Hệ thống luật Dân sự và nguồn của luật Dân sự.doc
Trang 1Lời mở đầu Để quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao tính thực thicủa các văn bản pháp luật, tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhànớc ta chủ trơng xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh với
đầy đủ các ngành luật phản ánh tốt hơn đờng lối của Đảng trong công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta hiện nay Với mục tiêu, động ực chính của
sự phát triển là vì con ngời, do con ngời, đặt con ngời vào vị trí trung tâm, giảiphóng sức sản xuất, khơi dậy mọitiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao
động và của cả cộng đồng dân tộc; động viên và tạo mọi điều kiện cho mọingời Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cờng, cần kiệm xây dựng tổ quốc, rasức làm giàu cho mình và cho đất nớc Trong đó, mọi ngời đợc tự do kinhdoanh theo pháp luật, đợc bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp
Hệ thống pháp luật của Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam baogồm nhiều ngành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp Trong
đó, mỗi ngành luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nhất định Nhữngnhóm quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh đợc gọi là đối tợng điềuchỉnh của ngành luật đó Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, Nhà nớc sử dụngcác biện pháp tác động khác nhau hớng cho các quan hệ xã hội đó phát sinh,thay đổi chấm dứt phù hợp với ý chí của Nhà nớc Phơng pháp tác động củaNhà nớc lên các quan hệ xã hội có những đặc thù khác nhau phụ thuộc vàocác quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật Luật dân sự là một ngànhluật đợc hình thành từ rất sớm trong lịch sử phát triển của Nhà nớc và phápluật Các nhà nớc luôn luôn chú trọng hoàn thiện luật dân sự vì tính phổ biến
và vai trò quan trọng của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Với tcách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của Nhà nớc ta, luậtdân sự có đối tợng điều chỉnh là những nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhânthân Tạo cơ sở và hành lang pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lựcsản xuất, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội Bộ luật dân sự quy định cácchuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể trong giao lu dân sựnhằm bảo đảm sự ổn định, lành mạnh các quan hệ dân sự trong điều kiện pháttriển phát triển kinh tế hàng hóa
Với t cách là một đạo luật lớn nhất, kết luận của Bộ Chính trị khẳng định: “Việc ban hành Bộ luật Dân sự là một bớc đổi mới chính trị quan trọng SauHiến pháp, Bộ luật Dân sự là đạo luật có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp
Trang 2của của ngời dân” thì giá trị pháp lý cần đợc xác định nh thế nào Theo thông
lệ và tập quán quốc tế thì Bộ luật Dân sự phải đợc u tiên áp dụng để giải quyếttranh chấp, dù trong hệ thống pháp thực định còn có những quy định tơng tựnhng hiệu lực pháp lý thấp hơn Đây cũng là yêu cầu quan trọng của pháp chếxã hội chủ nghĩa
Trang 3Chơng I: Hệ thống luật Dân sự và nguồn của luật Dân sự.
A.Hệ thống của luật Dân sự.
Luật Dân sự là hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh các quan
hệ tài sản và quan hệ nhân thân Các quy phạm pháp luật này hợp thành nhữngnhóm quan hệ tơng đối đồng nhất đó đợc gọi là chế định trong luật dân sự.Những chế định lớn( quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế…) đ) đợcphân chia thành các chế định nhỏ hơn Các chế định đều phải tuân theo cácquy định ở phần chung và mỗi chế định của phần riêng có những quy địnhchung xuyên suốt phần riêng đó
Căn cứ vào cách sắp xếp truyền thống và đợc thể hiện trong Bộ luật Dân sự,khoa học luật dân sự sắp xếp luật dân sự thành hai phần lớn: Phần chung vàphần riêng
Phần chung: Bao gồm những quy phạm chung nhất xuyên suốt toàn bộ hệ
