1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

210 1,1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 510,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài:Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Trang 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

1.1 Trong bối cảnh bớc sang năm thứ 17 thực hiện công cuộc đổimới đất nớc do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng và lãnh đạo (từ Đại hội

Đảng VI tháng 12 năm 1986), tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nớc, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã đạt đợcnhững thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, ngoại giao,kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng Đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoạigiao với hơn 160 nớc trên thế giới; có quan hệ về hợp tác kinh tế, tài chính,tín dụng với hơn 200 tổ chức quốc tế và diễn đàn quốc tế; có quan hệ buônbán với hơn 100 nớc, trong đó với 60 nớc đã ký kết Hiệp định về thơng mại ởcấp Chính phủ; các công ty, doanh nghiệp của trên 50 nớc và vùng lãnh thổ

đã đầu t trực tiếp vào Việt Nam [47, tr 5] Tháng 7/2000 đã ký kết Hiệp địnhthơng mại Việt - Mỹ Hiện nay Việt Nam đang tích cực tiến hành đàm phán

để quyết tâm gia nhập Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO) vào năm 2005

Sau ảnh hởng chung của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực vào năm

1997, tổng số lợng vốn của các dự án đầu t nớc ngoài tại Việt Nam tuy bị giảm

đáng kể, nhng vẫn đạt 43,5 tỷ USD theo đăng ký, trong đó có khoảng 22 tỷ USDcủa các dự án đã và đang đợc triển khai thực hiện [47, tr 5] Cùng với đó là độingũ chuyên gia, cán bộ, nhân viên của các công ty, chi nhánh, văn phòng đạidiện nớc ngoài vào Việt Nam thực hiện các chơng trình, dự án đầu t, kinhdoanh sản xuất, làm ăn với các đối tác Việt Nam cũng ngày càng tăng lên.Tình hình đầu t ra nớc ngoài của Việt Nam mặc dù còn ở mức độ khiêm tốn,nhng trong một vài năm trở lại đây cũng đã đạt tốc độ khá cao, chủ yếu làsang Lào, Cămpuchia, Tiệp Khắc (cũ), Liên bang Nga và một số nớc khác

Những năm qua, số lợng công dân Việt Nam đợc gửi đi lao động hợp

Trang 2

tác ở nớc ngoài cũng tăng lên đáng kể, trong đó phải kể đến số lao động đợcgửi đi Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật bản, Malayxia và một số nớc khác Thị trờnglao động nớc ngoài mà lao động Việt Nam đến làm việc tăng nhanh Năm

1992 lao động Việt Nam đến làm việc tại 12 nớc, năm 1995 tại 15 nớc, năm

1998 tại 27 nớc, năm 1999 tại 38 nớc và năm 2002 tại trên 40 nớc Tổng sốlao động đa đi nớc ngoài năm 1996 là 12.660 ngời, năm 1997 là 18.470 ngời,năm 1999 là 21.810 ngời năm 2002 ngót 40.000 ngời [7]

Cùng với đó, số lợng khách du lịch nớc ngoài và ngời Việt Nam định

c ở nớc ngoài nhập cảnh Việt Nam cũng ngày càng tăng lên Năm 1997 có1.055.783 lợt ngời nhập cảnh Việt Nam qua hai cửa khẩu sân bay quốc tế NộiBài và Tân Sơn Nhất; năm 1999 số lợt ngời nhập cảnh Việt Nam đã tăng lên2.015.973, trong đó có gần 1 triệu lợt ngời nớc ngoài vào Việt Nam theo các

dự án đầu t Trong năm 2002 đã có tới 2,6 triệu lợt khách nớc ngoài vào ViệtNam [3]

Tất cả tình hình trên đây đã và đang góp phần quan trọng thúc đẩy sựhội nhập kinh tế, cũng nh phát triển quan hệ về mọi mặt giữa Việt Nam vớicác nớc, các tổ chức và diễn đàn quốc tế Trong bối cảnh đó, đã làm gia tănghết sức mạnh mẽ các giao lu về dân sự có yếu tố nớc ngoài đòi hỏi phải đợcpháp luật điều chỉnh Các quan hệ về hôn nhân và gia đình, lao động, thừakế có yếu tố nớc ngoài trong các năm qua cũng tăng lên Chỉ riêng về tìnhhình kết hôn và nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với ngời nớc ngoài,trung bình mỗi năm cũng có hàng chục ngàn vụ kết hôn và nuôi con nuôi đợc

đăng ký Theo Báo cáo (ngày 15/4/2003) của Vụ Công chứng-Giám định-Hộtịch-Quốc tịch-Lý lịch t pháp (Bộ T pháp) về việc thực hiện Đề án điều tra cơbản tình hình phụ nữ Việt Nam kết hôn với ngời nớc ngoài theo ý kiến chỉ đạocủa Phó Thủ tớng Phạm Gia Khiêm, thì "từ năm 1995 đến năm 2002 cả nớc có115.844 trờng hợp kết hôn có yếu tố nớc ngoài, trong đó có 64.683 trờng hợpkết hôn với ngời nớc ngoài, 51.161 trờng hợp kết hôn với ngời Việt Nam định

Trang 3

c ở nớc ngoài" Tình hình ngời nớc ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm connuôi cũng ngày một tăng Cũng theo báo cáo của Vụ này, "từ năm 1995 đếntháng 10/2002 cả nớc có trên 11.350 trẻ em đợc ngời nớc ngoài nhận làm connuôi" [15].

Nh vậy, cùng với nhịp độ phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế thơng mại có yếu tố nớc ngoài trong bối cảnh năng động tại các đô thị, thànhphố lớn, đã làm phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài Tình hình đó tất nhiên sẽ kéo theo những hậu quả làm phát sinh các vụtranh chấp về dân sự, thừa kế, hôn nhân và gia đình có yếu tố nớc ngoài, đòihỏi phải đợc giải quyết kịp thời Những vấn đề này, rõ ràng là không thể giảiquyết đợc, nếu không có đủ cơ sở pháp lý cần thiết cho các cơ quan nhà nớc

-có thẩm quyền xem xét vụ việc

1.2 Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay đã trở thành một đòihỏi có tính tất yếu khách quan của mọi quốc gia trong tiến trình phát triển.Quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải có một hệ thống pháp luậthoàn thiện Điều đó cũng có nghĩa là, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật phục vụ cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng địnhhớng xã hội chủ nghĩa, thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân sự nóichung và pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài nói riêng,

là một yêu cầu tất yếu khách quan và có tính cấp thiết hiện nay

Trong bối cảnh mở rộng quan hệ quốc tế theo xu thế hội nhập của ViệtNam hiện nay, nh đã đợc khẳng định trong Nghị quyết của Hội nghị Trung -

ơng lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII(Nghị quyết Trung ơng 8), điều cần thiết là "phải tiếp tục củng cố và tăng c-ờng mở rộng quan hệ quốc tế về t pháp , tạo hành lang pháp lý cho cácquan hệ dân sự phát triển lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật, phòng chốngtội phạm và các tệ nạn xã hội"

Trang 4

Do đó, yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự, trong đó cóPhần thứ bảy về quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài nói riêng, cũng nh cácvăn bản pháp luật dân sự có liên quan, càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩaquan trọng, góp phần tạo hành lang pháp lý cho việc ổn định các quan hệ dân

sự có yếu tố nớc ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tếcủa Việt Nam trong thời kỳ mới

Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống các vấn đề

về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự

có yếu tố nớc ngoài nói chung, các quan hệ sở hữu, thừa kế, hôn nhân và gia

đình có yếu tố nớc ngoài nói riêng, là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thời sự,nhất là trong bối cảnh hiện nay Bộ T pháp và các Bộ, ngành liên quan đangtiến hành sửa đổi Bộ luật dân sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ khi Bộ luật dân sự đợc Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua(ngày 28 tháng 10 năm 1995), đã có nhiều công trình khoa học của các cánhân, tập thể và cơ quan nhà nớc nghiên cứu về những nội dung cơ bản của Bộluật Nhng liên quan đến các quy định tại Phần thứ bảy của Bộ luật dân sự vềquan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, các công trình nghiên cứu của các nhà khoahọc, các luật gia còn quá hạn chế (TS Hà Hùng Cờng viết chơng VIII "Quan

hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài" trong cuốn Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật dân sự; TS Trần Văn Thắng viết chơng XI "Quan hệ dân sự

có yếu tố nớc ngoài" trong cuốn Giáo trình Luật dân sự (Tập II) v.v ), chủ yếu

nhằm phục vụ mục đích giảng dạy về luật dân sự hoặc t pháp quốc tế Cho đếnnay, mới có một công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Vụ Hợp tác

quốc tế, Bộ T pháp nghiên cứu khái quát về "Hoàn thiện pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài" (thuộc Chơng trình nghiên cứu chung Việt Nam -

Nhật Bản về việc sửa đổi Bộ luật dân sự) Cha có công trình nào nghiên cứumột cách toàn diện và có hệ thống các vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của

Trang 5

pháp luật điều chỉnh các sở hữu và quan hệ thừa kế có yếu tố nớc ngoài ở ViệtNam hiện nay.

Mặt khác, qua 7 năm thi hành Bộ luật dân sự cho thấy, việc thực hiệncác quy định của Phần thứ bảy Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài (từ Điều 826 đến Điều 838) cũng còn nhiều bất cập

Thứ nhất, các quy định tại phần này còn quá chung chung, chủ yếu chỉ

dừng lại trên các nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng để giải quyết xung

đột pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, cha đợc hớng dẫn chi tiếtthi hành

Thứ hai, phạm vi các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, theo lý luận

và thực tiễn điều chỉnh pháp luật ở nhiều nớc cho thấy, bao gồm rất nhiềuquan hệ phát sinh giữa các chủ thể trên các lĩnh vực khác nhau của đời sốngkinh tế - xã hội Trong khi đó, Bộ luật dân sự chỉ điều chỉnh một số quan hệdân sự có yếu tố nớc ngoài, có những quan hệ cha đợc pháp luật điều chỉnh(nh quan hệ thừa kế có yếu tố nớc ngoài)

Thứ ba, có sự "vênh nhau" trong việc giải thích giữa quy định tại Điều 15

khoản 4 với quy định tại Điều 17 và Điều 826, đến nay cha có văn bản phápluật nào xử lý vấn đề này, cũng nh cha có công trình nghiên cứu khoa học nào

đề cập đến vấn đề này

Thứ t, thực tiễn của Tòa án Việt Nam khi giải quyết các tranh chấp dân

sự có yếu tố nớc ngoài cho thấy, hầu nh cha bao giờ Tòa án Việt Nam áp dụng

điều ớc quốc tế, tập quán quốc tế và pháp luật nớc ngoài trong quá trình xét

xử, khiến cho các quy định giải quyết xung đột pháp luật trong Bộ luật dân sự

đơn thuần chỉ tồn tại về mặt hình thức, không phát huy đợc một cách đầy đủhiệu lực của Bộ luật dân sự trong thực tiễn

Cho đến nay hầu nh cha có công trình khoa học nào nghiên cứu mộtcách đầy đủ, toàn diện về những vấn đề tồn tại, bất cập nêu trên Vì vậy, đặt

Trang 6

vấn đề nghiên cứu về những nội dung này trong đề tài, đặc biệt trên cơ sở lýluận về pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế có yếu tố n ớcngoài, nhằm góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung Phần thứ bảy của Bộ luật dân

sự, là điều cần thiết và cũng là mong muốn mà tác giả hớng tới

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nhằm:

Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm, tính

chất, vị trí, vai trò của quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài trong tổng thể cácquan hệ xã hội thuộc đối tợng điều chỉnh của các ngành luật khác nhau, đặcbiệt là ngành luật dân sự; về sự cần thiết và phơng pháp điều chỉnh quan hệdân sự có yếu tố nớc ngoài trong pháp luật Việt Nam (có liên hệ với pháp luậtcủa các nớc)

