Mặc dù vậy, trong thực tiễn kinh doanh và quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, khái niệm “Luật Kinh tế” vẫn tiếp tục tồn tại và được sử dụng với ý nghĩa là lĩnh vực pháp luật b
Trang 1TS NGUYỄN THỊ DUNG (Chủ biên)
VÀ TẬP THỂ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI - TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
crs TRỐN THỊ BẢO ÁNH, TS vũ PHƯƠNG ĐỐNG, TS NGUYỄN QUÝ TRỌNG,
TS NGUYỄN THỊ YẾN, THS NGUYỄN NGỌC ANH, THS LÊ NGỌC ANH, THS LÊ HƯƠNG GIANG, THS NGUYỄN THỊ HUYỂN TRANG, THS vũ THỊ HÒA NHưi THS PHẠM PHƯƠNG THÀO, THS PHẠM THỊ HUYẼN, THS NGUYỄN NHƯ CHÍNH, THS CAO THANH HUYỂN)
LUẬT KINH
Chuyên khảo
i r I*ik ; - _ ịi
j ỉ i í 1 ì N. r— Njv í ỉ L.
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2CHỦ BIÊN: Tiến sỹ NGUYỄN THỊ DUNG
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TÁT
BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự
CTTNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
Trang 4LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
LỜI GIỚI THIỆU
Pháp luật kinh tế được hiểu là một hệ thống nhiều lĩnh vực pháp luật khá rộng, bao gồm Luật Kinh tế, Luật Lao động, Luật Tài chính, Luật Ngân hàng, Luật Đất đai, Luật Môi trường Khi hình thành và phát triển ở Việt Nam từ những thập niên 80 (thế kỷ 20), Luật Kinh tế được hiểu là một bộ phận của pháp Luật Kinh tế, là ngành luật độc lập
có phạm vi, đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực nghiên cứu, khái niệm “Luật Kinh tế”
đã dần được thay thế bằng các khái niệm “Luật Thưonti mại", "luật kinh doanh” do ảnh hưởng của quá trình thay đổi về kinh tế, về cơ chế quản lý kinh tế, dẫn đến những thay đổi căn bản trong điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, chủ thể của Luật Kinh tế không còn là các tổ chức kinh tế xà hội chủ nghĩa (tổ chức kinh tế nhà nước, tổ chức kinh tế tập thể) với tư cách là các đơn vị thực hiện hoạt động sản xuất theo kế hoạch dược giao Nền kinh tế không còn vận hành theo cơ chế
kế hoạch hoá tập trung mà vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản
lý của nhà nước, với nền tảng là sự công nhận quyền tự do sở hữu, quyền tự do kinh doanh, đồng thời chịu nhiều tác động tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Những thay đổi này dẫn đến yêu cầu đổi mới trong khoa học Luật Kinh tế, theo đó, khái niệm “Luật Kinh tế” ít được sử dụng hơn trong khoa học pháp lý Mặc dù vậy, trong thực tiễn kinh doanh và quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, khái niệm Luật Kinh tế vẫn được sử dụng với ý nghĩa là lĩnh vực pháp luật gồm tống thể các quy định pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhàm quy định về các loại chủ thể kinh doanh, điều chỉnh hoạt động kinh doanh của họ phù hợp với chính sách quản
lý kinh tế của nhà nước và quy định về vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh (nếu có)
Trang 5TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
Với.mục đích cung cấp những kiến thức pháp luật cơ bản và cần thiết cho thực tiễn kinh doanh và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, cuốn sách “Luật Kinh tế” đã được biên soạn, cập nhật chính sách, pháp luật mới nhất Với đội ngũ tác giả bao gồm các giảng viên có kinh nghiệm của Trường Đại học Luật Hà Nội, chúng tôi hy vọng cuốn sách là tài liệu đáng tin cậý cho doanh nhân và nhà quản lý, cho các cơ sở đào tạo luật và bạn đọc có quan tâm đến các vấn đề cơ bản của Luật Kinh tế
Cuốn sách được kết cấu 21 chương, sắp xếp theo 4 phần chính:
- Phần 1: Tổng quan về Luật Kinh tế trong nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam
- Phần 2: Pháp luật về các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế
- Phần 3: Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư, cạnh tranh và họp đồng trong hoạt động kinh doanh
- Phần 4: Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại
Trân trọng giới thiệu cuốn sách đến quý bạn đọc
NHÓM TÁC GIẢ
Trang 6LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
PHẨN 1
TỘNG QUAN VẼ LUẬT KINH TẾ TRONG NẾN KINH TÊ THỊ TRƯỜNG ở VIỆT NAM
Chương 1 KHÁI NIỆM, CHỦ THÈ VÀ NGUÒN CỦA LUẬT KINH TÉ
TÉ THỊ TRƯỜNG
Pháp luật kinh tế là lĩnh vực pháp luật đỏng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường Theo cách hiểu truyền thống, pháp luật kinh tế điều chỉnh nhiều mối quan hệ kinh tế đa dạng và phong phú Có thể kể đến các nhóm quan hệ cơ bàn như sau1:
- Quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh Các quan hệ này phát sinh trong quá trình hình thành các loại chủ thể kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, giải thể, phá sản thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác;
- Quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng kinh doanh, pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh ;
- Quan hệ phát sinh trong quá trình cấp phát, huy động vốn phục
vụ sản suất kinh doanh, hoạt động tín dụng, thanh toán, ngân sách thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về tài chính - ngân hàng;
- Quan hệ phát sinh trong quá trình tạo việc làm và sử dụng ìao động thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động;
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trinh Luật Kinh tế, Nhà xuát bản Công an nhân dân, 1998, tr.13 và Viện Đại học Mở Hà Nội, Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam (2011), NXB Còng an nhân dân, tr.11
Trang 7TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
- Quan- hệ phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai, môi trường 'thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Đất đai, Luật Môi trường;
- Quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện các hành vi cạnh tranh thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh
Theo PGS, TS Nguyễn Như Phát (Viện Nhà nước và Pháp luật), pháp luật kinh tế không phải là một ngành luật mà là một hệ thông các lĩnh vực pháp luật có đối tượng rất rộng Ngoài các quan hệ kinh tê nêu trên, quan hệ phát sinh trong quá trình can thiẹp, đieu tiet cua nha nước đổi với các hoạt động kinh tế (pháp luật hành chính kinh tế - pháp luật kinh tế công) cũng thuộc phạm vi của pháp luật kinh tê Với những đặc thù vê chủ thê, nội dung, tinh Chat, moi quan hẹ kinh tế trên đay lại thuộc một ngành luật hay một lĩnh vực pháp luật hẹp hơn điều chỉnh, bao gồm: Luật Kinh tê, Luật Tai chinh - Ngan hàng, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Môi trường Như vạy, trong khoa học pháp lý Việt Nam, Luật Kinh tể được hiểu là một bộ phận của phap luật kinh tế và nó chỉ điều chỉnh một phần quan hệ kinh tê phát sinh trong nền kinh tế thị trường
ở thập niên 70, thập niên 80, khái niệm “Luật Kinh tế’* được sử dụng pho biển Luạt Kinh tế khi đó, được hiểu là một bộ phận của pháp Luật Kinh tể , là ngành luật độc lập có phạm vi^đôi tượng và phương pháp điều chỉnh riêng, trong đó, pháp luật kinh tê bao gôm các văn bản pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau (Luật Kinh tê, Luật Đất đai, Luật Lao động, Luật Tài chính - Ngân hàng ) đieu chỉnh những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hoạt động san xuat kinh doanh của các đơn vị kinh tế và quan hệ quản lý kinh tê của nhà nước với tư cách vừa là một tổ chức chính trị, vừa là chủ sở hữu tư liệu sản xuất trong xã hội Luật Kinh tế ra đời trong cơ chế kê hoạch hoá tập trung, có đổi tượng điều chỉnh là các quan hệ kinh tê giữa các
tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa, các cơ quan quản lý kinh tế trong sản
' PGS, ĨS Nguyền Như Phát, Chương 1 - Lý luận chung vé Luật Kinh tế - Giáo trinh Luật Kinh tẽ Việt Nam (2011), NXB Công an nhân dân,tr.12
Trang 8LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
xuất, kinh doanh, sở hữu, tổ chức và kế hoạch hoá1 Trong các cơ sở đào tạo luật, “Luật Kinh tế” trở thành một môn học quan trọng, “là kết quả của công tác nghiên cứu khoa học pháp lý và thực tiễn quản lý sản xuất kinh doanh bằng pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của thực tiễn sản xuất kinh doanh”2
Ở Việt Nam, ý tưởng sử dụng khái niệm “Luật Thương mại”,
“luật kinh doanh” để thay thế cho khái niệm “Luật Kinh tế” xuất hiện khi diễn ra những thay đổi về kinh tế, về cơ chế quản lý kinh tế và dẫn đến những thay đổi căn bản trong điều chỉnh pháp luật đổi với các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, chủ thể của Luật Kinh tế không còn là các tổ chức kinh tể xã hội chủ nghĩa (tổ chức kinh tế nhà nước, tổ chức kinh
tế tập thể) với tư cách là các đơn vị thực hiện hoạt động sản xuất theo
kê hoạch được giao Nen kinh tế không còn vận hành theo cơ chê kè hoạch hoá tập trung mà vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản
lý của nhà nước, với nền tảng là sự công nhận quyền tự do sở hữu, quyền tự do kinh doanh, đồng thời chịu nhiều tác động tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Những thay đổi này dẫn đến yêu cầu đổi mới trong khoa học Luật Kinh tế, theo đó, khái niệm “Luật Kinh tế” ít được sử dụng hơn trong khoa học pháp lý Bên cạnh đỏ, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu thế tãng cường hội nhập kinh tế quốc tế, phạm vi quyền tự do kinh doanh cũng không ngừng được mở rộng, từ chỗ “tự do kinh doanh theo quy định pháp luật”3 đển “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”4 , vai trò can thiệp, kiểm soát từ phía nhà nước cũng thu hẹp rất nhiều theo xu hướng tôn trọng và đảm bảo thực hiện những hành vi không trái pháp luật của người kinh doanh (thương nhân) Xu hướng này làm cho yếu tố “luật tư” được thể hiện
1 PGS.TS Hoàng Thế Liên & ĨS Bùi Ngọc Cường, Chương 1 - Những vãn đé íý luận cơ bản vé Luật Kinh tế ở Việt Nam, Giáo trình Luật Kinh tẻ (2004) của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tưpháp, tr 15 16,18
2 PGS.TS Hoàng Thế Liên & TS Bùi Ngọc Cường, Chương 1 - Nhửng ván đé lý luận cơ bản vể Luật Kinh tế ở Việt Nam, Giáo trình Luật Kinh tế (2004) của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp, tr.35
3 Điéu 57, Hiến pháp năm 1992
Trang 9TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
rất rõ nét' và khái niệm “Luật Thương mại” dần được sử dụng phổ biên, với ý nghĩa là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại, hoạt động đầu tư kinh doanh của thương nhân Chính vì vậy, khái niệm “Luật Thương mại” dần được sử dụng thay thế cho khái niệm “Luật Kinh tế”, mặc dù nhiều vấn đề “lý luận về vấn đề này còn
cỏ những quan điểm khác nhau và cơ cấu của nó cũng chưa ổn định” 1 Trong khoa học pháp lý, cũng còn những ý kiến khác nhau trong việc nhìn nhận “Luật Kinh tế” với tư cách là một ngành luật độc lập Mặc dù vậy, trong thực tiễn kinh doanh và quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, khái niệm “Luật Kinh tế” vẫn tiếp tục
tồn tại và được sử dụng với ý nghĩa là lĩnh vực pháp luật bao gồm
tổng thể các quy định pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quả trình tô chức, quản
lý và tiến hành hoạt động kinh doanh, bao gồm quả trình hình thành các loại chủ thể kỉnh doanh, quản trị doanh nghiệp, quả trình tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua các giao dịch hợp đồng của doanh nghiệp, quá trình giải thể, phả sản và giải quyêt tranh chăp trong kinh doanh
Ngày nay, “động lực của toàn cầu hoá chính là sự bùng nổ thương mại hàng hoa và dịch vụ”2, dẫn đến sự hình thành một khối lượng đồ
sộ các văn bản pháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế điều chỉnh các quan hệ thương mại trong nước và quốc tế Quy chê thương nhân được xác lập bởi Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Phá sàn Hoạt động thương mại của thương nhân được điều chỉnh bởi văn bản: Luật Thương mại, Bộ luật Dân sự, Luật Kinh doanh bảo hiêm, Luật các tô chức tín dụng, Luật Trọng tài thương mại, Bộ luật Tố tụng dân
sự, các luật thuế, Bộ Luật hàng hải, các tập quán thương mại quôc tê Tông thê các nguôn luật này là cơ sở pháp lý cho thương nhân gia nhập thị trường, tổ chức hoạt động và rút khỏi thị trường, là cơ sờ pháp lý cho thương nhân tiến hành các hoạt động kinh doanh Như
P6S.TS Hoàng Thế Liên & TS Bùi Ngọc Cường, Chương 1 - Những ván đé lý luận cơ bản về Luât Kinh tẽ ở Viêt Nam, Giáo trình Luât Kinh tế (2004) cùa Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp, tr.37
2 PGS.TS Nguyên Bá Dlến, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế (2005), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.17
Trang 10LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
vậy, việc nhận diện khái niệm Luật Kinh tế trong nền kinh tế thị trường có những lưu ý cơ bản như sau:
Một lẳ, Luật Kinh tế là một bộ phận thuộc lĩnh vực pháp luật kinh
tế, bao gồm tổng thể các quy định pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm quy định về các loại chủ thể kinh doanh, điều chỉnh việc hình thành, tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh của họ phù hợp với chính sách quản lý kinh tế của nhà nước và quy định về vẩn đề giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh;
Hai là, Luật Kinh tế không phải là cơ cở pháp lý giải quyết mọi
vấn đề phát sinh trong mọi quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải tìm kiểm đến các quy định khác trong Luật Tài chính, Luật Ngân hàng, Luật Đất đai, Luật Lao động