thống pháp luật dân sự, quy định những nguyên tắc, nhiệm vụ của luật dân sự,chủ thể, địa vị pháp lý của chủ thể, các căn cứ xác lập, thay đổi , chấm dứtquyền dân sự, thời hạn, thời hiệu
Phần riêng: Dựa theo các nhóm quan hệ mà luật dân sự điều chỉnh, căn cứ
vào khách thể của quan hệ dân sự- luật dân sự đợc chia thành các chế định lớntơng ứng Trong các chế định lớn này có phần chung và chỉ áp dụng cho riêngphần đó Hiện nay, luật dân sự Việt Nam hình thành các chế định lớn sau đây:
+ Chế định quyền sở hữu: Đây là chế định trung tâm, quan trọng nhất không
chỉ riêng cho luật dân sự mà cho cả hệ thống pháp luật nói chung Trong đó,quy định các hình thức sở hữu; đối tợng của quyền sở hữu; các căn cứ phátsinh, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu; nội dung quyền sở hữu và các biệnpháp bảo vệ quyền sở hữu, đồng thời cũng quy định những hạn chế đối vớichủ sở hữu trong việc thực hiện các quyền năng quyền sở hữu
+Chế định nghĩa vụ và hợp đồng: Đây là chế định lớn nhất trong luật dân
sự-là chế định dẫn xuất của chế định quyền sở hữu gồm các quy định liên quan
đến nghĩa vụ và các căn cứ phát sinh nghĩa vụ quân sự- chế định lớn này đợcchia thành các chế định nhỏ: Những quy định chung về nghĩa vụ dân sự, căn
cứ phát sinh nghĩa vụ nghĩa vụ dân sự, thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự
và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; Hợp đồng dân sự thôngdụng( mua bán, thuê tài sản…) đ); Chế định thực hiện công việc không có uỷ
Trang 4nhiệm dân sự do gây thiệt hại quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm do gâythiệt hại và một số trờng hợp riêng biệt của trách nhiệm do gây thiệt hại.
+Chế định quyền thừa kế: Bao gồm các quy định về trình tự dịch chuyển di
sản của ngời chết cho những ngời còn sống, việc dịch chuyển di sản theo dichúc hoặc theo quy định của pháp luật
+Chế định chuyển quyền sử dụng đất: Quy định trình tự, điều kiện dịch
chuyển quyền sử dụng đất
+Chế định quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ: Quy định về việc
xác lập quyền của mỗi cá nhân đối với kết quả sáng tạo tinh thần nh: tác phẩmvăn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, các đối tợng của sở hữu công nghiệp
và việc chuyển giao các đối tợng đó
B.Nguồn của luật dân sự
Nguồn của pháp luật nói chung đã đợc nghiên cứu kỹ, chi tiết trong chơngtrình lý luận chung về Nhà nớc và pháp luật Về mặt xã hội học, nguồn củapháp luật là ý chí của giai cấp thống trị đa lên thành luật mà nội dung đợc xác
định bởi các điều kiện chính trị, kinh tế tồn tại trong xã hội cần thiết phải điềuchỉnh bằng pháp luật và với phơng thức nào là do giai cấp thống trị, thông quahoạt động lập pháp của Nhà nớc quyết định
Mỗi ngành luật là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định các cách thức
xử sự của các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó phù hợp với lợi ích của giaicấp thống trị Trong điều kiện của chúng ta hiện nay-Đảng “là lực lợng lãnh
đạo Nhà nớc và xã hội”(1)là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân vànhân dân lao động, của dân tộc thì pháp luật là sự thể chế hoá đờng lối của
Đảng trong từng giai đoạn cách mạng Đờng lối, chủ trơng của Đảng đợc cáccơ quan nhà nớc có thẩm quyền “ thể chế hóa” bằng quá trình lập pháp Bởivậy, “ chấn chỉnh bộ máy theo hớng tinh, gọn, có đủ năng lực thể chế hoá của
Đảng thành pháp luật là nhiệm vụ cấp bách của quá trình lập pháp của nớc ta
để đảm bảo quản lý nhà nớc bằng pháp luật mà không chỉ bằng đạo lý”.Nguồn của luật dân sự hiểu theo nghĩa hẹp là những văn bản pháp luật( hìnhthức của pháp luật) do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành nhằm điềuchỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ và các quan hệ nhân thân Một văn bản
đợc coi là nguồn của luật dân sự phải đáp ứng đợc những yêu cầu sau: Vănbản do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành; Chứa đựng các quy phạmpháp luật dân sự; Phải ban hành theo trình tự, thủ tục do luật quy định
(1) Điều 4 Hiến Pháp 1992.
Trang 5*áp dụng luật dân sự.