Thứ hai, phân tích, đánh giá về pháp luật Việt Nam điều chỉnh một số

quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài (chủ yếu từ năm 1986 đến nay), gồmquan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố n ớcngoài Qua đó rút ra những u điểm, tồn tại, bất cập của pháp luật để tiếp tụcnghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự

có yếu tố nớc ngoài, phù hợp với mục tiêu xây dựng Nhà nớc pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật

Thứ ba, kiến nghị về phơng hớng, giải pháp hoàn thiện và thực hiện

các quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố

n-ớc ngoài nói chung, quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ hôn nhân và gia

đình có yếu tố nớc ngoài nói riêng

4 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài là một phạm trù rộng, gồm nhiềuchế định, quy phạm pháp luật phức tạp Xét về mặt lý luận, thì có thể vừa coi

đây là đối tợng điều chỉnh của pháp luật dân sự, vừa là đối tợng điều chỉnh của

Trang 7

t pháp quốc tế Trong phạm vi đề tài thuộc chuyên ngành luật dân sự, tác giảchủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh quan

hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, nhằm làm rõ các luận điểm khoa học sau:

- Chính sách đối ngoại của Việt Nam với sự hình thành, phát triển cácquan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài và sự cần thiết của việc pháp luật điềuchỉnh các quan hệ này ở nớc ta hiện nay

- Khái niệm, vị trí, tính chất và ý nghĩa của quan hệ dân sự có yếu tốnớc ngoài trong tổng thể các quan hệ xã hội thuộc đối tợng điều chỉnh củapháp luật dân sự (trong mối liên hệ với t pháp quốc tế)

- Phơng pháp điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài (quaviệc tham khảo pháp luật của các và thực tiễn pháp luật Việt Nam)

Thứ hai, về thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh một số quan hệ

dân sự có yếu tố nớc ngoài trong giai đoạn từ 1986 đến nay, bao gồm quan hệ

sở hữu có yếu tố nớc ngoài, quan hệ thừa kế có yếu tố nớc ngoài, quan hệ hônnhân và gia đình có yếu tố nớc ngoài Đây là các quan hệ phổ biến trong đờisống dân sự, có liên quan chặt chẽ với nhau thông qua yếu tố tài sản, là yếu tốquan trọng nhất thờng làm phát sinh các tranh chấp trong giao lu dân sự quốc

tế Đó cũng là yếu tố mà tác giả xác định là chủ đề trung tâm xuyên suốt toàn

bộ đề tài nghiên cứu

Thứ ba, về phơng hớng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự

có yếu tố nớc ngoài, tác giả nêu lên một số quan điểm về phơng hớng hoànthiện pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài nói chung,

đồng thời, đa ra các giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan

hệ sở hữu và quan hệ thừa kế có yếu tố nớc ngoài Cùng với đó và xen kẽtrong các phần liên quan, tác giả cũng nêu lên các giải pháp nhằm bảo đảmviệc thi hành các quy định pháp luật về quyền tài sản trong quan hệ vợ chồng,quan hệ cha mẹ và con giữa công dân Việt Nam với ngời nớc ngoài, nhất là

Trang 8

trong việc giải quyết cho ngời nớc ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi vốn là lĩnh vực nhân đạo, nhng khá nhạy cảm và đợc d luận xã hội trong vàngoài nớc hết sức quan tâm.

-5 Phơng pháp nghiên cứu đề tài

Luận án đợc nghiên cứu bằng/và kết hợp các phơng pháp chủ yếu nh

ph-ơng pháp duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng HồChí Minh về nhà nớc và pháp luật; phơng pháp phân tích luật học; phơng phápphân tích - so sánh; phơng pháp khảo sát, điều tra xã hội học (về nhận thức vàthực tiễn áp dụng pháp luật); phơng pháp tổng hợp (trên cơ sở phân tích, sosánh và tham khảo pháp luật nớc ngoài); phơng pháp trích dẫn v.v

Trên cơ sở phơng pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá về cơ sở lý luận

và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài,

đặc biệt đánh giá, phân tích về thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh một

số quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài đã lựa chọn, tác giả rút ra những u

điểm, tồn tại trong việc thi hành pháp luật, từ đó đề ra các giải pháp cụ thểnhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật

Thông qua việc sử dụng các kết quả khảo sát, điều tra và tham khảo thựctiễn pháp luật và kinh nghiệm nớc ngoài, cũng nh các lớp tập huấn, hội nghị, tọa

đàm khoa học trong và ngoài nớc, tác giả đa ra những thông tin, số liệu, dữkiện trung thực, làm căn cứ cho các đánh giá, nhận định xác đáng về tình hìnhnhận thức, thi hành và áp dụng pháp luật liên quan đến quan hệ dân sự có yếu

tố nớc ngoài Qua đó, nắm đợc những diễn biến phức tạp nảy sinh trong quátrình thi hành pháp luật để từ đó có các giải pháp khắc phục hợp lý

Bằng phơng pháp mô hình và lợng hóa, liên hệ, tổng quát và dự báo,phần kiến nghị của luận án đa ra những quan điểm về phơng hớng hoàn thiệnpháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài; đồng thời trên cácmức độ khác nhau, kiến nghị về các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điềuchỉnh quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế có yếu tố nớc ngoài, cũng nh bảo đảm

Trang 9

thi hành đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nớc ngoài hiện nay đã

đợc pháp luật điều chỉnh tơng đối toàn diện

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Với tính cách là một trong những công trình khoa học đầu tiên (thuộcchuyên ngành luật dân sự) nghiên cứu một cách khá toàn diện, có hệ thốngcác vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân

sự có yếu tố nớc ngoài, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ mang lại những đónggóp mới về khoa học pháp lý nh sau:

Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và ứng dụng khái niệm

"quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài" đã đợc pháp luật quy định, tác giả đa rakhái niệm (mới) về quan hệ sở hữu có yếu tố nớc ngoài, quan hệ thừa kế cóyếu tố nớc ngoài Việc đa ra các khái niệm này trong tình hình hiện nay là cầnthiết, góp phần quan trọng vào công tác nghiên cứu và giảng dạy về pháp luậtdân sự cũng nh t pháp quốc tế, củng cố cho nền khoa học pháp lý nớc ta, cũng

nh phục vụ tích cực cho việc sửa đổi Phần thứ bảy của Bộ luật dân sự về quan

hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài đang diễn ra hiện nay

Thứ hai, khẳng định trên cơ sở khoa học về mối quan hệ biện chứng

giữa chính sách ngoại giao rộng mở của Việt Nam với sự phát triển các giao ludân sự quốc tế, đặt tiền đề cho sự điều chỉnh các quan hệ này bằng phơngpháp xung đột, phù hợp với thông lệ quốc tế Thông qua đó, góp phần khẳng

định những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới đất nớc dới sự lãnh

đạo đúng đắn của Đảng ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ ba, khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa các quan hệ sở hữu,

quan hệ thừa kế, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nớc ngoài thông quayếu tố tài sản - yếu tố quan trọng nhất có giá trị chi phối và dễ làm phát sinhcác tranh chấp trong giao lu dân sự quốc tế Chính điều này góp phần tạo nênphơng pháp điều chỉnh riêng biệt của pháp luật dân sự trong mối tơng quan với

t pháp quốc tế, nhằm giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ dân sự có yếu

Trang 10

tố nớc ngoài Đồng thời, nó còn là tiền đề cho yêu cầu về việc hoàn thiện phápluật điều chỉnh các quan hệ đã lựa chọn.

Thứ t, làm rõ các luận điểm khoa học về cơ sở lý luận và thực tiễn của

pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nớc ngoài ở nớc ta hiện nay, đặcbiệt trong mối tơng quan với các quan hệ sở hữu, quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nớc ngoài Điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nớcngoài thực sự là vấn đề cấp bách Nhng từ khi Bộ luật dân sự đợc thông qua cho

đến nay, cha có công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề này

Thứ năm, khẳng định trên cơ sở khoa học về điều kiện bảo đảm thi

hành pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài theo hớng hội đủ ba loạiquy phạm pháp luật (tam quy): quy phạm luật xung đột, quy phạm luật nộidung và quy phạm luật thủ tục Chừng nào pháp luật còn thiếu một trongnhững loại quy phạm đó, thì chừng ấy việc thực hiện pháp luật về các quan hệdân sự có yếu tố nớc ngoài còn gặp nhiều khó khăn

Thứ sáu, khẳng định bản chất tiến bộ, dân chủ và ngày càng phù hợp

với thông lệ quốc tế của pháp luật dân sự Việt Nam điều chỉnh các quan hệdân sự có yếu tố nớc ngoài Thông qua đó, đề cao vai trò của pháp luật điềuchỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, góp phần ổn định các quan hệxã hội dân sự, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới đất nớc

Thứ bảy, làm rõ về sự cần thiết hoàn thiện và thực hiện quy chế pháp

lý dân sự đối với ngời nớc ngoài ở Việt Nam trên cơ sở chế độ đãi ngộ nhcông dân trong các quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ hôn nhân và gia

đình - chế độ pháp lý cao nhất dành cho ngời nớc ngoài đợc hởng Bên cạnh

đó, cũng cần tiến tới xóa bỏ những hạn chế, phân biệt đối với ngời Việt Nam ởnớc ngoài trong các lĩnh vực dân sự nói chung và trong quan hệ sở hữu, quan

hệ thừa kế, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận án gồm 3 chơng, 8 tiết

Trang 11

1.1.1 Về khái niệm "quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài"

Khái niệm "quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài" hiện vẫn còn là vấn đềgây tranh cãi, không chỉ trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, mà còn ở nhiều n-

ớc trên thế giới Điều đó đợc lý giải bởi thực tế cho thấy có sự khác nhau, thậmchí trái ngợc nhau, giữa những t tởng, quan điểm của các nhà khoa học, luật giathuộc các quốc gia với các hệ thống pháp luật khác nhau Sự khác nhau nàyxoay quanh các vấn đề về phạm vi (nội hàm) của khái niệm quan hệ dân sự cóyếu tố nớc ngoài, về cách thức xác định yếu tố nớc ngoài trong loại quan hệnày, về vị trí của nó là thuộc đối tợng điều chỉnh của ngành luật nào (luật dân

sự hay luật t pháp quốc tế) v.v Một trong các nguyên nhân dẫn đến nhữngquan điểm khác nhau thể hiện ở chỗ, tùy thuộc vào mục đích điều chỉnh củamỗi ngành luật, tùy thuộc vào ý đồ của nhà làm luật hay nói rộng ra là của giaicấp thống trị, mà có thể giải thích nó theo cách riêng có lợi cho quốc gia, bởisuy cho cùng, pháp luật "thể hiện ý chí của giai cấp nào đã giành thắng lợi vànắm trong tay mình chính quyền nhà nớc" [60, tr 306]

1.1.1.1 Về phạm vi của quan hệ dân sự

Để có thể hiểu khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, trớc hếtxin đề cập đôi chút đến khái niệm "quan hệ dân sự" Thế nào là quan hệ dân

sự, quan hệ dân sự là những quan hệ nào? Đây cũng là vấn đề gây tranh cãi

đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc Đơng nhiên, ai cũng cho rằng,quan hệ dân sự là đối tợng điều chỉnh của luật dân sự Nhng quan hệ dân sự

