh đói khổ sở và thiếu thốn đến tận cùng, không phải chỉ qua không gian mà còn qua cả những cảm nhận rất đắt của thị giác và khứu giác
Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố hình ảnh, âm thanh, mùi vị, màu sắc, Kim Lân đã tạo ra được ấn tượng khó có thể phai mờ về nạn đói kinh khủng năm 1945 Mặc dù không có một dòng nào tố cáo trực tiếp tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhưng thông qua những tờ văn của tác giả, tội ác của chúng vẫn hiện lên một cách rõ rệt, chúng là nguyên nhân khiến hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói
Viết về cái đói, Kim Lân không phải là người đầu tiên, bởi ta cũng đã từng thấy nó trong các bài văn của Nam Cao, Tô Hoài, Ngô Tất Tố về sự hủy diệt khủng khiếp của thảm họa này Thế nhưng ở Kim Lân, những thước phim quay chậm về cuộc đời của nhân dân Bắc Bộ cuối 1944 đầu 1945 mới được thể hiện một cách ấn tượng và chân thực nhất Nhà văn đã tô đậm hiện thực của nạn đói ở đoạn
mở đầu của tác phẩm bằng ngôn ngữ sống động, bút pháp tả thực sắc nét, nghệ thuật dựng cảnh tài tình khiến những trang văn trở nên linh hoạt, không khô cứng nhưng có giá trị tố cáo mạnh mẽ
Thế nhưng, trong một phát biểu, Kim Lân đã từng nói: "Khi viết về nạn đói, người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết về con người năm đói, người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, tới hi vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vân muốn sống, sống cho ra con người." Có lẽ vì vậy, Kim Lân đã dành những trang văn vừa chân thực vừa cảm động nhất để nói về nạn đói Đối với ông, đây cũng được coi như là một "cơ hội" để ông khám phá, tìm kiếm được vẻ đẹp của tình người và khẳng định những phẩm chất cao quý tốt đẹp
ở người dân lao động Đây cũng là lí do mà trên nền bối cảnh ấy, Kim Lân đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo đó là việc anh cu Tràng nhặt được vợ trong nạn đói khủng khiếp Tình huống truyện đã tác động mạnh mẽ đến các nhân vật tronng tác phẩm, làm sáng lên vẻ đẹp của niềm tin, sự hi vọng vào tương lai của mỗi con người nơi xóm ngụ cư
Tác phẩm “Vợ nhặt” có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”, được viết trong những ngày hân hoan của nước ta vào cách mạng tháng 8/1945 nhưng sau đó bị mất bản thảo Năm 1954, khi hòa bình nước ta được lập lại, Kim Lân dựa theo một phần cốt truyện viết truyện ngắn “Vợ nhặt”, in trong tập con chó xấu xí năm 1962 Với “VN”, Kim Lân đã sáng tạo ra một tình huống truyện đặc sắc, đầy bỡ ngỡ
và thú vị nhưng không kém triết lí nhân sinh về tình người, tình đời trong xã hội
Trang 28cũ, qua đó nhằm lật tấy bộ mặt đen tối, bế tắc trước cách mạng tháng tám Vùng trời đen tối ấy đã giáng tai họa xuống những người nông dân nghèo, cướp đi cuộc sống của họ, đẩy họ vào cảnh lao đao, khốn cùng và tủi nhục trong nạn đói năm Ất Dậu Bởi vậy, Đây có thể coi là một trong những tác phẩm thành công và ấn tượng nhất của nhà văn in hằn trong lòng độc giả với tình huống lạ và éo le, cũng như diễn biến tâm lý của các nhân vật được miêu tả chi tiết rõ ràng nhằm làm nổi bật chủ đề của văn bản Một trong những nhân vật có diễn biến tâm trạng phức tạp nhất đó là bà cụ Tứ- nhân vật được nhà văn phác họa chỉ bằng những lời văn giản
dị và những chi tiết nhỏ bé
Nếu như Tô Hoài để Mị xuất hiện bên cạnh những vật vô tri, Nam Cao để cho Chí Phèo xuất hiện với tiếng chửi đặc trưng thì Kim Lân lại để cho bà cụ Tứ hiện lên ở nửa sau câu chuyện với dáng vẻ người lọng khọng , tiếng ho “húng hắng” và vừa đi vừa lẩm bẩm, tính toán Ở tuổi già nhưng bà vẫn trăm lo bộn bề, ngổn ngang những tâm sự của một người mẹ mà không có phút giây nào tâm hồn được yên bình, thảnh thơi Hình ảnh bà cụ Tứ hiện lên trong tâm trí ta là một bà mẹ già nua, còm cõi và luôn ám ảnh những lo toan của cuộc sống
Bà cụ tứ chính là hình ảnh tiêu biểu cho số phận những con người trong cái
"đám tang khổng lồ năm Ất Dậu ấy" Bà là đại diện cho những bà mẹ việt nam bao đời nay, những người sẵn sàng chịu “ nắng cháy lưng” để phát rẫy, làm nương, chăm bẵm và nuôi dưỡng con cái trưởng thành
Mặc dù số phận hẩm hiu bất hạnh, bà cụ vẫn hiện lên với những phẩm chất tâm hồn đáng trân trọng Những vẻ đẹp ấy đc tác giả khắc họa đầy xúc động thông qua diễn biến tâm lí của nhân vật xoay quanh tình huống anh Tràng nhặt vợ