Luật dân sự là hệ thống các quy phạm Các quy phạm này là những hình mẫu
để các chủ thể khi hành xử phải tuân theo Đó là các chuẩn mực ứng xử củachủ thể khi tham gia quan hệ dân sự Nhng việc thực thi pháp luật; việc tuântheo các “chuẩn mực ứng xử” đó khi tham gia vào các quan hệ dân sự phụthuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: Vào bản thân nội dung các quy phạm phápluật đó Nó thực sự phù hợp và phản ánh đúng các điều kiện kinh tế trong xãhội đó hay không; Vào ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia, vào các ýthức pháp luật của xã hội nói chung; Vào việc áp dụng pháp luật của cơ quannhà nớc có thẩm quyền Tự bản thân các quy phạm không thể “sống” nếukhông đợc áp dụng trong thực tế cuộc sống Vì vậy, việc áp dụng pháp luậtdân sự trong cuộc sống là hết sức quan trọng để biến các quy phạm pháp luậttrở thành công cụ thực sự, tích cực điều chỉnh các quan hệ xã hội áp dụngluật dân sự là những hoạt động cụ thể của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền căn
cứ vào những sự kiện thực tế đó để đa ra quyết định phù hợp với thực tế vànhững quy phạm của pháp luật Những quyết định đợc cơ quan có thẩm quyền
đa ra có thể là: Công nhận hay bác bỏ một quyền dân sự nào đó đối với mộtchủ thể( quyền sở hữu, quyền thừa kế, quyền đòi nợ…) đ); Xác lập một nghĩa vụcho một chủ thể nhất định ( bồi thờng thiệt hại, trả nợ, giao vật, trả tiền, chấmdứt hành vi vi phạm…) đ); áp dụng các biên pháp cỡng chế cần thiết để bảo vệquyền, lợi ích của các chủ thể khác, của Nhà nớc(tịch thu tài sản, phạt viphạm, quyết định bán đấu giá…) đ)
Trang 6Chơng II: Nhìn nhận về Bộ luật dân sự trên thực tế.
I.Một số vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự.
1.Thực trạng tổ chức và thi hành án dân sự
Về hệ thống pháp luật, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật về thi hành án nói chung, hệ thống các văn bản pháp luật về thi hành ándân sự đã đợc xây dựng tơng đối hoàn chỉnh, tạo cơ sở vững chắc cho việcquản lý cũng nh tổ chức và hoạt động của thi hành án dân sự( điển hình làPháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, hệ thống các Nghị định và văn bảnhớng dẫn thi hành)
Về cơ chế quản lý, đã xây dựng đợc một cơ chế quản lý thống nhất đối với
các công tác thi hành án dân sự, tạo điều kiện tơng đối thuận lợi cho việc tổchức và hoạt động cũng nh quan hệ với cơ quan hữu quan, giúp cho việc tậptrung đến mức tối đa đầu t cơ sở vật chất phơng tiện làm việc và cả con ngờicho hoạt động thi hành án dân sự Cơ chế quản lý theo ngành kết hợp quản lýtheo lãnh thổ, có sự phân cấp quản lý rõ ràng cùng cơ chế phối hợp quản lý đãhình thành một cơ chế quản lý chung tơng đối hiệu quả và phù hợp, giúp chohoạt động thi hành án dân sự đợc triển khai đồng bộ, thống nhất trong cả nớc,
đồng thời, góp phần tích cực phục vụ nhiệm vụ chính trị của từng địa phơng.Việc giao cho Bộ t pháp giúp Chính phủ quản lý thống nhất về mặt tổ chức vànghiệp vụ thi hành án đã giúp cho việc quản lý đội ngũ chấp hành viên và cán
bộ thi hành án đợc chặt chẽ hơn từ khâu tuyển dụng cán bộ đến việc theo dõiquá trình công tác, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức chấp hành viên, tạo
ra một quy chế thống nhất, khách quan
Về cơ cấu tổ chức cơ quan thi hành án dân sự, các cơ quan thi hành án dân
sự đợc thành lập từ Trung ơng đến địa phơng ở Bộ t pháp có Cục quản lý thihành án dân sự ở cấp tỉnh có Phòng thi hành án dân sự thuộc Sở T pháp baogồm chấp hành viên trởng( trởng phòng), các chấp hành viên cấp phòng, cáccán bộ làm công tác thi hành án ở cấp huyện có Đội thi hành án thuộc Phòng