Trang 12

gồm những loại quan hệ nào, thì còn nhiều ý kiến khác nhau Tại các cuộc hộithảo, tọa đàm khoa học về việc sửa đổi Bộ luật dân sự, các chuyên gia NhậtBản thờng nhấn mạnh rằng, quan hệ dân sự là tất cả các quan hệ giữa con ngời(chủ yếu là cá nhân, pháp nhân) với nhau; còn các quan hệ giữa cá nhân vớiNhà nớc thì thuộc đối tợng điều chỉnh của luật công Song cũng có ý kiến chorằng, quan hệ dân sự phải hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm cả các quan hệhôn nhân và gia đình, lao động, thơng mại

Nói đến vấn đề này, không thể không nhắc đến sự phân loại pháp luậtthành "luật công" (công pháp - droit public) và "luật t" (t pháp - droit privé) ởnhiều nớc hiện nay Đối với đại đa số các nớc chia pháp luật thành luật công

và luật t (điển hình là Pháp, Italia, Cộng hòa Liên bang Đức và các nớc theo

hệ thống luật châu Âu - Civil Law), thì dân luật (luật dân sự) - cùng với luậtthơng mại, luật lao động - đợc xếp vào luật t [28, tr 153] Do đó, ở đây quan

hệ dân sự đợc hiểu là đối tợng điều chỉnh của luật t

Xét về mặt lịch sử nguồn gốc, từ dân sự, theo nhiều nhà nghiên cứu,vốn đợc lấy từ chữ civil trong Luật La Mã trớc đây Trong đế quốc La Mã, vì

có nhiều ngời ngoại quốc, nên để dễ phân biệt, ngời ta dùng jus civile để ápdụng cho công dân La Mã (đợc coi là cives) và dùng jus gentium để áp dụngcho ngời ngoại quốc (gens đợc hiểu là dân tộc ngoại bang) Luật La Mã thực

ra bao gồm cả công pháp và t pháp Cho nên sau này kể cả các khái niệm côngpháp quốc tế và t pháp quốc tế ngời ta cũng mợn luật La Mã để giải thích vềnguồn gốc ra đời [57, tr 12], [58, tr 42] Khái niệm yếu tố nớc ngoài trongquan hệ dân sự cũng đợc mợn gốc từ đây

Trên cơ sở đó, ngời ta dần dần đi đến chỗ phân biệt công pháp và tpháp Vào thế kỷ 16 - 17 ở Pháp đã nổi lên phong trào nghiên cứu luật La Mã.Ngời có công trong việc so sánh, đối chiếu giữa công pháp và t pháp phải kể

đến Domat - một luật gia Pháp "Trong cuốn Les lois civiles d' aprés leur ordrenaturel viết dới thế kỷ 17, Domat lần đầu đã đem đối chiếu dân luật (lois civiles),

Trang 13

hiểu theo nghĩa t pháp, với các luật về vơng-quốc (lois du royanme) quy định vềcách thức tổ chức nhà nớc, nghĩa là công pháp" [28, tr 162] Thuật ngữ dânluật (hay t pháp) về sau đợc sử dụng rộng rãi hơn, cho đến khi Napoleon banhành Bộ Dân luật Pháp (1804) và đợc coi nh "khuôn mẫu" cho nhiều nớc ápdụng

Nhng ở các nớc không có sự phân chia pháp luật thành luật công vàluật t (điển hình là Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây, cũng nh ViệtNam hiện nay), thì phạm vi quan hệ dân sự thờng đợc hiểu theo tính chất của

nó, tức là gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Đơng nhiên, không phảitất cả các quan hệ nhân thân cũng nh quan hệ tài sản giữa ngời với ngời đều

do luật dân sự điều chỉnh, mà "việc xác định quan hệ đó có phải là đối tợng

điều chỉnh của pháp luật dân sự hay không còn tùy thuộc vào các yếu tố: tínhchất của giao dịch đó, đặc trng của chủ thể khi tham gia giao dịch, quyền bình

đẳng và vấn đề tự do cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể trong giao dịch "[38, tr 16]

Vì vậy, về phạm vi các vấn đề thuộc Dân luật, cho đến nay vẫn có sựhiểu và giải thích (theo hai nghĩa rộng, hẹp) khác nhau Theo quan điểm của nhiềuluật gia Việt Nam, thì phạm vi quan hệ dân sự (đối tợng điều chỉnh của luậtdân sự) bao gồm "những nhóm quan hệ xã hội giữa ngời với ngời, phát sinhtrong cuộc sống hàng ngày Đó là: nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thânphát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lu thông, trao đổi, tiêu dùng nhằm thỏa mãn những nhu cầu mọi mặt của các chủ thể trong sản xuất, kinhdoanh hoặc trong sinh hoạt, tiêu dùng của đời sống xã hội" [38, tr.12] Nhvậy, khái niệm quan hệ dân sự ở đây đợc hiểu theo nghĩa khá rộng, songkhông trái với quy định tại Điều 1 của Bộ luật dân sự 1995 (chủ yếu bao gồmcác quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân) Phạm vi quan hệ tài sản - đối tợng

điều chỉnh của luật dân sự - cũng rất phong phú, là "quan hệ giữa ngời với

ng-ời thông qua một tài sản nhất định nh t liệu sản xuất, t liệu tiêu dùng hoặc các

Trang 14

quyền về tài sản" [38, tr 13] Còn phạm vi quan hệ nhân thân - đối tợng điềuchỉnh của luật dân sự - "là những quan hệ mà theo khoa học luật dân sự đợchình thành từ một giá trị tinh thần của một cá nhân hoặc một tổ chức và luôngắn liền với cá nhân hoặc tổ chức đó" [38, tr 17]

Từ những phân tích trên đây, có thể đi đến nhận định rằng, khái niệm

"quan hệ dân sự", theo quan điểm của đông đảo các luật gia, nhà nghiên cứukhoa học pháp lý của Việt Nam, đợc hiểu tơng đối thống nhất là các quan hệgiữa con ngời với nhau trong cuộc sống hàng ngày, các quan hệ về đời sống, sinhhoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất, kinh doanh trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, tự do

ý chí [38, tr 8] Theo quan điểm này, thì việc coi các quan hệ hôn nhân và gia

đình là quan hệ dân sự cũng hoàn toàn có cơ sở Vì vậy, nhiều nớc đa các quan

hệ hôn nhân và gia đình vào Bộ luật dân sự (Pháp, Nhật Bản, Canada ), songcũng có nớc đa vào một đạo luật riêng (Việt Nam, Trung Quốc, Nga ) Song,

dù để ở đâu, thì các quan hệ hôn nhân và gia đình cũng là quan hệ dân sự (cótính chất dân sự) và thuộc đối tợng điều chỉnh của luật t

ở Việt Nam không có sự phân chia pháp luật thành luật công và luật t

Sự phân chia các ngành luật vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi Ngay cả phạm vicủa ngành luật dân sự Việt Nam cũng vẫn có những quan điểm không thốngnhất Các quan hệ hôn nhân và gia đình, tuy đợc điều chỉnh bằng một đạo luậtriêng (năm 1959, 1986, 2000), song trên các mức độ nhất định, vẫn đợc Bộluật dân sự điều chỉnh (các điều 35, 36, 37, 38, 39, 40, 57, 58, 59), tuy chỉ là

sự điều chỉnh có tính nguyên tắc

Rõ ràng là, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các quan hệ dân sựngày càng có vai trò quan trọng trong thực tiễn đời sống xã hội Do đó, "việc

điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính chất đặc trng là cần thiết và phải có sự

điều chỉnh bằng pháp luật đối với các nhóm quan hệ xã hội đó Đây là mộtvấn đề không thể thiếu trong một nền kinh tế hàng hóa" [38, tr 8] Đó còn

đồng thời là cơ sở để thực hiện mục đích duy trì, phát triển quan hệ xã hội

Trang 15

trong các lĩnh vực tài sản, nhân thân và quan trọng hơn là duy trì một trật tựpháp lý trong trao đổi hàng hóa, bảo đảm cho hoạt động của các chủ thể đợctiến hành bình thờng, với sự bảo hộ cần thiết của Nhà nớc trong những trờnghợp nhất định

1.1.1.2 Về việc xác định "yếu tố nớc ngoài" trong quan hệ dân sự

Ngày nay, các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng, trong lịch sử tồntại và phát triển của xã hội loài ngời, ngoài những mối quan hệ phát sinh trongnội bộ dân c của một quốc gia, thì còn tồn tại và phát sinh nhiều mối quan hệkhác vợt ra khỏi phạm vi nội bộ dân c của một quốc gia, đòi hỏi phải đợc phápluật điều chỉnh Đó là các quan hệ giữa những ngời thuộc các quốc tịch khácnhau, hoặc các quan hệ của công dân nớc này phát sinh trên lãnh thổ nớc kialiên quan đến việc mua bán tài sản, giao kết hợp đồng, hôn nhân và gia đình,thừa kế, lao động v.v Đây là các quan hệ có yếu tố nớc ngoài

Nh vậy, thuật ngữ yếu tố nớc ngoài (foreign elements) đợc ghép vớithuật ngữ quan hệ dân sự, thành "quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài" Vậy,làm thế nào để xác định đợc yếu tố nớc ngoài trong một quan hệ dân sự cụthể? Mục đích của việc xác định yếu tố nớc ngoài trong quan hệ dân sự để làmgì? Hệ quả của việc áp dụng pháp luật đối với quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài khác với việc áp dụng pháp luật đối với quan hệ dân sự thông thờng ởchỗ nào? Đây là những vấn đề khá phức tạp về mặt lý luận mà cho đến nayvẫn còn nhiều ý kiến khác nhau

Trớc hết, cần phân biệt hai thuật ngữ "yếu tố nớc ngoài" và "nhân tố

n-ớc ngoài" mà trong các công trình nghiên cứu hoặc trong một số văn bản phápluật của Việt Nam đã từng sử dụng (nh Thông t số 11/TATC ngày 12 tháng 7năm 1974 của Tòa án nhân dân tối cao hớng dẫn một số vấn đề về nguyên tắc

và về thủ tục trong việc giải quyết những việc ly hôn có nhân tố nớc ngoài)

Nếu sử dụng thuật ngữ nhân tố nớc ngoài, chữ nhân theo nghĩa Hán-Việt đợc

hiểu là ngời (), thì có thể dẫn đến việc hiểu ý nghĩa của thuật ngữ này chỉ

Trang 16

theo nghĩa hẹp, tức là khi quan hệ dân sự có ngời nớc ngoài tham gia Còn sửdụng thuật ngữ yếu tố nớc ngoài, thì dẫn đến cách hiểu với đầy đủ ý nghĩahơn.