Bà cụ là người có lòng thương yêu con hết mực và thấu hiểu lẽ đời sâu sắc, điều này được thể hiện qua những diễn biến tâm lý của nhân vật, đặc biệt là tâm trạng của bà từ chiều tối ngày hôm trước Giống như mọi người, bà cụ Tứ cũng ngạc nhiên Trước hết là sự ngạc nhiên khi thấy Tràng ra tận ngõ đón mình vồn vã, vui vẻ khác thường Lúc ấy, bà “ nhấp nháy hai con mắt” và chậm chạp hỏi “ Có việc gì thế vậy?” biểu lộ một sự ngạc nhiên, trong lòng của bà đang băn khoăn, chất chứa những câu hỏi Khi thấy người phụ nữ xa lạ xuất hiện ngồi trong nhà của mình, lại đứng đầu giường con trai và gọi mình bằng “U”, tâm trạng bà cụ tứ trở nên “phấp phỏng”, đến giữa sân nhà, bà đứng sững lại, càng ngạc nhiên hơn Hàng loạt những câu nghi vấn đặt ra trong lòng bà lão: “Quái, sao lại có người đàn bà nào trong đấy nhỉ? Ai thế nhỉ ?” Bà “phấp phỏng”, “bước chân lập cập” và cuối cùng là đứng sững lại giữa sân, bà cảm thấy “mắt mình như hôm nay nhoè đi thì phải” Điều đó cho thấy được trạng thái ngạc nhiên của bà cụ Tứ xen lẫn một sự lo lắng luôn thường trực trong tâm trí bà; và điều ngạc nhiên này cho ta thấy được sự
Trang 29tin tưởng, nhạy cảm, lẽ tất yếu xảy đến trong suy nghĩ của một người mẹ Bà ngạc nhiên nhưng không thắc mắc và không chất vấn con Nghe Tràng nói, bà đã hiểu ngay và trong lòng người mẹ ấy xuất hiện nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau, nó chất chứa bao nhiêu suy nghĩ về hiện tại và tương lai: “Bà lão cúi đầu nín lặng Bà hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình” Bà cụ Tứ vừa mừng cho con từ nay yên bề gia thất, nhưng cũng tủi thân làm mẹ không lo nổi vợ cho con Cái tủi, cái buồn của người mẹ bị dồn vào cảnh nghèo cùng quẫn đột nhiên trào dâng mạnh mẽ trong lòng bà Nếu như Dần trong tác phẩm “ Một đám cưới” của Nam Cao có một
lễ cưới vô cùng thê thảm với con gà ốm cúng tổ tiên và rước dâu với chẻ cau độ mươi quả; thì Tràng và thị thậm chí còn không có gà để cúng và cũng không có lấy một quả cau để báo cáo tổ tiên Đủ để thấy sự tàn khốc của nạn đói lúc bấy giờ, làm sao bà cụ không lo, không tủi đây khi con trai bà và người đàn bà kia không thể có một đám cưới đàng hoàng như bao người Thâm tâm bà bã lão chất chứa biết bao gánh nặng, bao lo toan, bởi “ người ta dựng vợ gả chồng là lúc trong nhà
ăn nên làm ra, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này…” Đó chính là nỗi khổ tâm của người mẹ khi thấy con mình không được trọn vẹn hạnh phúc vì cái đói nghèo đang hoành hành
Không chỉ thương và đồng cảm, lo lắng cho con người mẹ nhân hậu đó còn thương cả người đàn bà xa lạ, đồng cảm và thấu hiểu cho thị Tình thương của bà thể hiện ở điểm nhìn của bà đối với người đàn bà “ vợ nhặt” Bà không trao điểm nhìn của một bà mẹ chồng xét nét nàng dâu mới mà lại nhìn thị như một người đồng cảnh ngộ , của một người con gái xa lạ bỗng trở thành con dâu của bà: “người
ta có gặp bước đói khổ này họ mới lấy con mình, mà con mình mới có được vợ”
Bà không nghĩ cho mình mà nghĩ cho con, cho người đàn bà xa lạ ấy Bao nhiêu tình yêu thương chân thành, tha thiết của người mẹ đều thể hiện trong những suy nghĩ mộc mạc, giản dị như vậy Lời nói của bà với các con cũng rất nhẹ nhàng, chứa chan tình cảm Người vợ nhặt ai cũng biết đấy thôi, theo không một anh chàng về nhà làm vợ đả là một sự tủi hổ vô cùng rồi! Trong hoàn cảnh ấy, một lời nói của nhà chồng có thể cắt cứa vào nỗi đau, cũng có thể xoa dịu nỗi đau ấy Đối với bà cụ Tứ, chuyện hôn nhân giữa thị và Tràng không phải là chuyện nhặt nhạnh nhau giữa đường, giữa chợ Mà cuộc hôn nhân ấy cũng bình đẳng và tốt đẹp như hàng trăm hôn nhân mâm cao cỗ đầy khác, cũng là phải duyên phải kiếp mới đến được với nhau
Bà không trách cứ, không hề sợ phải chia sẻ miếng ăn cho người phụ nữ xa lạ
mà còn thân mật niềm nở nói với người con dâu đang khép nép bẽ lẽn: “con ngồi xuống đây” Quả thực những suy nghĩ, nỗi lo của bà đều xuất phát từ tấm lòng người mẹ thấu tình đạt lý, vị tha độ lượng Bà đã trút nhẹ gánh nặng tâm lý cho
Trang 30người phụ nữ khốn khổ kia,trái hẳn với những quan niệm luân lý phong kiến nghiệt ngã về mẹ chồng nàng dâu:
Mẹ anh dữ lắm em ơi Nhịn ăn nhịn mặc nhịn lời mẹ cha Nhịn cho nên cửa nên nhà
Nên kèo nên cột nên xà tầm vông
Không làm khó nàng dâu mới, bà cụ tứ chỉ nhẹ nhàng nói bằng cái giọng chứa chan tình cảm: “ ừ thôi các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng.” Hai tiếng “ mừng lòng” ngân lên reo vui giữa không khí hồi hộp, căng thẳng, bà đã công nhận danh phận của thị bằng tất cả sự ấm áp, yêu thương của mình Đó là một tấm lòng giản dị mà cao cả của một người mẹ nông dân Việt Nam, luôn thấu hiều, đồng cảm và sẻ chia chứ không ruồng bỏ, hắt hủi những mảnh đời bạc bẽo
( Có lẽ lúc này, giữa lời nói và nội tâm bà cụ đang có những xung đột ,đối lập mạnh mẽ với nhau Bà vui vẻ động viên, tự vẽ ra tương lai tươi sáng và những viễn cảnh đẹp đẽ để làm các con yên lòng Thế nhưng tấm lòng người mẹ ấy làm sao tránh khỏi những lo âu trăn trở cho tương lai con mình Trở đi trở lại trong tâm trí