T Pháp cũng bao gồm chấp hành viên trởng ( đội trởng), các chấp hành viêncấp Đội và các cán bộ làm công tác thi hành án Cơ quan thi hành án trongquân đội là các Phòng thi hành án các quân khu và các cấp tơng đơng Việc tổchức các cơ quan thi hành án theo đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện đãtạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý nhà nớc đối với công tác thi hành án,
đồng thời cũng luôn gắn với sự chỉ đạo kịp thời của cấp uỷ đảng chính quyền
địa phơng, sự phối hợp của các cơ quan cùng cấp trong việc tổ chức thi hành
Trang 7án Kết quả hoạt động thi hành án dân sự trong 10 năm qua đã chứng minhtính u điểm của cơ chế tổ chức và quản lý hoạt động vào việc khôi phục và bảo
vệ quyền lợi của Nhà nớc, các cơ quan, tổ chức và công dân, tăng cờng phápchế xã hôi chủ nghĩa Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng: công tác thi hành
án dân sự hiện nay cha đáp ứng đợc quá trình phát triển kinh tế- xã hội đất nớckhi các quan hệ xã hội phát sinh trong điều kiện kinh tế thị trờng ngày càng
mở rộng, phong phú và đa dạng
2.Những hạn chế trong công tác thi hành án dân sự hiện nay
Thứ nhất, các quy định pháp luật thi hành án dân sự: Pháp lệnh Thi hành ándân sự đợc ban hành từ năm 1993 đến nay đã bộc lộ khá nhiều điểm hạn chếcần bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện, điển hình là về phạm vi áp dụng, các quy
định về thủ tục thi hành án, nh chủ động thi hành theo đơn yêu cầu thi hành
án, quy định về trả lại đơn yêu cầu, về chế định uỷ thác trong thi hành án; vềcác biện pháp cỡng chế trong thi hành án; các biện pháp kê biên, xử lý tài sảncủa cơ quan, tổ chức, các quyền sở hữu trí tuệ, về xác minh tài sản và thời hạnxác minh để thi hành án, các quy định về bán đấu giá, các quy định về hoãn ,tạm đình chỉ , đình chỉ, quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, về khángnghị trong thi hành án, về thi hành án có yếu tố nớc ngoài…) đ Đặc biệt phápluật thi hành án hiện hành cha quy định rõ trách nhiệm của cơ quan hữu quantrong việc giúp đỡ, tạo điều kiện và thực hiện các yêu cầu của cơ quan thihành án, các chấp hành viên; hình thức, chế tài trong trờng hợp họ không thựchiện Những bất cập trong các quy định pháp luật về thi hành án và các quy
định pháp luật về nội dung có liên quan đến thi hành án đã ảnh hởng khôngnhỏ đến thi hành án dân sự
Thứ hai, về cơ chế quản lý thi hành án dân sự: xét cả về lý luận và thực tiễn,hoạt động thi hành án dân sự mang nhiều nét đặc thù riêng, mặc dù có nhữngnét nổi trội của hoạt động hành chính t pháp, song về cơ bản nó bị chi phốimạnh mẽ của quá trình xét xử và các bớc tố tụng Không ít các trờng hợp dobản án quyết định không rõ ràng hoặc sự can thiệp, chi phối, thiếu căn cứ củacác bớc tố tụng nh tạm hoãn, kháng nghị, quyết định của cấp giám đốc lật ng-
ợc lại bản án, quyết định theo chiều ngợc lại đã làm ảnh hởng đến việc tổ chứcthi hành án Hơn nữa, việc thi hành án dân sự còn liên quan đến hoạt độngcủa nhiều ngành nh Công an, Kiểm sát, Địa chính- Nhà đất, Xây dựng, Tàichính- Vật giá…) đ Bởi vậy, nếu không có cơ chế thích hợp sẽ không tạo đợc
điều kiện thuận lợi nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự
Trang 8Cơ chế quản lý thi hành án dân sự hiện nay còn nhiều bất cập Cục quản lýthi hành án dân sự thuộc Bộ T pháp có chức năng giúp Bộ trởng Bộ t pháp,giúp Chính phủ thực hiện việc quản lý thống nhất đối với công tác thi hành ándân sự trong cả nớc, quản lý, hớng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ công tác thi hành ándân sự; thực hiện một số nội dung của quản lý Nhà nớc khác; chỉ đạo, kiểmtra, tổng kết công tác quản lý công tác thi hành án dân sự ở địa phơng Tuynhiên, việc quản lý Nhà nớc về tổ chức cũng nh nghiệp vụ gặp nhiều vớngmắc và chồng chéo Cũng do tổ chức của ngành T pháp không theo nguyên tắctập trung thống nhất, nên thực hiện sự quản lý xuống các địa phơng cần phải
có sự kết hợp với các chủ thể quản lý ở địa phơng là Sở T pháp, Phòng T pháp.Các cơ quan này lại thuộc uỷ ban nhân dân cùng cấp, hởng ngân sách từ địaphơng Do vậy, cơ chế phối hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đôi khithiếu hiệu quả, nhiều đầu mối, tầng nấc, ảnh hởng không nhỏ đến hoạt độngtác nghiệp thi hành án ở các địa phơng chủ thể quản lý là cơ quan chuyênmôn thuộc chính quyền địa phơng, song đối tợng quản lý là các phòng, các
đội thi hành án lại đợc tổ chức theo ngành dọc, hởng ngân sách từ Trung ơngcả về tổ chức, biên chế và kinh phí hoạt động Do vậy, không ít trờng hợp cáccơ quan thi hành án “qua mặt”cơ quan quản lý Nhiều nơi, Phòng T pháp chỉ
có hai biên chế , ngoài việc phải thực hiện một số hoạt động của công tác tpháp khác, lại còn phải thực hiện quản lý nhà nớc của đội thi hành án có tổchức và biên chế chặt chẽ và chuyên nghiệp từ 7 đến 10 ngời, gần đây một sốPhòng T pháp còn bị sát nhập vào văn phòng UBND cấp huyện, nên việc thựchiện quản lý Nhà nớc càng khó khăn hơn Có thể nói, cơ chế quản lý tổ chức
và hoạt động thi hành án dân sự hiện nay cha phù hợp và hiệu quả, cha xác
định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, dẫn đến chồng chéo, giảm hiệu lựcquản lý nhà nớc Các nội dung quản lý thể hiện ở mối quan hệ gữa cơ quanquản lý và cơ quan thi hành án còn nhiều điểm gây khó khăn, vớng mắc chohoạt động thi hành án, cha đảm bảo tính chủ động, độc lập, hiệu quả của cáccơ quan thi hành án; cha quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan hữu quancác cấp trong phối hợp tổ chức thi hành án Điều này đã hạn chế rất lớn đếnhiệu lực, hiệu quả của cơ chế thi hành án và hoạt động thi hành án dân sự
Thứ ba, về cơ cấu tổ chức các cơ quan thi hành án dân sự: về cơ cấu tổ chức
các cơ quan thi hành án dân sự theo đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện nh hiệnnay phần nào đã tạo đợc một số thuận lợi trong quản lý nhà nớc, có sự quantâm chỉ đạo kịp thời của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phơng đối với cơ quanthi hành án thuộc địa phơng mình Tuy nhiên, một số địa phơng đặc biệt là cấp
Trang 9huyện ở vùng xa, vùng sâu số lợng án phải thi hành hàng năm rất ít, nhng về
tổ chức vẫn phải thành lập Đội thi hành án với đủ biên chế theo quy định.Trong khi đó, tại các quận huyện, tại các thành phố lớn, số lợng án phải thihành nhiều, nhng số không tăng so với quy định dẫn đến tình trạng quá tải, tạo
ra sự mất cân đối giữa các cơ quan thi hành án cùng cấp trong các vùng miền
đất nớc về sự thừa, thiếu cán bộ Thiết nghĩ, chúng ta cần nghiên cú tới phơng
án tổ chức cơ quan thi hành án theo khu vực, căn cứ theo nhu cầu thực tế côngviệc và sự tiện lợi cho nhân dân mà ấn định số lợng biên chế các cán bộ, chứkhông nhất thiết phải tạo ra một khuôn mẫu chung cho tất cả các đơn vị theo
địa giới hành chính
Thứ t, về đội ngũ chấp hành viên, các tiêu chí đối với chấp hành viên: so với