Hiện nay, quan điểm tơng đối thống nhất của các luật gia trong vàngoài nớc đều cho rằng, khi quan hệ dân sự thuộc một trong các trờng hợp sau

đây thì đợc coi là quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài: thứ nhất, khi trong quan

hệ đó có ngời nớc ngoài hoặc pháp nhân nớc ngoài tham gia; thứ hai, khi căn

cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nớcngoài; thứ ba, khi tài sản liên quan đến quan hệ đó tồn tại ở nớc ngoài Nhvậy, quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài có thể là quan hệ dân sự thuộc một,hai hoặc cả ba trờng hợp đó

Việc xác định yếu tố nớc ngoài trong quan hệ dân sự ở trờng hợp thứnhất là dựa vào yếu tố quốc tịch của chủ thể (là ngời nớc ngoài hoặc phápnhân nớc ngoài) Khái niệm pháp nhân ở đây có thể hiểu theo nghĩa rộng, tức

là bao gồm cả Nhà nớc Xét về mặt lý thuyết, thì Nhà nớc cũng có thể thamgia vào một số quan hệ dân sự trong trờng hợp đặc biệt (chẳng hạn Nhà nớc làngời hởng thừa kế đối với tài sản của công dân mình ở nớc ngoài trong trờnghợp ngời đó chết không để lại di chúc, không còn ai thừa kế theo pháp luật)

Trong trờng hợp thứ hai, yếu tố nớc ngoài đợc xác định dựa vào nơixảy ra căn cứ pháp lý (sự kiện pháp lý) làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan

hệ dân sự ở nớc ngoài, thực chất là dựa vào nơi xảy ra hành vi pháp lý Chẳnghạn, khi hai công dân Việt Nam giao kết với nhau hợp đồng dân sự trên lãnhthổ Pháp, làm phát sinh quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nớc ngoài Còntrong trờng hợp thứ ba, yếu tố nớc ngoài đợc xác định dựa vào nơi tồn tại tàisản (nơi có vật) ở nớc ngoài liên quan đến quan hệ dân sự Chẳng hạn, haicông dân Việt Nam ly hôn với nhau tại Tòa án Việt Nam, nhng vào thời điểm

ly hôn họ có tài sản chung ở nớc ngoài

Trang 17

Xét về mặt bản chất, quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài cũng là quan hệdân sự, song nó khác cơ bản so với quan hệ dân sự thông thờng (không có yếu tốnớc ngoài) là ở chỗ, khi phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, thì luôndẫn đến hiện tợng xung đột pháp luật; còn khi phát sinh quan hệ dân sự thông th-ờng, thì không có xung đột pháp luật Đối với các quan hệ dân sự không thuộc tr-ờng hợp nào trong ba trờng hợp nêu trên, thì về nguyên tắc chỉ cần một hệ thốngpháp luật điều chỉnh là đủ Chẳng hạn, đối với các quan hệ dân sự giữa công dânViệt Nam với nhau phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam, thì chỉ cần áp dụng phápluật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ đó ở đây hoàn toàn không có yếu tố nớcngoài và vì vậy không có hiện tợng xung đột pháp luật.

Nh vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài

và quan hệ dân sự thông thờng là ở chỗ, quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài luôndẫn đến hiện tợng xung đột pháp luật Trớc hiện tợng này, câu hỏi thờng đợc đặt

ra là: áp dụng pháp luật của nớc nào để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài phát sinh? Nhiệm vụ phức tạp đặt ra đối với Tòa án là có thể phải áp dụngcả hai hệ thống pháp luật khác nhau để giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan

đến quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, đặc biệt khi các hệ thống pháp luật nàylại có nội dung khác nhau, thậm chí xung đột với nhau Phải lựa chọn áp dụng hệthống pháp luật nào trong số các hệ thống pháp luật có liên quan, đó luôn là câuhỏi đặt ra khi xuất hiện quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài Về vấn đề này, quan

điểm thống nhất của các luật gia hiện nay là, một quan hệ dân sự liên quan đếnbao nhiêu nớc, thì có bấy nhiêu hệ thống pháp luật của các nớc đều có thể đợc ápdụng Đây là vấn đề mấu chốt, nhng phức tạp nhất khi nghiên cứu về bản chấtcủa quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài

Điều cần lu ý, khi đứng trên quan điểm lựa chọn pháp luật áp dụng đốivới quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, thì điều cần thiết là phải phân biệtmột số trờng hợp phát sinh quan hệ dân sự, tuy có liên quan đến yếu tố nớcngoài (hay yếu tố quốc tế), nhng xét về bản chất thì lại không phải là quan hệ

Trang 18

dân sự có yếu tố nớc ngoài và đơng nhiên không dẫn đến hiện tợng xung độtpháp luật Chẳng hạn, khi hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Cơquan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự Việt Nam ở nớc ngoài, thì đâykhông phải là quan hệ kết hôn có yếu tố nớc ngoài, vì không dẫn đến hiện t-ợng xung đột pháp luật (chỉ áp dụng một hệ thống pháp luật Việt Nam điềuchỉnh đối với quan hệ này là đủ).

Tóm lại, việc xác định có hay không có yếu tố nớc ngoài trong quan

hệ dân sự là vấn đề khá phức tạp, xét dới góc độ chuyên môn, nhng là vấn đềrất quan trọng Ngoài mục đích tìm cho nó phơng pháp điều chỉnh thích hợp,thì việc xác định yếu tố nớc ngoài trong quan hệ dân sự còn giúp cho việc lựachọn một hệ thống pháp luật áp dụng tơng ứng, trên cơ sở dẫn chiếu của quyphạm xung đột, nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong điều kiện giao ludân sự ngày càng có xu hớng gia tăng đối với mỗi quốc gia

1.1.2 Khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác ở Việt Nam

Nếu dựa vào ba căn cứ quan trọng trên đây để xác định yếu tố nớc ngoàitrong quan hệ dân sự, thì có thể nói, từ năm 1995 trở về trớc, tức là trớc khiQuốc hội thông qua Bộ luật dân sự, khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài cha đợc quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật của nớc ta Mặc dùthực tiễn cho thấy, có những quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài thực sự đãphát sinh và đợc pháp luật điều chỉnh, nhất là các quan hệ hôn nhân và gia

đình Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có ba điều (Điều 52, Điều 53 và

Điều 54) quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình của công dân Việt Namvới ngời nớc ngoài Điều 52 quy định về việc giải quyết xung đột pháp luật đốivới quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với ngời nớc ngoài; Điều 53 giaothẩm quyền cho Hội đồng Nhà nớc (nay là ủy ban Thờng vụ Quốc hội) quy

định những vấn đề về quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ vàcon, hủy việc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi và đỡ đầu giữa công dân Việt

Trang 19

Nam với ngời nớc ngoài; Điều 54 quy định về nguyên tắc áp dụng Hiệp định

t-ơng trợ t pháp về hôn nhân và gia đình Nh vậy, Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1986 không quy định về khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nớc ngoài

Ngày 02/12/1993 ủy ban Thờng vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh hônnhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với ngời nớc ngoài Nhng nh tên gọicủa nó, Pháp lệnh chỉ điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dânViệt Nam với ngời nớc ngoài, cha điều chỉnh một cách toàn diện các quan hệhôn nhân và gia đình có yếu tố nớc ngoài Trong Pháp lệnh này cũng không cóquy định về khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nớc ngoài

Kể từ năm 1995 trở lại đây, khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài chính thức đợc quy định trong Bộ luật dân sự (Điều 826, Phần thứ bảy),với nội dung nh sau: "Trong Bộ luật này quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài

đợc hiểu là các quan hệ dân sự có ngời nớc ngoài, pháp nhân nớc ngoài thamgia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nớcngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nớc ngoài"

Nh vậy, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp của Việt Nam, khái niệmquan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài đợc quy định một cách rõ ràng thành một

điều luật Việc pháp luật Việt Nam quy định cụ thể, rõ ràng về khái niệm này,một mặt tạo cơ sở để xác định phạm vi các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài,mặt khác thể hiện sự thừa nhận về mặt pháp lý trách nhiệm của Nhà nớc ViệtNam trong việc bảo hộ và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ dân sự có yếu tố n-

ớc ngoài phát triển một cách bình thờng, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản đợckhẳng định tại Chơng I (từ Điều 1 đến Điều 15) của Bộ luật dân sự

Từ đó đến nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu về khái niệm quan hệ dân sự

có yếu tố nớc ngoài có phần dễ dàng, thuận lợi hơn Trong một số công trìnhnghiên cứu khoa học, giáo trình (Luật dân sự, T pháp quốc tế ) khái niệm này

đợc nhiều tác giả khai thác tìm hiểu dới các khía cạnh khác nhau Nhng không

Trang 20

phải tất cả các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau xungquanh việc đa ra các dấu hiệu để xác định yếu tố nớc ngoài trong quan hệ dân

sự Nhng tựu trung lại có thể nói, đại đa số các tác giả đều xuất phát từ ba dấuhiệu cơ bản (nh đã nêu trên) khi tiếp cận khái niệm này, tức là chủ yếu xét vềmặt hình thức thể hiện của quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài

Trên tinh thần đó, việc tìm tòi một cách thức tiếp cận mới khi phântích về khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, dới khía cạnh lý luậncủa luật dân sự kết hợp với t pháp quốc tế, trên cơ sở phơng pháp khoa học, làmột điều cần thiết Cách tiếp cận này đứng trên nhiều góc độ khác nhau, từ đórút ra những đặc trng cơ bản của khái niệm này, cũng nh những u điểm và cảnhững mặt tồn tại của khái niệm này, là hết sức có ý nghĩa về mặt lý luậncũng nh thực tiễn

Tuy nhiên, cũng phải nói rõ rằng, khái niệm quan hệ dân sự có yếu tốnớc ngoài, theo quy định tại Điều 826, chỉ là khái niệm hiểu theo nghĩa hẹp,phù hợp với đối tợng điều chỉnh của Bộ luật dân sự Còn nếu hiểu khái niệmquan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài theo nghĩa rộng (với tính cách là đối tợng

điều chỉnh của T pháp quốc tế), thì còn gồm nhiều quan hệ khác có tính chấtdân sự (liên quan đến dân sự) nh quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao

động, quan hệ tố tụng dân sự, quan hệ kinh tế - thơng mại có yếu tố nớcngoài

Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả không phân tích khái niệm quan

hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài theo nghĩa rộng, nh là đối tợng điều chỉnh của tpháp quốc tế Nhằm làm rõ về nội dung, ý nghĩa, những u điểm, cũng nh hạnchế xung quanh việc áp dụng khái niệm, tác giả chủ yếu phân tích khái niệmquan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài theo nghĩa hẹp, với tính cách là đối tợng

điều chỉnh của Bộ luật dân sự, đợc quy định tại Điều 826 Việc phân tích kháiniệm đợc tiếp cận từ nhiều phơng diện khác nhau để làm rõ hơn về nội dung

và ý nghĩa pháp lý của nó

Trang 21

1.1.2.1 Xét trên phơng diện lý luận về xác định yếu tố nớc ngoài

Phơng pháp tiếp cận khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoàitheo Điều 826 là hoàn toàn đúng, phù hợp với thông lệ ở nhiều nớc Nội dungcủa khái niệm này bao hàm đầy đủ ba dấu hiệu cần thiết để xác định yếu tố nớcngoài trong quan hệ dân sự Đó là: i) có ít nhất một bên chủ thể là ngời nớcngoài, pháp nhân nớc ngoài tham gia quan hệ đó; ii) căn cứ để xác lập, thay

đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nớc ngoài; và iii) tài sản liên quan đến quan

hệ đó ở nớc ngoài Chúng tôi cho rằng cách tiếp cận nh vậy là chuẩn xác, phùhợp với lý luận chung khi xác định yếu tố nớc ngoài trong quan hệ dân sự, đợcnhiều nớc thừa nhận Nội dung của Điều 826 đã bao hàm đầy đủ ba dấu hiệucần thiết để xác định yếu tố nớc ngoài trong quan hệ dân sự Điều cần lu ý là,chỉ cần có một trong ba dấu hiệu này là có thể kết luận quan hệ dân sự có yếu

tố nớc ngoài Do đó, các dấu hiệu này - theo Điều 826 - đợc liên kết với nhaubằng từ "hoặc", chứ không phải từ "và", là vì thế

Tuy nhiên, hiện nay vẫn có một số quan điểm khác cho rằng cần bổsung thêm dấu hiệu thứ t để xác định yếu tố nớc ngoài trong quan hệ dân sự.Dấu hiệu thứ t này, theo Tiến sĩ Đoàn Năng, là khi "có ít nhất một bên thamgia quan hệ xã hội c trú hay đặt trụ sở chính ở nớc ngoài" [31, tr 12] Theo tácgiả, cơ sở để dẫn đến dấu hiệu thứ t này, là do trong Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 (tại khoản 4 Điều 100) quy định "Chơng này cũng đợc áp dụng đốivới quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà mộtbên hoặc cả hai bên định c ở nớc ngoài", và tác giả cho rằng, "rất tiếc cho đếnnay, quan điểm này cha đợc thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật chuyênngành khác của Việt Nam" [31, tr 13]