bà cụ là những câu hỏi đầy nhức nhối, chúng như hòn đá đè nặng lòng bà không tài nào gỡ ra được Ngoài kia, mùi đốt đống rấm, mùi người chết theo gió thoảng vào vẫn cứ quẩn quanh, càng làm bà lo lắng, bồn chồn “Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài Bóng tối bao trùm 2 con mắt” đấy là bóng tối của hoàng hôn, của buổi chiều chạng vạng tối hay chính là gánh nặng cuộc đời đang đè nặng lên đôi vai bà cụ Bà càng động viên con cái bằng những lời lẽ tốt đẹp bao nhiêu thì nội tâm lại càng nặng nề và trăn trở bấy nhiêu Nghĩ đến tương lai khổ cực vất vả, bà cụ tứ không khỏi thở dài 1 tiếng đó là 1 cử chỉ rất nhỏ mà có lẽ KL đã phải vận dụng rất cao độ cái tài quan sát, miêu tả nội tâm nhân vật của mình để sáng tạo nên Chi tiết ấy càng khẳng định nỗi trăn trở đè nén khôn nguôi mà bà giữ riêng trong lòng không cho các con biết, càng bộc lộ thêm vẻ đẹp tình người đáng quý nơi bà
Như vậy, tâm trạng của bà cụ chiều tối ngày hôm trước vô cùng phức tạp, rất nhiều cảm xúc chồng chéo lên nhau Đó là sự ngạc nhiên và rồi sau đó hóa thành nỗi lo lắng, sự tủi thân cho kiếp sống của con mình Đồng thời qua đó còn cho thấy niềm tin, hy vọng của bà cụ vào một tương lai tươi sáng hơn Đó cũng chính là lý
do vì sao sáng ngày hôm sau bà lão chỉ nói toàn chuyện vui và dặn dò các con vô cùng kĩ lưỡng Bà cụ nhắc nhở các con, điều quan trọng và cốt yếu trong cuộc sống gia đình, vợ chồng không phải là vật chất tầm thường hay lễ nghi cầu kì mà
Trang 31đó phải là sự hạnh phúc, hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình Lúc sáng sớm, buồn đau đã lắng xuống, chỉ còn lại trong lòng người mẹ ấy là niềm tin và niềm vui biểu hiện trên từng nét mặt, cử chỉ, hành động: “ Nét mặt rạng rỡ hẳn lên”, bà “ xăm xăm thu dọn quét tước nhà cửa”.Trong bữa cơm thì bà toàn nói những chuyện vui, chuyện sung sướng sau này ) => nếu đề ra diễn biến tâm lí bà
cụ đoạn “bà lão cúi đầu…liệu có hơn bố mẹ trc kia k” thì viết đoạn này, còn đề ptich nvat thì k cần
Không chỉ có trái tim nhân hậu ấm áp, bà cụ Tứ còn là con người tràn đầy lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng Vẻ đẹp tâm hồn này của bà được bộc
lộ rõ nét vào buổi sáng hôm sau, khi bà cùng người vợ nhặt quét tước, thu dọn nhà cửa Bộ mặt bủng beo u ám hằng ngày lúc này bỗng tươi sáng và vui vẻ kì lạ Bà nhanh nhẹn và hăng hái, khác hẳn dáng đi lọng không vào buổi chiều tối hôm qua Hạnh phúc gia đình đã thổi vào tâm hồn bà cụ 1 luồng gió mới, tràn đầy sức sống, tràn đầy niềm tin, hy vọng về tương lai Bữa ăn mừng con dâu mới mặc dù trông đầy thảm hại với niêu cháo loãng và lùm rau chuối thái rối nhưng vẫn thật ấm áp
và chan chứa dư vị yêu thương qua những câu chuyện đầy vui vẻ, lạc quan của bà cụ: “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà…rồi làm chuồng gà, chẳng mấy chốc mà có ngay đàn gà cho xem ” Câu nói ấy chứa biết bao hi vọng, niềm tin của bà cụ về 1 tương lai tươi sáng mà ở đó họ không còn phải đối mặt với cái đói, cái nghèo dai dẳng đeo bám hàng ngày Chưa bao giờ gia đình bà lại ấm áp hòa thuận như vậy
Kể cả nồi cháo cám đắng chát cũng được bà biến tấu thành nồi chè khoán “ngon đáo để” Từ 1 thứ thức ăn cho động vật, qua lời nói của bà lại dường như trở thành món ăn rất hấp dẫn xa xỉ mà “ xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy ” Thái
độ lạc quan và niềm tin vào tương lai tươi sáng đã góp phần làm nổi bật lên tấm lòng thương người, thương con sâu sắc và nghị lực sống, khát vọng sống ở người
mẹ nghèo Chính nhờ những đặc điểm đó mà ta có thể nói dù một thân già yếu nhưng bà lại là chỗ trụ vững chắc cho các con của mình
Bà cụ Tứ chính là hiện thân của lòng nhân ái, hiện thân cho sức sống và niềm tin bất diệt của con người Việt Nam trong mọi hoàn cảnh Viết về bà, nhà văn Kim Lân thực sự đã dành tình cảm rất là kính trọng và niềm yêu thương trong đó, không còn những lời văn hài hước khi miêu tả anh cu Tràng nữa Đó là những câu văn ấm áp tình người với cả sự trân trọng từ ngoài vào trong để soi được tâm hồn của một người từng trải, con người mang dấu ấn của khổ đau trong lịch sử dân tộc,
để nhân vật rút ra một chân lý: dù đau khổ, bão táp, khó khăn đến như thế nào thì con người Việt Nam vẫn càng mạnh mẽ, kiên cường để vượt qua hoàn cảnh nghiệt ngã Bà cụ Tứ chính là điển hình cho hình ảnh những người mẹ nông dân nghèo khổ nhưng có nhiều phẩm chất cao quý tốt đẹp Bà là biểu tượng cho những người
Trang 32mẹ Việt Nam nói chung: yêu thương con vô bờ bến, nhân hậu, vị tha, giàu tình thương người và luôn lạc quan, có niềm tin bất diệt vào tương lai
“ Cốt lõi của một nhà văn phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” Sự nhân đạo của một cây bút được ghi tạc rất rõ qua tác phẩm của họ Nhân đạo không chỉ