nhu cầu thực tế công việc, hiện tại số lợng chấp hành viên và cán bộ thi hành
án còn phải bổ sung rất nhiều Tính đến tháng8/2001, tổng số chấp hành viêntrong cả nớc là 1764 ngời, trong khi đó, tổng biên chế thực tế của các cơ quanthi hành án là 4200 ngời Với tình hình số số án phải thi hành ngày một giatăng thì bản thân lực lợng chấp hành viên và các cán bộ thi hành án khó có thể
đảm đơng nổi Năm 2000, tính bình quân mỗi chấp hành viên phải tổ chức thihành 248 vụ; con số này chỉ trong 6 tháng đầu năm 2001 đã là 205 vụ ở cácthành phố lớn nh Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng số vụ việc bìnhquân mà mỗi chấp hành viên phải đảm trách tổ chức thi hành gần 700 vụ/năm;tỉnh có ít vụ việc thì con số cũng lên tới 145 vu việc/năm cho mỗi chấp hànhviên nh Bắc Cạn Có thể nói, với khối lợng công việc nh trên, cùng với cơ chếquản lý và phối hợp trong thi hành án cha thật hiệu quả, cơ chế quản lý thunhập, quản lý tài sản còn lỏng lẻo, ý thức chấp hành pháp luật của đại bộ phậnquần chúng cha cao, quả là thách thức lớn đối vơi vơ quan thi hành án trong cảnớc Hiện tại, Nhà nớc ta đang thực hiện tinh giản biên chế, kiện toàn tổ chức
ở các cơ quan, đặc biệt là cơ quan quản lý hành chính, vì vậy việc tăng biênchế cho các cơ quan thi hành án là bài toán nan giải, mà phải chú trọng vàoviệc cải tiến nề nếp, phơng thức làm việc, tăng cờng sự phối hợp có tráchnhiệm của các cơ quan, ban, ngành đối với việc tổ chức thi hành án Một sốvấn đề khác nh tiêu chuẩn chấp hành viên, ngoài các tiêu chuẩn về đạo đức,phẩm chất, trình độ chuyên môn pháp lý, còn phải chú trọng đào tạo, chế độ,chính sách đãi ngộ đối với chấp hành viên và cán bộ thi hành án cũng cần phải
đợc xem xét, nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện
II.Vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sự và chủ thể của luật Dân sự.
Trang 10*Vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam và
nguyên tắc áp dụng
Trong giới nghiên cứu khoa học pháp lý trong những năm gần đây đã cónhiều cuộc hội thảo khoa học bàn về tiêu chí khoa học để phân định ranh giớigiữa hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thơng mại Do cùng tồn tạicác loại hình hợp đồng khác nhau cùng những tiêu chí pháp lý khác nhau nêncần phải có sự phân biệt là hợp lý Liên quan đến vấn đề trên đây là hiệu lực
pháp lý của các văn bản pháp luật Vì vậy, quan điểm về vấn đề: Cần xác định
lại vị trí của Bộ luật Dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam phải đợc
nghiên cứu và xem xét nghiêm túc
Trong buổi tọa đàm lần đầu đợc tổ chức tại trụ sở Bộ T pháp vào chiềungày15/8/2000 khi bàn về “Phơngg pháp luận sửa Bộ luật Dân sự Việt Nam”lúc đó giáo s Akio Morishima (trởng đoàn chuyên gia Nhật Bản giúp ViệtNam soạn thảo và sửa đổi Bộ luật Dân sự) cũng đã nêu quan điểm: Các nớctrên thế giới theo xu thế chung không có sự phân biệt hợp đồng dân sự hayhợp đồng kinh tế Trong quá trình áp dụng pháp luật, các chủ thể có thể sửdụng pháp luật khác nhau tuỳ thuộc voà tính chất mục đích và nội dung củanhững giao dịch cụ thể để tìm luật áp dụng Nhng nguyên tắc là nếu Bộ luậtDân sự đã có quy định, thì trớc hết phải áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự,Việt Nam phải xác định đợc một vấn đề quan trọng là việc quy định các loạihình hợp đọng trong Bộ luật Dân sự có ý nghĩa gì? Nguyên tắc tự do trong hợp
đòng cần đợc tôn trọng Có thể hợp đồng đó trong tơng lai sẽ có những bấttrắc xảy ra nhng không cần phải quy định trớc, nếu có tranh chấp thì trớc hếtphải áp dụng Bộ luật Dân sự để giải quyết