Chúng tôi cho rằng, xét về mặt hình thức, nếu không chú ý đến vấn đềquốc tịch của chủ thể, thì việc xác định yếu tố nớc ngoài dựa trên dấu hiệu c trú(định c) ở nớc ngoài của cá nhân hoặc nơi đóng trụ sở ở nớc ngoài của phápnhân khi tham gia quan hệ dân sự, theo quan điểm của tiến sĩ Đoàn Năng, cũng

Trang 22

có cơ sở Tuy nhiên, xét về bản chất của vấn đề, thì quan điểm này có nhiềuchỗ cần làm rõ Nếu căn cứ vào nơi c trú của cá nhân (định c ở nớc ngoài)hoặc nơi đóng trụ sở của pháp nhân (ở nớc ngoài) để xác định yếu tố nớcngoài trong quan hệ dân sự, có thể sẽ dẫn đến những hậu quả khác nhau

Trớc hết, cũng phải thừa nhận rằng, một ngời c trú ở nớc ngoài hoặcpháp nhân đóng trụ sở trên lãnh thổ của nớc ngoài, về nguyên tắc, phải chịu sựràng buộc của hệ thống pháp luật nớc ngoài đó Nhng khi ngời đó về nớc (nơingời đó có quốc tịch) tham gia vào các quan hệ dân sự với công dân nớc mình,thì quan hệ đó có phải là quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài hay không, lại làvấn đề không đơn giản

Theo chúng tôi, dới khía cạnh giải quyết xung đột pháp luật, thì mục

đích của việc xác định có hay không có yếu tố nớc ngoài trong quan hệ dân sự là

để trả lời câu hỏi có hay không có hiện tợng xung đột pháp luật Từ đó xây dựngquy tắc làm cơ sở cho việc lựa chọn một hệ thống pháp luật thích hợp nhằm

điều chỉnh đối với quan hệ dân sự đó Nh đã nói, quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài luôn dẫn tới hiện tợng xung đột pháp luật Còn quan hệ dân sự không cóyếu tố nớc ngoài thì không dẫn tới xung đột pháp luật Trong trờng hợp công dânViệt Nam định c ở nớc ngoài về Việt Nam tham gia vào các quan hệ dân sựvới công dân Việt Nam ở trong nớc, thì quan hệ đó không có yếu tố nớc ngoài,dựa trên cơ sở Điều 826 Bộ luật dân sự Do vậy, ở đây không dẫn đến hiện tợngxung đột pháp luật Chỉ cần áp dụng một hệ thống pháp luật Việt Nam để điềuchỉnh quan hệ đó, chứ không cần áp dụng pháp luật của nớc nơi công dân ViệtNam định c Ví dụ, công dân Việt Nam định c tại Hoa Kỳ về Việt Nam kết hônvới công dân Việt Nam thờng trú ở trong nớc Trong trờng hợp này, nếu xét trênbình diện quốc tịch, thì cho thấy, vì hai bên chủ thể đều là công dân Việt Nam,nên cả hai đều phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn (Điều 9,

Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) Theo đó, đây chỉ là quan hệ kếthôn giữa công dân Việt Nam với nhau, nên không dẫn đến hiện tợng xung đột

Trang 23

pháp luật (không dẫn đến việc áp dụng pháp luật của Hoa Kỳ, nơi công dânViệt Nam định c, để xác định điều kiện kết hôn)

Do đó, quy định tại khoản 4 Điều 100 của Luật hôn nhân và gia đình, thựcchất không phải là một quy phạm xung đột có tính chất dẫn chiếu, mà nó chỉ làmột quy phạm hớng dẫn việc áp dụng tơng tự pháp luật để giải quyết vấn đề kếthôn (về thẩm quyền đăng ký kết hôn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, về thủ tục,trình tự đăng ký kết hôn nh giữa công dân Việt Nam với ngời nớc ngoài)

Nếu thống nhất cách hiểu nh trên, thì lẽ ra trong pháp luật không nên

có sự phân biệt đối với công dân Việt Nam ở trong nớc với công dân ViệtNam định c ở nớc ngoài (hai loại công dân) khi tham gia vào quan hệ kết hôn,chỉ nên áp dụng chung đối với họ một thủ tục đăng ký kết hôn Nhng trong

điều kiện của Việt Nam hiện nay lại cha làm đợc nh vậy Một mặt do trình độ,năng lực công tác của cán bộ cơ sở (cấp xã, phờng) còn nhiều hạn chế, mặtkhác là vì lý do an ninh, cho nên pháp luật quy định áp dụng cho công dânViệt Nam định c ở nớc ngoài các thủ tục giống nh đối với ngời nớc ngoài.Chúng tôi cho rằng, đây là một sự bất hợp lý, trong tơng lai, nên xóa bỏ sựphân biệt này để bảo đảm một khung pháp lý thống nhất

Nh vậy, dới khía cạnh xung đột pháp luật, thì lẽ ra khái niệm "quan hệdân sự có yếu tố nớc ngoài" (Điều 826) phải đợc coi là cơ sở pháp lý thenchốt, có giá trị áp dụng chung để xác định yếu tố nớc ngoài trong tất cả cácquan hệ dân sự (theo Bộ luật dân sự) Đó là điều có ý nghĩa về mặt lý luận khixây dựng các hệ thuộc xác định pháp luật áp dụng nhằm giải quyết xung độtpháp luật đối với tất cả các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài phát sinh Nh-

ng thực tế lại không phải nh vậy, bởi trong Phần thứ bảy còn thiếu nhiều chế

định dân sự có yếu tố nớc ngoài Nhng dù sao, cách tiếp cận có tính khoa họcnày cũng đã đợc vận dụng để xây dựng khái niệm quan hệ hôn nhân và gia

đình có yếu tố nớc ngoài trong Luật hôn nhân và gia đình (theo khoản 14 Điều

8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Trang 24

Nhiều nớc có hẳn một đạo luật riêng về t pháp quốc tế (hoặc luật xung

đột) điều chỉnh tất cả các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nớc ngoài.Chúng ta đều biết, đặc trng của ngành luật t pháp quốc tế là giải quyết xung độtpháp luật, tức là chỉ ra một hệ thống pháp luật áp dụng nhằm điều chỉnh quan hệdân sự có yếu tố nớc ngoài phát sinh Trong điều kiện không xây dựng một đạoluật riêng về t pháp quốc tế, thì việc giải quyết xung đột pháp luật đối với cácquan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, thông qua các quy phạm xung đột đợc banhành tại Phần thứ bảy Bộ luật dân sự, là một thành tựu lớn trong công tác lậppháp của Nhà nớc ta ở đây đã có sự vận dụng nhuần nhuyễn những quan điểm

lý luận và thực tiễn cơ bản của t pháp quốc tế trong việc xây dựng cơ chế điềuchỉnh đặc thù đối với quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài Tuy nhiên, để các quyphạm xung đột có hiệu lực thi hành trên thực tế (khi dẫn chiếu đến việc áp dụngmột hệ thống pháp luật nhất định), thì trớc hết, phải hoàn thiện hệ thống phápluật nội dung, kể cả luật thủ tục Chừng nào pháp luật nội dung và luật thủ tụccha hoàn thiện, thì việc áp dụng pháp luật còn gặp nhiều khó khăn và chính điềunày sẽ làm hạn chế hiệu lực của quy phạm xung đột Do đó, xét trên phơng diện

lý luận về điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, chính điểm này đã thểhiện khá rõ mối quan hệ giữa t pháp quốc tế và luật dân sự

Trong điều kiện của Việt Nam, việc xây dựng "lồng ghép" các quyphạm xung đột (nhằm giải quyết xung đột pháp luật) trong các văn bản phápluật chuyên ngành (nh Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật thơngmại ), lại là điều phù hợp và có ý nghĩa quan trọng

Trang 25

Trên cơ sở Điều 826, nếu hiểu theo phạm vi hẹp, quan hệ dân sự cóyếu tố nớc ngoài, phải bao gồm toàn bộ các quan hệ dân sự đợc Bộ luật dân sự

điều chỉnh Nhng phạm vi các quan hệ này chủ yếu lại chỉ bao gồm các quan

hệ đợc giới hạn trong Phần thứ bảy của Bộ luật dân sự Điều đó cũng có nghĩa

là, nếu trong Phần thứ bảy không đề cập đến, thì không thể có cơ sở để ápdụng Đây cũng là sự đặc thù trong cơ chế điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu

tố nớc ngoài theo Phần thứ bảy, tạo nên sự khác nhau trong việc giải thíchkhái niệm này dới góc độ luật dân sự với t pháp quốc tế

Nếu hiểu theo nghĩa rộng, dới khía cạnh t pháp quốc tế, các quan hệdân sự có yếu tố nớc ngoài phải bao gồm toàn bộ các quan hệ có liên quan đếndân sự có yếu tố nớc ngoài nh quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao

động, quan hệ kinh tế - thơng mại Nhng trong Phần thứ bảy của Bộ luật dân

sự không bao gồm các quan hệ đó Bởi các quan hệ hôn nhân và gia đình cóyếu tố nớc ngoài đợc điều chỉnh trong Luật hôn nhân và gia đình; quan hệ thơngmại có yếu tố nớc ngoài đợc điều chỉnh trong Luật thơng mại; quan hệ đầu t, sảnxuất, kinh doanh của nhà đầu t nớc ngoài đợc điều chỉnh trong Luật đầu t nớcngoài tại Việt Nam; quan hệ lao động có yếu tố nớc ngoài đợc điều chỉnhtrong Bộ luật lao động; quan hệ vận chuyển hàng hóa, hành khách có yếu tố n-

ớc ngoài thì đợc điều chỉnh trong Luật hàng không dân dụng Việt Nam và Bộluật hàng hải; quan hệ tố tụng dân sự quốc tế đợc điều chỉnh trong Pháp lệnhthủ tục giải quyết các vụ án dân sự v.v

Do vậy, trên phơng diện lập pháp cho thấy, với khái niệm quan hệ dân

sự có yếu tố nớc ngoài quy định tại Điều 826, đã làm cho Phần thứ bảy của Bộluật dân sự trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của T pháp quốc tế ViệtNam, là nguyên tắc nền tảng nhằm xác định yếu tố nớc ngoài trong quan hệxã hội đợc điều chỉnh bằng phơng pháp xung đột

Với ý nghĩa đó và với t cách "luật gốc", thì lẽ ra quy định tại Điều 826phải đợc coi là cơ sở "khuôn mẫu" cho việc xác định yếu tố nớc ngoài trong các

Trang 26

quan hệ có tính chất dân sự Nhng đáng tiếc, quan điểm này lại cha đợc thừanhận Nhiều ý kiến cho rằng, đây chính là điểm khác nhau giữa luật dân sự vàluật t pháp quốc tế Đành rằng về mặt lý luận, thì không thể đánh đồng luậtdân sự và luật t pháp quốc tế Nhng trên phơng diện điều chỉnh pháp luật, đặcbiệt là trên căn cứ xác định yếu tố nớc ngoài, thì ở đây có những điểm chung

mà chúng ta cần làm rõ

Trớc hết, nếu chúng ta thống nhất quan điểm cho rằng, Bộ luật dân sựphải là "luật gốc", "luật mẹ", thì chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng quy địnhtại Điều 826 để xác định yếu tố nớc ngoài trong nhiều quan hệ có tính chấtdân sự nh đã nêu trên đây, trong trờng hợp các đạo luật chuyên ngành không

có quy định Nh vậy, thì lẽ ra phải có quy định cho phép áp dụng các dấu hiệucủa khái niệm này để xác định yếu tố nớc ngoài trong các quan hệ đó Nóicách khác, nếu trong các đạo luật chuyên ngành không quy định, thì có thể ápdụng quy định của Bộ luật dân sự để xác định yếu tố nớc ngoài trong các quan

hệ đó Đây là quan điểm đợc hầu hết các thành viên Ban soạn thảo Bộ luật dân

sự (sửa đổi) thống nhất

Nhng trong Phần thứ bảy của Bộ luật dân sự hiện nay lại không có quy

định nh vậy Cho nên trên thực tế, khi phát sinh một quan hệ (có tính chất dân

sự hoặc liên quan đến dân sự) có yếu tố nớc ngoài, chúng ta không thể việndẫn quy định tại Điều 826 để giải thích