là sự đồng cảm dành cho nhân vật, ca ngợi những giá trị phẩm chất tốt đẹp của họ, giúp họ nói lên ước nguyện và đấu tranh cho ước nguyện ấy mà còn tố cáo, lên án mạnh mẽ tội ác của những thế lực chà đạp lên số phận con người “ Vợ Nhặt” vừa
là trang văn thấm đượm tình người, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa đồng thời là văn án kết tội đanh thép tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật và bọn tay sai Bọn chúng là những kẻ khát máu, những tên lính làm việc cho tử thần khi đã nhẫn tâm đẩy người Việt Nam vào thảm cảnh của chết đói, khiến mạng người rơi rụng như
ĐỀ 4: NVAT TRÀNG
Mở đầu tác phẩm, nhà văn đã phác họa nhân vật anh cu Tràng cũng là nhân vật chính của phẩm được xuất hiện giữa một không gian đầy u ám, tử khí vì “người chết như ngả rạ”, “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người chết” Tràng là một người nông dân có cuộc sống nghèo khổ nhưng lại có tính thương người, luôn khao khát một mái ấm gia đình và luôn có hi vọng vào một tương lai tươi sáng
Văn học bao giờ cũng là câu chuyện của cuộc đời, bởi nhiệm vụ đầu tiên của nhà văn là vạch ra những khổ đau, những bất công của nhân loại để mà bảo vệ và phản ánh Chính vì thế mà Kim Lân luôn hướng ngòi bút nhân đạo của mình đến những nỗi đau của con người, mà đặc biệt là người nông dân trước cách mạng và nhân vật Tràng từ cuộc sống bước vào trang văn của Kim Lân chân thực gần như không gọt dũa gì Anh cu Tràng là một người nông dân có cuộc sống nghèo khổ được thể hiện ngay ở cái tên gọi mà tác giả đặt cho Anh ta không tội nghiệp đến mức không
Trang 33có tên tuổi đàng hoàng thế nhưng cái tên ấy lại gợi lên bao điều lam lũ, khó nhọc Tràng không đến mức quá tiều tụy thế nhưng lại là 1 tác phẩm được gọt đẽo rất sơ sài của tạo hoá: “Hai con mắt gà gà đắm vào bóng chiều”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, “bộ mặt thô kệch”, “cái đầu trọc nhẵn”, “cái lưng to rộng” Tràng hay “ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch”, “vừa đi vừa nói nhảm”, trở thành “đối tượng bông đùa của những đứa trẻ xóm ngụ cư”, và tính tình thì “ngốc nghếch” Hoàn cảnh sống cũng chẳng khá hơn là bao: hắn làm nghề đẩy xe thóc thuê cho Liên đoàn Nhật Một nghề bấp bênh, vất vả ngắn hạn mà lại không ổn định Sinh ra và lớn lên khi đất nước lâm vào tình cảnh loạn lạc, nạn đói tràn lan, người chết như ngả
rạ, Tràng cùng mẹ sống ở xóm ngụ cư với nơi ở là “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, “những niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất” Tất cả các yếu tố trên đã khiến hắn có nguy cơ cao bị ế vợ và khi đặt nhân vật Tràng và Chí Phèo trong chung một khung hình, người đọc dễ nhận thấy điểm tương đồng giữa hai con người với số phận bi thảm nhưng lại mang những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý
Quả thật, người nghệ sĩ không thể nhìn đời 1 cách giản đơn mà cần phải nhìn cuộc sống và con người 1 cách đa chiều Tuy Tràng có vẻ bề ngoài thô kệch, tính tình ngộc nghệch thế nhưng khi thâm nhập vào cuộc sống nội tâm của nhân vật này, KL từng bước phát hiện ra vẻ đẹp và những phẩm chất đáng ngợi ca của nhân vật ấy Xây dựng nhân vật Tràng, Kim Lân đã sáng tạo nên 1 người nông dân có nhiều phẩm chất tốt đẹp Trước hết hắn hiện lên là 1 người hồn hậu, chất phác
Tràng là người hầu như không biết tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình Anh ta thích chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy Mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn dốc chợ đi xuống là ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên Rồi chúng, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi Khi ấy, Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch Sự vô tư và ngờ nghệch của Tràng còn đc thể hiện ngay ở chuyện quan trọng như lấy vợ Lấy vợ là chuyện trọng sự của đời người, như cha ông ta ngày xưa hay nói:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà Trong ba việc ấy thực là khó khăn Thế nhưng với anh Tràng, anh ta chỉ hò chơi vu vơ cho đỡ nhọc đã được 1 người phụ nữ bám theo xin bánh Và thế là, sau hai làn gặp mặt Tràng và thị nên duyên
vợ chồng
Trang 34Đúng như Thạch Lam từng nói: “công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ k ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và bị khuất lấp của sự vật để cho người đọc 1 bài học trông nhìn và thưởng thức.” KL đã khắc họa tấm chân dung bi thảm của Tràng để làm đòn bẩy cho những nét đẹp tâm hồn bị khuất lấp ở nhân vật này Bên cạnh cái tính cách vô tư nông cạn Tràng còn toát lên là một người đàn ông nhân hậu phóng khoáng, với niềm khát khao hạnh phúc mãnh liệt Trong cuộc gặp gỡ nhân duyên với người vợ nhặt, với Tràng tất cả bắt đầu từ một câu hò, một câu đùa cho đỡ mệt Tuy nhiên khi người đàn bà liếc mắt cười tít và nói với hắn những lời tình tứ “ này nhà tôi ơi nói thật hay nói khoác đấy”, “đã thật thì đầy chứ