Tuy còn một số ít hạn chế, nhng bộ luật Dân sự năm 1995 là bộ luật có nhiềutiến bộ vợt bậc so với hệ thống các văn bản quy định về dân sự trớc đây Lần
đầu tiên nhiều nội dung quan trọng của pháp luật dân sự đã đợc phát triển hóamột cách có hệ thống, ví dụ nh chế định tài sản và quyền sở hữu, các quy định
về chủ thể của luật dân sự trớc đây, Bộ luật Dân sự đã có những quy định tơng
đối đầy đủ, cụ thể, chi tiết…) đ Trong hội thảo thực tiễn 4 năm thi hành luật Dân
sự nhiều ý kiến cho rằng, tuy đã có nhiều quy định cụ thể nhng khi áp dụngpháp luật trong thực tiễn, Toà án nhân dân hoặc các cơ quan nhà nơc có thẩmquyền vẫn còn có những khó khăn, vớng mắc, đôi khi hiểu luật còn thiếu sựthống nhất Do đó tính chất đặc trng của giao lu dân sự nên Toà án nhân dân
và các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền vẫn áp dụng các văn bản pháp luật cóliên quan để giải quyết các tranh chấp Trong nhiều trờng hợp phải áp dụng
Trang 11nguyên tắc tại điều 7 Bộ luật Dân sự để giải quyết tranh chấp, đó là sự thoảthuận trớc của các chủ thể trong khi xác lập giao dịch dân sự Đây chính lànguyên tắc đặc trng nhất của pháp luật Dân sự Mặc dù trên thực tế và cả dớigóc độ khoa học cũng nh giá trị pháp lý của Bộ luật Dân sự, việc áp dụng cácquy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết tranh chấp là đúng đắn và cần thiết.Nhng đã có không ít lý do vì: Hết thời hiệu hoặc vì “không rõ ràng” và nhữngnguyên nhân khác, Toà án nhân dân và các cơ quan của nhà nớc có thẩmquyền mới áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự Đây là một điều có thểxem là không bình thờng trong một xã hội Nhà nớc- pháp quyền
Trong lần sửa đổi này, vấn đề xác định đợc vị trí, hiệu lực pháp lý của Bộluật Dân sự trong hệ thống pháp luật cần phải đợc xem xét cụ thể và là vấn đề
có ý nghĩa quan trọng nhất Hiện nay ở Việt Nam không phân chia hệ thốngpháp luật thành: luật công và luật t nh hệ thống pháp luật một số nớc trên thếgiới, nên việc xác định vị trí và nguyên tắc áp dụng cần phải đợc khẳng địnhngay trong Bộ luật Dân sự để tạo ra sự thuận lợi cho việc áp dụng của các cơquan nhà nớc có thẩm quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lu dân sự pháttriển đúng hớng trong một hành lang pháp lý an toàn Tham khảo luật phápcủa một số nớc tôi thấy rằng:
Theo kinh nghiệm của Nhật Bản thì: vấn đề xác định hiệu lực của bộ luậtDân sự phải đợc xem xét, cân nhắc kỹ lỡng và cần phải đợc quy định cụ thểtrong bộ luật Trong sách bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản có ghinhận: “Pháp luật dân sự có hiệu lực đối với tất cả các mối quan hệ thuộc phápluật dân sự”(1)
Trong Bộ luật Dân sự của nớc Cộng hoà Pháp, ngay Thiên mở đầu quy định
về hiệu lực của luật và áp dụng luật, tại Điều 3 quy định: Mọi bất động sản,ngay cả do ngời nớc ngoài chiếm hữu đều chịu sự chi phối của pháp luật nớcPháp Những luật liên quan đến quy chế nhân thân và năng lực con ngời chiphối cả những Pháp c trú ở nớc ngoài”(2)
Theo Bộ luật Dân sự và Thơng mại Thái Lan, trong tiêu đề “ những quy địnhchung” tại Điều4 có quy định: “ Bộ luật này phải đợc áp dụng trong tất cả cáctrờng hợp thuộc phạm vi câu chữ hoặc tinh thần của bất cứ quy định nào của
Bộ luật Nếu không có quy định nào của bộ luật có thể áp dụng thì vụ việc đợcquyết định theo tập quán địa phơng Nếu không có tập quán địa phơng nào nhvậy, thì vụ việc đợc quyết định bằng cách áp dụng quy định tơng tự nhất; và,