Mặt khác, trên phơng diện điều chỉnh pháp luật, thì lẽ ra cũng phải cóquy định ngoại lệ, nhằm không áp dụng các dấu hiệu nói tại Điều 826 của Bộluật dân sự để xác định yếu tố nớc ngoài trong các loại quan hệ có tính chấtcông (trong lĩnh vực hình sự, hành chính), bởi xét về bản chất thì các quan hệnày không đợc điều chỉnh bằng phơng pháp xung đột Bởi thế, hậu quả đángtiếc xảy ra là, khi thuật ngữ yếu tố nớc ngoài bị sử dụng trong lĩnh vực hànhchính và hình sự (là các lĩnh vực vốn không đợc thừa nhận có xung đột phápluật), đã gây nên sự hiểu nhầm đáng tiếc

Trang 27

Tóm lại, xét trên phơng diện lập pháp, khái niệm quan hệ dân sự cóyếu tố nớc ngoài quy định tại Điều 826 không chỉ có ý nghĩa trong việc xác

định đối tợng điều chỉnh của Phần thứ bảy Bộ luật dân sự, mà còn có thể đợccoi là cơ sở pháp lý nhằm xác định yếu tố nớc ngoài trong các quan hệ dân sựtheo nghĩa rộng - đối tợng điều chỉnh của T pháp quốc tế Việt Nam Đây là vấn

đề rất quan trọng về mặt lý luận và có ý nghĩa đối với việc xác định vị trí củangành luật t pháp quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay Về vấn đềnày, vì cha hiểu rõ mục đích quy định tại Điều 826, cũng nh mối quan hệ giữaluật dân sự và t pháp quốc tế, cho nên một số ý kiến cho rằng t pháp quốc tế là

"cái đuôi kéo dài" của luật dân sự Trong khi đó, cũng có ý kiến cho rằng t phápquốc tế là một liên hệ thống pháp luật (giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốcgia); trong khi đa số các ý kiến khác thì thống nhất cho rằng "t pháp quốc tế làmột ngành thuộc hệ thống pháp luật quốc gia" [30, tr 24-25] Đây cũng đồngthời là ý kiến của các chuyên gia Nhật Bản

1.1.2.3 Xét trên phơng diện thực hiện pháp luật

Lẽ ra, quy định tại Điều 826 phải đợc xem nh là "công thức pháp lý"giúp cho Thẩm phán và cán bộ t pháp đi đến quyết định về việc áp dụng một

hệ thống pháp luật nhất định, trên cơ sở dẫn chiếu của quy phạm xung đột tạiPhần thứ bảy, nhằm giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nớc ngoài phátsinh Bởi ở đây, khi xuất hiện yếu tố nớc ngoài trong quan hệ dân sự, tức làxuất hiện nhu cầu phải lựa chọn một trong số các hệ thống pháp luật liên quan

để điều chỉnh quan hệ đó Nhng thực tế cho thấy, lợi thế này lại rất ít đợc khaithác, thậm chí trong trờng hợp luật gia muốn khai thác nó, nhng gặp phảinhiều khó khăn, bởi trong Phần thứ bảy còn thiếu quá nhiều quy phạm xung

đột mà lẽ ra đã phải đợc quy định một cách đầy đủ (nh quy phạm xung đột vềvấn đề mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích, tuyên bốchết, đặc biệt các vấn đề về thừa kế có yếu tố nớc ngoài)

Trang 28

Mặt khác, trong Phần thứ bảy còn thiếu quy phạm có tính mệnh lệnh(jus congens), có tính chất ràng buộc chung Đó cũng là một trong các nguyênnhân dẫn đến hiện tợng Tòa án và các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền củaViệt Nam khi giải quyết những vụ việc dân sự có yếu tố nớc ngoài, thờng chỉ

áp dụng (và dựa vào) pháp luật Việt Nam, hầu nh rất hãn hữu - nếu khôngmuốn nói là cha bao giờ - áp dụng pháp luật nớc ngoài, mặc dù đã đợc quyphạm xung đột dẫn chiếu tới Vì thế, ý nghĩa thực tiễn của khái niệm quan hệdân sự có yếu tố nớc ngoài theo Điều 826, dới khía cạnh thực hiện pháp luật,

bị hạn chế nhiều, cha phát huy đợc hiệu lực trong hoạt động xét xử của Tòa

án Ngời ta chỉ khai thác nội dung của khái niệm này trên phơng diện lýthuyết, chủ yếu nhằm phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy về Tpháp quốc tế

1.1.2.4 Xét về tính chất và phạm vi điều chỉnh của quy phạm pháp luật

Điều 826 phải đợc xem nh một quy định chung, có tính nguyên tắc,

điều chỉnh trên phạm vi rộng đối với mọi quan hệ dân sự (do Bộ luật dân sự

điều chỉnh) có yếu tố nớc ngoài Song thực tế, nó lại bị giới hạn trong phạm vihẹp của các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài trong Phần thứ bảy của Bộluật dân sự Do đó đã không thể hiện, phản ánh đợc hết các nội dung hàmchứa trong khái niệm này khi liên hệ đến các chế định khác của Bộ luật dân

sự Một số quan hệ dân sự phổ biến đã không đợc quy định trong phần này(nh quan hệ thừa kế), hoặc tuy đợc quy định nhng lại không đợc cụ thể hóa, triểnkhai thực hiện đầy đủ trên thực tế (nh quan hệ sở hữu), vô hình chung đã làmcho phần này trở nên "chơi vơi, lạc lõng" trong tổng thể các chế định dân sựtruyền thống đợc Bộ luật dân sự điều chỉnh một cách khá toàn diện

Mặt khác, việc đa ra một số hệ thuộc làm căn cứ xác định pháp luật ápdụng đối với từng quan hệ dân sự cụ thể có yếu tố nớc ngoài mới chỉ đơnthuần là một sự "lắp ghép công thức" các hệ thuộc thông dụng của t pháp quốc

Trang 29

tế đã đợc nhiều nớc công nhận, mà không đợc cụ thể hóa, "dân sự hóa", giảithích và hớng dẫn cặn kẽ hay liên hệ tới các đặc thù của Việt Nam, ít nhất làtrong mối liên hệ với các Hiệp định tơng trợ t pháp mà Việt Nam đã ký kết.

Điều đó khiến cho việc thực hiện, áp dụng pháp luật càng gặp nhiều khó khăn,thậm chí không thực hiện đợc Đó là nguyên nhân làm hạn chế một cách rõ rệthiệu quả của các quy phạm xung đột trong Phần thứ bảy Bộ luật dân sự

1.1.2.5 Xét trên phơng diện hiệu lực của một đạo luật

Qua nghiên cứu cho thấy, quy định tại một số điều trong phần chungcủa Bộ luật dân sự (Điều 15, Điều 17 ) dờng nh không thể áp dụng đợc đểgiải thích đối với nội dung của Phần thứ bảy, bởi ngay trong mỗi quy định cụthể của các chế định ở phần này lại đa ra những ngoại lệ bằng công thức "trừtrờng hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật có quy định khác" Chính

điều này, vô hình chung đã biến các quy phạm xung đột chỉ còn giá trị trên lýthuyết, thậm chí trở thành "bài toán đố" đối với Tòa án trong trờng hợp quyphạm dẫn chiếu đến việc áp dụng ngay chính pháp luật Việt Nam Bởi chúng

ta còn thiếu quá nhiều quy phạm pháp luật nội dung (luật thực định), nhất làcác quy phạm pháp luật về sở hữu và thừa kế có yếu tố nớc ngoài tại Việt Namliên quan đến bất động sản

Tựu trung lại, thông qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá về kháiniệm quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài từ nhiều phơng diện khác nhau, cóthể nhận định rằng, việc đa ra khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài,

về cơ bản cha đạt đợc kết quả nh nhà làm luật mong muốn, mặc dù nội dungcủa nó là hoàn toàn phù hợp với lý luận chung về giải quyết xung đột pháp luật

đợc nhiều nớc thừa nhận, nhng trên thực tế lại rất ít nớc quy định nó thành một

điều luật cụ thể (Luật T pháp quốc tế của Liên bang Thụy Sĩ 18/12/1987, Luật

T pháp quốc tế của Cộng hòa Liên bang Đức sửa đổi ngày 25/7/1986, Luật Tpháp quốc tế của Nhật Bản 1898 đều không có điều khoản nào trực tiếp quy

định về khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài)

Trang 30

Vì vậy, quy định tại Điều 826 chủ yếu chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết,vì nhiều lý do khác nhau, nên không phát huy đợc một cách đầy đủ vai tròtrong thực tiễn đời sống xã hội đã và đang phát sinh ngày càng nhiều các vấn

đề phức tạp liên quan đến các chế định dân sự quốc tế Theo cách hiểu của

Điều 826 mà chỉ dừng lại trong phạm vi các chế định dân sự có yếu tố nớcngoài bị bó hẹp có tính nguyên tắc trong Phần thứ bảy, thì không đủ cơ sở đểgiải quyết đối với các vấn đề phát sinh

1.1.3 Vị trí, tính chất và ý nghĩa của các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài trong tổng thể các quan hệ thuộc đối tợng điều chỉnh của pháp luật dân sự

Các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài ngày càng giữ vị trí quantrọng trong tổng thể các quan hệ xã hội thuộc đối tợng điều chỉnh của phápluật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng Trớc hết, về mặt lý luận, có thểkhẳng định rằng, chính sự xuất hiện yếu tố nớc ngoài trong các quan hệ dân

sự, đã đặt tiền đề cho sự ra đời phơng pháp điều chỉnh đặc thù đối với loạiquan hệ này là phơng pháp xung đột (hay còn gọi là phơng pháp gián tiếp) Kể

từ khi nớc ta thực hiện công cuộc đổi mới, thì yếu tố nớc ngoài đã xâm nhậpngày càng mạnh mẽ vào các quan hệ xã hội, nhất là các quan hệ dân sự Nhucầu lựa chọn phơng pháp điều chỉnh thích hợp đối với các quan hệ đó, vì thếcũng đợc chú trọng hơn

Nếu đặt ngợc vấn đề, tức là trong trờng hợp không xuất hiện yếu tố nớcngoài trong các quan hệ dân sự, thì đơng nhiên không có hiện tợng xung độtpháp luật và vì thế cũng không cần đến phơng pháp điều chỉnh đặc thù đối vớiloại quan hệ này Nhng nh đã phân tích ở trên, quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài là loại quan hệ phát sinh một cách khách quan, phù hợp với xu hớng pháttriển quan hệ giữa các quốc gia trong điều kiện mở rộng hợp tác quốc tế trên mọilĩnh vực Mặt khác, hiện tợng khác nhau trong pháp luật các nớc cũng là hiện t-