vợ gì đang ấy nhỉ?”, Tràng rất thích chí Đó là niềm vui hạnh phúc rất đỗi hồn nhiên của một chàng trai lần đầu tiên từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ được một cô gái đưa đẩy ngọt ngào tình tứ như vậy
Thấy người vợ nhặt chấp nhận đi theo mình, suy nghĩ đầu tiên loé lên trong đầu chàng trai khù khờ chính là nỗi lo lắng về cái ăn, cái mặc “thóc gạo này có tự nuôi nổi thân mà còn đèo bòng”, thế nhưng rồi, hắn cũng tặc lưỡi cho qua Cái tặc lưỡi đó đồng nghĩa với việc Tràng đã đánh cược với đời, với cái nghèo đói, để sống “đầy đủ” cuộc sống bình thường như mọi người Phải chăng vì ý thức, khát khao hạnh phúc và mơ ước về tổ ấm gia đình đã khiến hắn chẳng còn thấy sợ cái cảnh “biết có nuôi nổi nhau sống qua cái thì này không” Niềm khát khao mong mỏi được cảm nhận hương vị tình yêu đã lớn hơn cả nỗi sợ hãi về cái đói cái chết
đe doạ từng ngày
Mặc dù lấy được vợ chỉ bằng 4 bát bánh đúc, nhưng Tràng rất trân trọng, nâng niu hạnh phúc mà mình có được Hắn muốn làm cho vợ mình được vui, “có lúc muốn thân mật nhưng không dám xuồng xã, muốn bày tỏ tình cảm với vợ nhưng lại lúng ta lúng túng, tay nọ xoa vào tay kia” Hạnh phúc bừng sáng trên khuôn mặt Tràng khác với vẻ bề ngoài thô kệch lẫn buồn bã với ánh mắt gà gà đắm vào bóng chiều trước đây Ánh mắt hắn giờ đây sáng lên lấp lạnh và khuôn mặt phớn phở khác thường, hắn tủm tỉm cười nụ Trước ánh mắt hiếu kỳ của người dân xóm ngụ cư, hắn tràn đầy hãnh diện Mặt hắn vênh lên tự đắc Hạnh phúc bất ngờ và thiêng liêng khiến Tràng quên đi thực tại ảm đạm xung quanh và tương lai
mờ mịt phía trước, “Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt ve nhẹ trên sống lưng” Nhà có thêm người mới, Tràng đã thắp đèn lên cho sáng sủa, để xua tan đi cái tối, cái thê thảm của của những kiếp người leo lét Ngọn đèn dầu sáng lên chính là hiện thân cho khát vọng sống, là ánh sáng để đấu tranh với bóng tối, giữ gìn sự sống để
Trang 35đấu tranh với cái chết Phải chăng, tình yêu chính là vũ khí lợi hại đã khiến Tràng thay đổi hoàn toàn vào buổi sáng ngày hôm sau Trước đây, nếu như Tràng sống dường như không quan tâm đến mình, sống tạm bợ cho qua ngày, không có ý thức chuẩn bị cho ngày mai thì kể từ khi có vợ, tâm lí anh ta đã thay đổi hoàn toàn: Tất
cả mọi thứ đều được Tràng nhìn bằng ánh sáng mới, bằng con mắt mới, bằng trái tim thực sự của một con người
Nhà văn Kim Lân đã thành công khi xây dựng những thay đổi trong tâm lí tính cách nhân vật Từ một anh chàng ngờ nghệch, thô kệch, cộc cằn, khiến cho chúng ta ít nhiều liên tưởng tới hình tượng của một chàng ngốc trong truyện cổ tích thì giờ đây Tràng đã trở thành một người có vợ, có ý thức sâu sắc về bổn phận, trách nhiệm của bản thân mình, biết lo lắng cho tương lai và vun đắp cho hạnh phúc gia đình Thế nhưng, không chỉ dừng lại ở đó, tác giả đã tiếp tục khắc họa những nét thay đổi, trưởng thành trong tính cách, nội tâm của nhân vật Tràng về nhận thức cách mạng
Bữa cơm ngày đói của cả nhà diễn ra khi tiếng trống thúc thuế dồn dập, đã gợi ra không gian và không khí căng thẳng ngột ngạt của xã hội đương thời, góp phần tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít Âm thanh tiếng trống thúc thuế như thúc từng hồi vào lồng ngực những người dân nghèo khổ, và thúc cả vào trái tim người đọc đầy xót xa thương cảm Nó đã mở ra một đề tài mới, một phạm vi hiện thực khác: không khí cách mạng đang diễn ra sôi nổi khắp nơi, trên mạn Bắc Giang, Thái Nguyên người dân không đóng thuế nữa và Việt Minh đã nổi dậy phá kho thóc chia cho dân nghèo Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng đầy ân hận, tiếc rẻ, trong tâm trí hắn lúc bấy giờ hiện lên hình ảnh đám người đói và lá cờ cỏ sao vàng đang phấp phới tung bay trên nền trời xanh thẳm Tràng nghĩ đến ánh sáng, nghĩ đến niềm tin, hy vọng đổi đời vào cách mạng Hắn nuối tiếc khi mình tránh đi con đường khác, và càng ý thức đc điều tất yếu là phải vùng lên để giành lại độc lập, tự
do Nhân vật Tràng đã mở đầu cho câu chuyện Vợ nhặt bằng những bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào buổi chiều chạng vạng và cũng chính hắn đã kết thúc câu chuyện ấy vào buổi sớm mai với một hình ảnh mới lạ về đoàn người nghèo đói vùng lên dưới bóng lá
cờ đỏ bay phấp phới Câu chuyện kết lại bằng chi tiết ấy đã gieo vào lòng người đọc niềm tin rằng, rồi 1 ngày nào đó, anh cu Tràng sẽ xuất hiện trong đoàn người
ấy, sẽ vùng dậy đấu tranh để giải thoát cho bản thân, cho gia đình khỏi những xiềng xích bấy lâu nay đã buộc chặt, giam cầm họ cùng với cái đói cái nghèo
Truyện mở ra là buổi chiều chạng vạng mặt người và khép lại trong “ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng loá” Mở đầu là một anh Tràng cô đơn bước cao bước thấp trên con đường khẳng khiu dưới ánh chiều mờ của một gầm trời đầy đói khát, nhưng kết thúc là Tràng đã có một người vợ, một gia đình đúng nghĩa và những
Trang 36nhận thức mới về cách mạng Anh đã nhận thức được con đường để thoát nghèo đói là đấu tranh, và nhận thức ấy đang thôi thúc anh mạnh mẽ thoát khỏi kiếp sống
cơ cực Ngọn lửa hy vọng đang rực cháy về một tương lai sáng sủa, một khát vọng tình yêu, hơi ấm gia đình, hoà bình và tự do
Qua nhân vật Tràng, Kim Lân đã gửi gắm tiếng nói chung của những người nông dân rũ bùn đứng dậy sáng lòa, chiến đấu vì đất nước, vì để thoát khỏi số phận tối tăm trước mắt Hình dáng người nông dân nổi bật trước lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ
lý tưởng cách mạng, lá cờ của niềm tin chiến thắng
ĐỀ 5: PTICH NVAT TRÀNG VÀO BUỔI SÁNG HÔM SAU
Lật giở từng trang văn trong “Vợ nhặt”, ta cảm thấy tim mình có cái gì
“bóp thắt chặt lại” trước những thước phim quay chậm về số phận con người trong nạn đói năm 1945 Sự sống và cái chết, cõi dương lẫn cõi âm mong manh như một sợi tóc; số phận con người thì rẻ rúng và đáng thương; miếng cơm manh áo như một thứ quà thật xa xỉ Bằng ngòi bút phản ánh hiện thực đến tận đáy cùng của mình, Kim Lân đã mở ra trước mắt bạn đọc một không gian năm đói ảm đạm, tăm tối Tuy nhiên, đọc cả thiên truyện ta lại không thấy tang tóc, mà tràn đầy niềm tin vào tương lại Đúng như nhà văn Kim Lân chia sẻ: "Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hy vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người"
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh có viết: "Tình huống truyện giống như một thứ nước rửa ảnh để làm nổi hình, nổi sắc nhân vật, nổi bật vấn đề tư tưởng của tác phẩm, sáng tạo tình huống trở thành nơi thử thách tài nghệ của nhà văn" Một bông hoa đẹp không chỉ cần có màu sắc mà cần đến cả mùi hương, một bài hát hay không chỉ cần giai điệu đẹp mà còn cần đến lời hát ý nghĩa Còn đối với một tác phẩm truyện ngắn ngoài những giá trị nhân đạo, hiện thực hay thẩm mỹ nghệ thuật thì đôi khi còn thành công và hấp dẫn người đọc bởi tình huống truyện độc đáo Trong “Vợ nhặt”, Kim Lân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo: giữa những ngày đói, anh cu Tràng nghèo khổ, xấu xí bỗng nhặt được vợ, lại còn nhặt giữa cái thời buổi mà người ta chẳng nghĩ đến nhu cầu hạnh phúc Và cũng chính điều này gây ra sự thay đổi, tạo ra bước ngoặt trong sự chuyển biến tâm trạng của Tràng vào buổi sáng ngày hôm sau
Đọc truyện Nam Cao, ta từng biết đến một con quỷ dữ Chí Phèo nhờ tình yêu, tình người của thị Nở mà trở nên lương thiện Đến truyện Kim Lân, ta lại bắt
Trang 37gặp một anh cu Tràng nhờ nhặt được vợ mà bỗng dưng "nên người" Thế mới biết, tình yêu, tình người có sức mạnh thật kì diệu Nếu buổi chiều hôm trước, ngòi bút Kim Lân đi sâu vào diễn tả sự nghèo đói mà vợ chồng Tràng phải đối mặt thì đến sáng ngày hôm sau, nhà văn đã mở ra một bầu không khí hoàn toàn khác biệt Mở đầu cho cái không khí ấy, là cảm giác hạnh phúc, ngỡ ngàng của Tràng Tràng vừa tỉnh giấc sau đêm tân hôn với cảm giác vẫn còn mơ màng nhưng rất hạnh phúc, một thứ hạnh phúc được gửi trao như món quà của cuộc sống, nó mang đến cho Tràng cảm giác như một cái gì đó cứ "ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ sống lưng", “việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn ngỡ ngàng như không phải”, Tràng không dám tin vào mắt mình, không dám tin là mình đã có vợ Cũng phải thôi, đôi khi hạnh phúc quá lớn lại đến một cách quá nhanh khiến cho con người ta vốn đã quen với cái đau cái khổ không dám tin vào mắt mình
Sau cảm giác ngỡ ngàng hạnh phúc, thì sự ngạc nhiên bao trùm lấy tâm trí anh cu Tràng Tràng ngạc nhiên trước khung cảnh ngôi nhà rách nát của hắn, dưới bàn tay vun vén của mẹ và vợ thì tất cả “đều được quét tước thu gọn sạch sẽ, gọn gàng Mấy chiếc quần rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm niên ở 1 góc nhà đã được đem ra sân hong… Đống mùn rác tung bành ngay lối đi đã được quét sạch…”, tác giả đã sử dụng những hình ảnh gần gũi, bình dị đơn sơ, biện pháp liệt kê, đối lập tương phản cùng cách miêu tả chi tiết nhằm để nhấn mạnh rõ nét những thay đổi về cảnh vật xung quanh anh Tràng Và chính anh ta cũng cảm nhận được sự khác biệt
ấy rõ nét hơn ai hết Tràng thấy xung quanh mình thay đổi mới mẻ, khác lạ Hắn k còn vô tâm, ngờ nghệch nữa mà đã có những quan sát và nhận thức về cuộc sống,