Trang 31

ợng tất yếu, phản ánh quy luật phát triển hết sức tự nhiên của xã hội loài ngờitrong điều kiện còn tồn tại nhà nớc Cho nên có thể nhận định rằng, chừng nào còntồn tại nhà nớc với các hệ thống pháp luật khác nhau, thì chừng đó còn tồn tạihiện tợng xung đột pháp luật Do đó nhu cầu lựa chọn pháp luật điều chỉnh đốivới các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài là điều cần thiết Vì thế, tùy thuộcvào trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, cũng nh mức độ điềuchỉnh của pháp luật, mà ở đó các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài thể hiện vaitrò và ý nghĩa của mình trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, có thể nổi trội hay bị

lu mờ bên cạnh các quan hệ xã hội khác đợc pháp luật điều chỉnh

Những năm gần đây, các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài phát sinhngày càng nhiều ở Việt Nam và ngày càng giữ vị trí quan trọng trong cơ chế điềuchỉnh pháp luật Tuy nhiên, trong điều kiện không có đạo luật riêng về t phápquốc tế, cũng nh cha thể áp dụng chung các quy định tại Phần thứ bảy để điềuchỉnh đối với mọi quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nớc ngoài, thì việcban hành các văn bản, quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh riêng đối với cácquan hệ liên quan đến dân sự có yếu tố nớc ngoài, phù hợp với từng lĩnh vựcchuyên ngành, là điều cần thiết, đã và đang dần dần đợc hoàn thiện

Cùng với việc ban hành pháp luật là việc xây dựng các thiết chế nhằmbảo đảm thi hành pháp luật cũng đợc Nhà nớc hết sức quan tâm Chẳng hạn

nh bắt đầu từ năm 1993, trên cơ sở Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa côngdân Việt Nam với ngời nớc ngoài, chúng ta đã từng bớc tăng cờng năng lực vàthẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nớc ngoài cho ủy bannhân dân cấp tỉnh, kết hợp với việc phân cấp cho ủy ban nhân dân cấp xã (từnăm 2003 theo Nghị định 68/2002), đã thực sự tạo ra một chuyển biến lớntrong công tác quản lý nhà nớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nớc ngoàinói riêng và đăng ký hộ tịch nói chung Các quy định pháp luật đã phản ánhkhá trung thành thực tiễn phát sinh những quan hệ hôn nhân và gia đình giữa

Trang 32

công dân Việt Nam với ngời nớc ngoài từ đầu những năm 90 thông qua việc

điều chỉnh kịp thời đối với các quan hệ đó

Nhận thức đợc vị trí đặc biệt của các quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, trong các năm qua, Chính phủ, các

Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã có nhiều cố gắng nhằm cụ thể hóa,hớng dẫn các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực này

ý nghĩa của quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài trong cơ chế điềuchỉnh pháp luật còn thể hiện ở chỗ, thông qua cơ chế điều chỉnh hết sức đặcthù (bằng phơng pháp giải quyết xung đột pháp luật), đã phản ánh khá rõ nétchính sách đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nớc ta trong quan hệ quốc tế.Qua đây có thể khẳng định rằng, phạm vi quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoàicàng rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thì cho thấymức độ ảnh hởng của chính sách đối ngoại của Nhà nớc đối với sự phát triểncủa các quan hệ dân sự quốc tế càng lớn Ngợc lại, nếu phạm vi quan hệ dân

sự có yếu tố nớc ngoài càng hẹp, thậm chí chỉ xuất hiện một số quan hệ trênmột số lĩnh vực nhất định, thì điều đó cũng phản ánh sự hạn chế nhất địnhtrong chính sách đối ngoại của Nhà nớc

Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp

tr-ớc đây, quan hệ ngoại giao của Việt Nam lúc đó (và các ntr-ớc xã hội chủ nghĩabấy giờ) chủ yếu chỉ duy trì với các nớc có cùng chế độ chính trị Cho nên cácquan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài cũng chỉ chủ yếu phát sinh giữa công dâncủa các nớc này với nhau Đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nớc ngoài nóiriêng, pháp luật các nớc, kể cả của Việt Nam lúc bấy giờ, điều chỉnh còn rất dèdặt (Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chỉ có ba điều 52, 53 và 54 quy địnhrất chung, có tính nguyên tắc về kết hôn giữa công dân Việt Nam với ngời nớcngoài) Thậm chí có nớc (nh Cộng hòa dân chủ Đức) còn thực hiện chế độ cấpphép trong việc kết hôn với ngời nớc ngoài

Trang 33

Thực tiễn của Afghanistan dới thời Taliban cũng cho thấy, trong khi

đất nớc này thực hiện chính sách ngoại giao "đóng cửa", thì các quan hệ dân

sự có yếu tố nớc ngoài cũng hầu nh không phát triển đợc, cộng với sự khe khắtcủa Đạo Hồi, nên hiện tợng phụ nữ Afghanistan kết hôn với ngời nớc ngoài là

điều không đợc chấp nhận

Khi quốc gia mở rộng các quan hệ đối ngoại, tạo điều kiện ủng hộ vàkhuyến khích các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài phát triển, thì cũng đồngnghĩa với việc quốc gia thừa nhận, tôn trọng và bảo hộ đối với các quyền và tự docơ bản của con ngời, trong đó có các quyền và nghĩa vụ dân sự của ngời nớcngoài Cho nên, xét về mặt lý luận, thì phạm vi và mức độ của quan hệ dân sự cóyếu tố nớc ngoài, một mặt nào đó, còn phản ánh chính sách tiến bộ về nhânquyền của quốc gia Đành rằng, sự thừa nhận và bảo hộ của quốc gia đối vớicác quyền và tự do cơ bản của con ngời còn tùy thuộc vào điều kiện phát triểnkinh tế - xã hội của quốc gia đó, không thể so sánh một cách máy móc với quốcgia khác Nhng điều căn bản là ở chỗ, quốc gia phải xác định đợc trách nhiệmbảo hộ các quyền đó của công dân, nhất là khi các quyền của công dân bị viphạm trên lãnh thổ nớc ngoài Thực tế cho thấy, trên một số quyền con ngời cơbản (nh quyền dân sự, chính trị), quốc gia không chỉ thừa nhận mà còn cótrách nhiệm bảo hộ khi quyền đó của công dân bị vi phạm một cách nghiêmtrọng ở nớc ngoài Vì thế, hiệu quả của chính sách và biện pháp bảo hộ côngdân còn phản ánh rõ nét mức độ gắn kết giữa công dân và Nhà nớc trong quan hệqua lại đối với nhau Trong xu hớng mở rộng thừa nhận các quyền dân sự cơbản, trong đó có các quyền rất thiết thực gắn bó với con ngời từ lúc sinh ra(nh quyền sở hữu tài sản) cho đến khi ngời ta chết (làm phát sinh quyền thừakế), thì một mặt đòi hỏi quốc gia phải có đủ các quy phạm pháp luật để điềuchỉnh nó, mặt khác phải có các thiết chế hữu hiệu để bảo đảm thi hành, cũng

nh bảo hộ các quyền đó của công dân trong trờng hợp cần thiết

Trang 34

Thông qua việc ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật

điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, càng thấy rõ hơn mức độ thể chếhóa các chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc đối với ngời nớc ngoài vàngời Việt Nam định c ở nớc ngoài Nói cách khác, từ thực tiễn phát sinh ngàycàng nhiều các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, trong đó có những quan hệ

đã đợc pháp luật điều chỉnh, song cũng có những quan hệ cha đợc pháp luật điềuchỉnh, càng thấy rõ hơn sự bất cập trong cơ chế điều chỉnh pháp luật và yêu cầuphải hoàn thiện trong tình hình hiện nay Về vấn đề này, chúng tôi muốn lựachọn yếu tố quyền tài sản trong quan hệ của vợ chồng, cha mẹ và con, quan hệ

sở hữu và quan hệ thừa kế có yếu tố nớc ngoài là yếu tố trung tâm xuyên suốt đềtài nghiên cứu, qua đó làm rõ hơn những nhận định của mình Đây là vấn đề sẽ

đợc phân tích kỹ tại chơng 2 của luận án

Nói tóm lại, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa diễn

ra ngày một mạnh mẽ, thì các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài phát sinhngày càng nhiều và chiếm một vị trí đặc biệt trong cơ chế điều chỉnh pháp luậtcủa bất kỳ quốc gia nào khi tham gia vào các quan hệ quốc tế Trong tổng thểcác quan hệ xã hội thuộc đối tợng điều chỉnh của pháp luật, thì quan hệ dân sự

có yếu tố nớc ngoài là loại quan hệ đặc thù, bởi chủ thể của các quan hệ này ờng là ngời nớc ngoài hoặc pháp nhân nớc ngoài, thậm chí đôi khi còn là quốcgia - chủ thể của Luật quốc tế Đây là quan điểm cũng đợc nhiều nhà khoa họccủa Việt Nam tán thành [31, tr 12] (khái niệm "pháp nhân nớc ngoài" quy địnhtại Điều 826 của Bộ luật dân sự, nếu hiểu theo nghĩa rộng của từ này, thì cònbao gồm nhà nớc nớc ngoài hay tổ chức quốc tế liên Chính phủ - tức là chủ thểcủa Luật quốc tế) Tuy nhiên, khi nghiên cứu về quan hệ dân sự có sự tham giacủa nhà nớc, thì có nhiều vấn đề phức tạp đặt ra

th-Trong điều kiện hiện nay, khi nhà nớc tham gia vào các quan hệ dân

sự (cùng với cá nhân hoặc pháp nhân dân sự khác), thì quyền miễn trừ t pháp của quốc gia đợc hiểu và vận dụng nh thế nào, có theo nghĩa tuyệt đối hay

Trang 35

không Khi trong quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài mà chủ thể tham gia là nhànớc (hay tổ chức quốc tế liên Chính phủ), thì rõ ràng đây là loại quan hệ đặc biệt.Nhà nớc là một thực thể độc lập, có chủ quyền, nên về nguyên tắc luôn đợc h-ởng quyền miễn trừ t pháp (không bị xét xử trớc Tòa án của một nớc khác).

Đây là thuộc tính xuất phát từ chủ quyền quốc gia Do đó, khi Nhà nớc tham giahợp đồng dân sự có yếu tố nớc ngoài mà Nhà nớc không khớc từ một cách rõràng quyền miễn trừ t pháp, cũng nh khi ký kết điều ớc quốc tế mà Nhà nớckhông có cam kết khác, thì về nguyên tắc, Nhà nớc có quyền miễn trừ t phápmột cách tuyệt đối Điều này xuất phát từ một tập quán quốc tế đợc thừa nhận

từ thời La Mã trớc đây Luật La Mã ghi nhận nguyên tắc "par in parem nonhabet imperium" (những kẻ ngang hàng nhau thì không có quyền lực), tức làtrong quan hệ t pháp quốc tế, quốc gia có quyền miễn trừ t pháp một cáchtuyệt đối, bao gồm quyền miễn trừ xét xử và thi hành án Đây đợc coi là mộttrong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế, đợc nhiều luật giatrong và ngoài nớc ủng hộ [56]

Còn trong trờng hợp Nhà nớc khớc từ quyền miễn trừ t pháp khi giaokết hợp đồng dân sự có yếu tố nớc ngoài, thì Nhà nớc cũng có các quyền vànghĩa vụ trên nguyên tắc bình đẳng nh các đối tác khác trong quan hệ hợp

đồng Khi đó, Nhà nớc không viện dẫn quyền bất khả xâm phạm về tài sản vàquyền miễn trừ t pháp khi tham gia tố tụng (với t cách nguyên đơn hoặc bị đơndân sự) tại Tòa án của một quốc gia khác

Vì thế, để tránh nhầm lẫn địa vị pháp lý của Nhà nớc khi tham giaquan hệ dân sự, trong khi phân tích về khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài mà chủ thể tham gia là Nhà nớc, chúng ta cần chú ý đến điểm này Do