về thế giới xung quanh “Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng loá xói vào 2 con mắt còn cay xè của hắn.” Hình ảnh “ánh nắng” không chỉ diễn tả thời gian buổi sáng
mà còn gợi ra cả 1 không gian thoáng đãng, tươi sáng Có lẽ do chính người vợ nhặt đã đem lại ánh sáng, luồng sinh khí, hơi ấm, sự sống cho căn nhà Đây chính
là sự khởi đầu cho một cuộc sống mới trở nên tốt đẹp hơn Quang cảnh nhà Tràng
dù vẫn đơn sơ, nghèo khó nhưng nó không còn tuềnh toàng, thảm hại, lạnh lẽo, rúm ró như trước đây nữa, giờ đây căn nhà ấy không còn đơn giản chỉ là không gian để sống, để tồn tại mà nó thực sự đã trở thành mái ấm gia đình hạnh phúc, nơi che chở cho vợ chồng Tràng
Song song với niềm khát khao về hạnh phúc vừa chớm nở, nhà văn Kim Lân cũng không quên đem đến cho Tràng một hơi thở mới sau những “đêm tăm tối” Cuộc sống gia đình, hạnh phúc đơn sơ bình dị đã làm thay đổi nhận thức, suy nghĩ của Tràng Việc có vợ giống như một giấc mơ đẹp của cuộc đời hắn vậy, nó bất ngờ, đột ngột, nhanh chống đến mức “đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải” Chính những cảm xúc ban đầu ấy đã tác động một lực rất lớn vào
Trang 38nhận thức của Tràng Tràng cảm động lắm, trong lòng như có một niềm sung sướng dâng trào, để rồi hắn “bỗng nhiên cảm thấy yêu thương, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng” Nếu ở trên hạnh phúc vẫn còn mơ hồ thì đến đây ta cảm nhận rõ nét được liều thuốc tinh thần của tình yêu đã cứu vớt tâm hồn Tràng Tràng đã có suy nghĩ, ý thức của người đàn ông trưởng thành, nghiêm túc trong hôn nhân Hắn
đã thực sự coi rằng lấy vợ là một việc hệ trọng của đời người Một cuộc chuyển biến tích cực đã diễn ra trong tâm hồn chàng thanh niên ngờ nghệch: từ vô hình thành hữu hình, từ dửng dưng đến quan tâm hạnh phúc lứa đôi, đến mái ấm gia đình thực sự theo đúng nghĩa của nó Từ trách nhiệm đối với bản thân, gia đình Tràng càng thêm khát khao cháy bỏng, niềm tin vào một tương lai tốt đẹp phía trước
Từ nhận thức mình "đã có một gia đình" , Tràng nghĩ đến những điều xa xôi hơn: "Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng" Đó chính là là khát vọng thầm kín mà vô cùng mãnh liệt trong con người tội nghiệp đó : Khát vọng về một mái ấm gia đình, một nơi che mưa che nắng, một tổ
ấm có "vợ" và "con cái" của hắn – khát vọng đời thường giản dị mà trong cảnh đói lại trở nên thiêng liêng, cảm động biết bao Bình thường, Tràng chẳng thể lấy nổi
vợ, chẳng thể có được một tổ ẩm đơn sơ như thế Nhưng bây giờ, cái đói đã mang đến hạnh phúc cho hắn, và tổ ấm kia là thực, chứ không phải là chuyện xa vời với hắn nữa Vậy nên, trong lòng hắn, một lần nữa lại tràn ngập "một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột" Lần này, Tràng vui sướng, không chỉ vì "có vợ", mà lớn lao hơn, hắn có một "gia đình"
( Hình ảnh người mẹ già “nhẹ nhõm, tươi tỉnh, cái mặt bủng beo u ám rạng
rỡ hẳn lên” của bà cụ Tứ cũng tác động đến sự thay đổi trong Tràng rất lớn Cả người vợ kia nữa, “thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần gặp ở chợ tỉnh” Đây chính
là không gian hạnh phúc mà có lẽ có nằm mơ Tràng cũng không thể tưởng tượng được Nên Tràng xúc động lắm! “Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động Lần đầu tiên trong cuộc đời, cái con người
“ngờ nghệch” kia lại thấy yêu thương cái mái ấm che nắng che mưa “rách bợt” này Rồi Tràng cảm thấy mình “nên người, hắn thấy hắn có bổn phận và trách nhiệm phải lo lắng cho vợ con sau này” Hắn nhận ra mẹ hắn đã đến cái tuổi “gần đất xa trời”, mà trong cả cuộc đời dài dằng dặc của mẹ, chưa bao giờ hắn làm được cho mẹ lấy nổi một niềm vui Đúng như nhà giáo Trần Minh Đồng khẳng định:
“Nhà văn Kim Lân đã dùng Vợ nhặt làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình nhân ái Câu chuyện Vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng” Những dự tính của Tràng, nhưng viễn cảnh tương lai tưởng như
“viển vông” ấy chính là niềm khao khát, chính là những tia sáng lóe lên sưởi ấm
Trang 39con người ta giữa bóng tối Để người ta có thể tin vào, có thể bấu víu vào mà vươn lên ) => đến đoạn “…khấm khá hơn”
Không chỉ thay đổi trong suy nghĩ, ý thức, trách nhiệm với gia đình của Tràng còn thể hiện qua hành động "hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà" Cái dáng vẻ "xăm xăm" ấy nói lên biết bao quyết tâm, sự nhiệt thành, bao tình yêu của hắn dành cho gia đình Hành động ấy trước đây đâu phải là hành động thường nhật của hắn, đó là sự chuyển biến lớn Chính niềm hạnh phúc được sống trong tình yêu thương, tình mẹ con vợ chồng hòa thuận đã nhen nhóm trong lòng hắn biết bao ước vọng về hạnh phúc, bao niềm tin vào cuộc sống sẽ thay đổi tốt đẹp hơn
Nhà văn Lep-ton-xtoi khẳng định: “Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu” Tình yêu chính “là ngọc động, là phiến kì nam trong rừng trầm hương, là tinh hoa trong vườn phương thảo”, kết tinh nên tình cảm được hun đúc bằng tâm hồn người nghệ sĩ trước những rung cảm của cuộc đời Tình yêu ấy sẽ không thể tuyệt đẹp khi thiếu đi cách thể hiện độc đáo Bởi thế, Kim Lân không quên gửi trong đứa con tinh thần phong cách viết truyện riêng Nhà văn xây dựng tình huống truyện độc đáo, éo le và hết sức cảm động Sử dụng ngòi bút sắc nét để miêu tả tâm lí nhân vật thật sinh động Nếu như ta bắt gặp Nguyễn Tuân với lối văn sang trọng, những nét bút tỉ mẩn trong liên tưởng, so sánh nhằm đẩy đến tận cùng sự thăng hoa của cảm giác thì Kim Lân lại ý thức thể hiện những mảnh đời, những số phận bằng giọng kể đậm “chất quê”, bằng nghệ thuật dẫn chuyện khéo léo, hệ thống ngôn từ rất mực giản dị
ĐỀ 6: BỮA CƠM NGÀY ĐÓI X CHI TIẾT NỒI CHÁO CÁM
“Chi tiết là hạt bụi vàng của tác phẩm”, không một tác phẩm nào xuất sắc, nếu không thể tạo được những chi tiết giàu ý nghĩa nhân văn Trong Chí Phèo nếu như chi tiết tiếng chửi của anh Chí đã góp phần khắc hoạ rõ nét bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, hay hình ảnh “bát cháo hành nhân đạo” đã giúp anh ta tìm lại nhân tính … thì với tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân, tác giả đã xây dựng thành công một chi tiết vô cùng đắt giá và nổi bật, đó chính là “nồi chè khoán” của gia đình anh Cu Tràng Đây là chi tiết xuất hiện ở cuối tác phẩm Chi tiết đắt giá ấy đã góp phần tạo nên chiều sâu giá trị tư tưởng và sức sống cho thiên truyện, đồng thời
ca ngợi vẻ đẹp của các nhân vật
Chi tiết này trước hết góp phần hoàn thiện bức tranh về nạn đói thảm khốc năm Ất Dậu Chính sách áp bức bóc lột dã man của bọn đế quốc, thực dân đã gây
ra cái chết của hơn hai triệu đồng bào ta trong vòng ba tháng Đói đến thê lương, thảm khốc Đói đến nỗi người chết thì như ngả rạ, người sống cũng dật dờ như
Trang 40những bóng ma Đói đến phải bán cả con, cả chó, cả sữa như chị Dậu Đói đến phải
ăn bả chó tự tử như lão Hạc Đói đến phải ăn cả đất sét và bèo tây để lấp dạ, và phải chết vì "một bữa no"
Kim Lân đã có những đoạn viết đầy ám ảnh về thảm cảnh đó qua hình ảnh những "đám người đói đi lại đật dờ như những bóng ma", hình ảnh "người chết như ngả rạ", không hôm nào đi làm đồng về người ta lại không gặp "ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường", qua âm thanh của "tiếng gào khóc tỉ tê", "tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết" hay qua "mùi đốt đống rấm khét lẹt" trong nhà có người chết Và trong các chi tiết góp phần đậm tô bức tranh năm đói ấy, nồi cháo cám là hình ảnh ám ảnh hơn cả
Cụ Tứ và hai vợ chồng Tràng cũng là nạn nhân của cái đói Nên bữa ăn mừng dâu mới, chỉ "dăm ba mâm" như người ta mà cũng không lo nổi Cái thê thảm của nạn đói năm ất dậu đã từng đc Nam cao khắc hoạ trong truyện “ 1 đám cưới”, với điểm nhấn là cái lễ cưới có độc nhất con gà ốm và chẻ cau độ mươi quả
để cúng tổ tiên Nhưng đến với “VN”, KL thậm chí đã vẽ ra cái khung cảnh bữa cơm đón dâu giữa nạn đói còn thực sự thê thảm hơn với “độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo” Cái không khí đói bao trùm lấy tâm trí mọi người, ai cũng biết, ai cũng cảm nhận được, nhưng đều nén trong lòng, không bộc
lộ ra bên ngoài
Đói và khổ là thế, nhưng tâm trạng của bà cụ Tứ khác hẳn mọi ngày, bà còn không rủ rũ và u ám như bình thường Bữa ăn tuy thiếu thốn nhưng hôm nay lại vô cùng ấm áp bởi thứ gia vị tình thương của bà và sự xuất hiện của người con dâu mới Cái đói và cái nghèo có thể hành hạ con người về mặt thể xác nhưng
sẽ không thể đè bẹp được niềm hy vọng và tinh thần lạc quan của họ Người mẹ này tuy nghèo vật chất nhưng chưa bao giờ nghèo tình thương, lòng nhân hậu kể cả với người phụ nữ mà bà gọi là con dâu giữa cảnh đói kém triền miên Trong suốt cả bữa cơm, bà cụ toàn nói chuyện vui, chuyện làm ăn sau này khiến không khí gia đình rất mực ấm áp Đây có thể xem là sự chuyển biến tâm lý rất tất yếu của người đàn bà nghèo khổ Phải chăng hạnh phúc gia đình đã khiến người phụ nữ này vượt lên trên hoàn cảnh khốn cùng mà nghĩ đến tương lai Bữa ăn mừng con dâu mặc dù trông đầy thảm hại nhưng vẫn thật ấm áp và chan chứa dư vị yêu thương qua những câu chuyện đầy vui vẻ, lạc quan của bà : “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà…rồi làm chuồng gà, chẳng mấy chốc mà có ngay đàn gà cho xem ” Câu nói ấy chứa biết bao hi vọng, niềm tin của bà cụ Tứ về 1 tương lai tươi sáng mà ở đó họ không còn phải đối mặt với cái đói, cái nghèo dai dẳng đeo bám hàng ngày
Tưởng chừng cả bữa ăn sẽ kéo dài với không khí ấm áp và hạnh phúc, nhưng
sự xất hiện của “nồi chè khoán” đã làm cho ai nấy ít nhiều đều chạnh lòng Bà cụ "