đó, khi sửa đổi Phần thứ bảy của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố

n-ớc ngoài, phải bổ sung quy định về địa vị của Nhà nn-ớc Việt Nam khi tham giaquan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài

Trang 36

Rõ ràng là tính chất "yếu tố nớc ngoài của các quan hệ xã hội sẽquyết định về nguyên tắc, phơng pháp điều chỉnh, cũng nh đặc thù của ngànhluật này so với các ngành luật khác" [31, tr 13] Đơng nhiên, khi bàn về góc

độ chủ thể, ví dụ là Nhà nớc - với các đặc thù riêng không giống bất kỳ loạichủ thể nào, thì yếu tố nớc ngoài cũng phải đợc xác định một cách thận trọng,bởi khái niệm nhà nớc nớc ngoài không phải đợc phân biệt bằng dấu hiệuquốc tịch, nơi c trú hay nơi thành lập - các dấu hiệu vốn đợc gắn với các chủthể là cá nhân hay pháp nhân thông thờng

Bản chất của các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài là luôn dẫn đếnhiện tợng xung đột pháp luật Khi tham gia vào các quan hệ đó, thông thờng cácchủ thể đều bị chi phối bởi các hệ thống pháp luật khác nhau, mà xét chocùng, thì tất cả các hệ thống pháp luật liên quan đều có thể đợc áp dụng để

điều chỉnh quan hệ đó Cho nên, ý nghĩa của các quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài, suy cho cùng, cũng là ở chỗ phục vụ cho việc lựa chọn pháp luật ápdụng để giải quyết xung đột pháp luật Các luật gia rất có lý khi nhận xét rằng,một quan hệ dân sự liên quan đến bao nhiêu hệ thống pháp luật, thì về nguyêntắc, bấy nhiêu hệ thống pháp luật đều có thể đợc áp dụng để điều chỉnh quan

hệ đó [30, tr 37] Nh vậy, việc lựa chọn hệ thống pháp luật nào trong số các

hệ thống pháp luật liên quan để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài, chính là nhiệm vụ của Phần thứ bảy Bộ luật dân sự Việc lựa chọn hệthống pháp luật nào, lại không phải do ý chí chủ quan của nhà làm luật, mà là

do sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột Mà cách thức xây dựng quy phạmxung đột, lại đòi hỏi phải phù hợp với thông lệ quốc tế Vì thế, có thể nói rằng,chừng nào còn xung đột pháp luật, thì chừng đó quy phạm xung đột còn tồntại và giữ vai trò nh một nghệ thuật lựa chọn kiểu mẫu, là vì thế

1.2 sự cần thiết của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài

Trang 37

1.2.1 Pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài là yêu cầu khách quan phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội

Trong thực tiễn sinh động của đời sống xã hội hiện nay, khi quan hệhợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực giữa các quốc gia ngày càng phát triểnmạnh, biên giới (pháp lý) giữa các quốc gia ngày càng nh bị "thu hẹp" do sựxuất hiện và ngày càng chiếm u thế của nhiều hình thức hợp tác liên kết cácquốc gia ở những khu vực địa lý khác nhau, thì các quan hệ dân sự có yếu tốnớc ngoài cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng và giữ vị trí đặc biệttrong cơ chế điều chỉnh pháp luật của mỗi quốc gia Nói cách khác, sự hìnhthành và phát triển của các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài là hệ quả tấtyếu của việc thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia, nó luôn gắn liền vàphản ánh chính sách ngoại giao rộng mở giữa các quốc gia

Nh vậy, sự hình thành và phát triển các quan hệ dân sự có yếu tố nớcngoài, cùng với các quan hệ xã hội khác, là một thực tế khách quan, thể hiệnnhu cầu giao lu dân sự giữa các cá nhân, pháp nhân trong xã hội và tạo tiền đềcho việc pháp luật điều chỉnh (sau đây gọi là điều chỉnh) đối với các quan hệnày Nếu xét về mặt lý luận, thì có thể nói, ở bất kỳ xã hội nào trong bối cảnhtồn tại nhà nớc với các mối bang giao quốc tế, thì đều xuất hiện các quan hệdân sự có yếu tố nớc ngoài Cho nên, tùy thuộc vào phạm vi, tính chất và mức độtác động, ảnh hởng của các quan hệ này đối với xã hội, mà đặt ra cho mỗiquốc gia yêu cầu điều chỉnh các quan hệ đó theo hớng nh thế nào

Qua nghiên cứu pháp luật của các nớc trên thế giới cho thấy, các quan

hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài đã đợc pháp luật điều chỉnh hàng trăm năm nay,sơ khai nhất là từ Luật La Mã Nhật Bản cũng đã ban hành đạo luật về t phápquốc tế năm 1898 (từ thời Minh Trị) nhằm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu

tố nớc ngoài Điều đó một mặt khẳng định thái độ và trách nhiệm của nhà nớctrong việc thừa nhận và bảo hộ đối với các loại quan hệ này, phù hợp với thực

Trang 38

tiễn phát triển của xã hội, mặt khác tạo thuận lợi cho các quan hệ này ngàycàng phát triển, phù hợp với lợi ích của cộng đồng dân c.

1.2.2 Điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài là góp phần làm ổn định các quan hệ xã hội

Từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới (1986), quan hệ quốc tế

đợc mở rộng theo hớng đa phơng, đa dạng hóa, thì các quan hệ dân sự có yếu

tố nớc ngoài thực sự phát triển một cách mạnh mẽ, đa dạng và giữ vị trí quantrọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nớc Trong hầu hết các quan hệdân sự (theo nghĩa rộng) nh hôn nhân và gia đình, lao động, hợp đồng, đầu t,kinh doanh, thơng mại hiện nay đều có ngời nớc ngoài, pháp nhân nớc ngoàitham gia

Do đó, yêu cầu điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài cònnhằm mục đích góp phần làm ổn định các quan hệ dân sự, hớng cho các quan

hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài phát triển một cách lành mạnh trong khuôn khổpháp luật, qua đó có thể góp phần làm giảm thiểu các tranh chấp phát sinh.Với cơ chế điều chỉnh thích hợp, còn có ý nghĩa thúc đẩy du lịch, đầu t nớcngoài vào Việt Nam mạnh mẽ hơn

1.2.3 Điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài là tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan nhà nớc giải quyết các vấn đề phát sinh

Trên thực tế, khi Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của mỗi

n-ớc thụ lý và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến quan hệ dân sự cóyếu tố nớc ngoài, thì không chỉ căn cứ vào hệ thống pháp luật nớc mình hoặc

sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan chức năng của nớc mình, mà trong nhiềutrờng hợp phải xem xét áp dụng pháp luật nớc ngoài hoặc cần có sự tơng trợ,giúp đỡ của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền của nớc ngoài, thì mới có thểgiải quyết ổn thỏa các vấn đề đặt ra Do vậy, điều chỉnh các quan hệ dân sự cóyếu tố nớc ngoài còn tạo điều kiện đáp ứng những yêu cầu đó, trên cơ sở định

Trang 39

ra các quy tắc lựa chọn pháp luật áp dụng hoặc xác định thẩm quyền giảiquyết đối với mỗi vụ việc cụ thể.

Xu hớng hợp tác quốc tế (song phơng hoặc đa phơng) giữa các quốcgia về tơng trợ t pháp, đặc biệt trong việc thống nhất về phơng pháp điều chỉnhcác quan hệ dân sự phát sinh giữa công dân của các nớc liên quan, đợc đặt rangày càng nhiều đối với những nớc mà trên lãnh thổ của nớc đó có nhiều ngờinớc ngoài c trú, cũng nh đối với các nớc có nhiều công dân sinh sống ở nớcngoài Xét về mặt lý luận, quốc gia thực hiện quyền tối cao trong phạm vi lãnhthổ của mình trên mọi phơng diện, đặc biệt là quyền tài phán Nhng Tòa áncủa quốc gia khó có thể thực hiện đợc quyền tài phán đối với công dân củamình có hành vi vi phạm pháp luật song hiện tại họ đang c trú ở nớc ngoài,nếu không có sự tơng trợ của Nhà nớc nớc ngoài hữu quan (nh thu thập chứng

cứ, ủy thác điều tra, tống đạt giấy tờ v.v ) Mặt khác, khi giải quyết các tranhchấp về dân sự có yếu tố nớc ngoài, thực tiễn t pháp của nhiều nớc cũng chothấy, trong nhiều trờng hợp Tòa án phải áp dụng pháp luật nớc ngoài

Do đó, điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài, cũng lànhằm tạo cơ sở cho Tòa án và cơ quan nhà nớc có thẩm quyền khác lựa chọnpháp luật áp dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến quan hệdân sự có sự tham gia của công dân, pháp nhân nớc mình với công dân, phápnhân nớc ngoài hữu quan

1.2.4 Điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nớc ngoài là biểu hiện của chủ quyền quốc gia, phù hợp với đòi hỏi tất yếu trong điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế

Ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mộtcách biệt lập mà không có quan hệ với quốc gia khác Quan hệ hợp tác quốc tếkhông chỉ là nhu cầu nội tại của bản thân mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy sự pháttriển kinh tế-xã hội ở mỗi nớc, mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ của các quốc

Trang 40

gia xét dới góc độ pháp luật quốc tế Theo Tuyên bố của Đại hội đồng Liênhợp quốc ngày 24/10/1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnhquan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chơng Liên hợpquốc, thì các quốc gia - chủ thể cơ bản của Luật quốc tế hiện đại - phải có nghĩa

vụ hợp tác với nhau Nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia, một mặt xuất phát từyêu cầu cùng nhau giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu mà bản thânmột quốc gia hoặc một nhóm nớc nhất định không thể giải quyết nổi (nh bảo

vệ môi trờng, chống khủng bố quốc tế, chống buôn bán phụ nữ và trẻ emv.v ), mặt khác nhằm đáp ứng nhu cầu nội tại của mỗi quốc gia, trên cơ sởthỏa mãn lợi ích khi tham gia vào các quan hệ quốc tế

Nhu cầu hợp tác quốc tế ngày nay không chỉ dừng lại trong phạm vi cácvấn đề có tính phổ cập nh ổn định hòa bình và an ninh quốc tế, phát triển kinh tế-khoa học kỹ thuật, mà đã đợc mở rộng trên mọi lĩnh vực giữa các quốc gia, trong

đó hợp tác về pháp luật và t pháp (hiểu theo nghĩa rộng) giữ vai trò đặc biệt Cóthể nói, nhu cầu hợp tác về pháp luật và t pháp giữa các quốc gia liên quan đếnviệc bảo hộ các quan hệ dân sự của cá nhân và pháp nhân, thông qua việc thốngnhất lựa chọn phơng pháp điều chỉnh đối với mỗi loại quan hệ đó, ngày càng trởnên cần thiết và có tầm quan trọng bên cạnh sự hợp tác về kinh tế giữa các nớc

Điều đó đợc giải thích bởi thực tế trên lãnh thổ của mỗi quốc gia ngày càng cónhiều ngời nớc ngoài c trú, làm ăn, sinh sống Trong các giao lu hàng ngày vềmọi mặt giữa cá nhân, pháp nhân nớc ngoài với công dân, pháp nhân của nớc sởtại đã làm phát sinh nhiều quan hệ về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động,kinh tế-thơng mại đòi hỏi phải đợc điều chỉnh kịp thời Do đó, điều chỉnh cácquan hệ dân sự phát sinh giữa công dân, pháp nhân của các quốc gia với nhau, là

đòi hỏi tất yếu xuất phát từ chủ quyền quốc gia, trên cơ sở nghĩa vụ hợp tác nhằmbảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của công dân trong các giao lu dân sự có yếu

tố nớc ngoài

Ngày đăng: 23/04/2013, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w