NÊN KINH TỂ THỊ TRƯỜNG
kinh doanh trong nền kỉnh tế
Pháp luật mỗi quốc gia đều có quy định về các loại hình chủ thể kinh doanh, điều kiện, thủ tục để tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh hợp pháp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhiều loại hình chủ thê kinh doanh khác nhau hình thành, theo đỏ, có thể xuất hiện nhiều sự liên kết phức tạp về vốn góp, về quàn lý, về tính chất chịu trách nhiệm tài sản, về công nghệ Sự tồn tại và hoạt động của các chủ thê kinh doanh cần có sự công nhận, bảo hộ từ phía nhà nước và pháp luật là công cụ quan trọng để thực hiện điều này, thể hiện thông qua các nhóm quy định pháp luật cơ bản như sau:
Thứ nhát, Luật Kỉnh tế quy định các loại hình doanh nghiệp và chủ thê kinh doanh khác
Ở Việt Nam, công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, cồng ty hợp danh, hợp tác xã, hộ kinh doanh chỉ được thành lập
Trang 11TS Nguyễn Thị Dung (Chù biên)
và đượe biết đến sau khi Quốc hội ban hành Luật Công ty năm 1990
và LuậíD óánh nghiệp tư nhân năm 1990 Công ty TNHH một thành viên, công ty hợp danh chỉ được thành lập sau khi Luật Doanh nghiệp được ban hành vào năm 1999 và công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ chỉ được thành lập sau khi Luật Doanh nghiệp
2005 được ban hành và có hiệu lực pháp luật Sự hiện diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam được bắt đầu trên cơ sở quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987) với các hình thức cụ thể
là doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Các chủ thể kinh doanh này thành lập và hoạt động với tên gọi doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một thời gian dài, cho đến khi pháp luật về đầu tư tại Việt Nam được nhất thể hoá với sự ra đời của Luật Đầu tư năm 2005 Hiện nay, phụ thuộc vào cẩu trúc vốn đầu tư và tính chất liên kết, doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước hay có vốn đầu tư nước ngoài, đều hiện diện với tên gọi như nhau là công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân v.v Ngoài ra, pháp luật còn có quy định về một số chủ thể kinh doanh khác như hộ kinh doanh, tổ hợp tác, các cá nhân không có nghĩa
vụ phải đăng ký kinh doanh như người bán hàng rong, quà vặt, có thu nhập thấp
Thứ hai, Luật Kinh tể quy định về điều kiện và thủ tục gia nhập thị trường của nhà đầu tư
Nhà đầu tư có quyền tự do thành lập doanh nghiệp để đầu tư kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm Để đảm bảo trật
tự và lợi ích xã hội, nhà nước kiểm soát việc thực hiện quyền này thông qua các quy định về điều kiện và thủ tục gia nhập thị trường Băng các quy định của Luật Thương mại, nhà nước kiểm soát các yếu
tô vê vổn đầu tư, ngành nghề kinh doanh, người góp vốn thành lập, người đại diện theo pháp luật, nơi đặt trụ sở chính Các quy định về điêu kiện và thủ tục gia nhập thị trường cũng cho phép xác định tư cách pháp lý hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh cùng với trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý trong hoạt động kinh doanh của họ
Trang 12LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
Thứ ba, Luật Kinh tế quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức,
cá nhân kinh doanh (trong chương này tạm gọi chung là doanh nghiệp) và của người góp vốn (gọi chung là nhà đầu tư)
+ Quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có mục đích là xác định rõ phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế
Trên cơ sở quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp quy định, Luật Kinh tế quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Đây là những quy định quan trọng xác lập phạm vi thẩm quyền kinh tế của người kinh doanh, là cơ sở đo lường tính chất bình đẳng, không phân biệt đổi xử trong hoạt động kinh doanh của các loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau Các quyền cơ bản được pháp luật quy định, bao gồm: Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm; Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; Chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; Chủ động điều chỉnh quy mô
và ngành, nghề kinh doanh; Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn; Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu; Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh; Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải thực hiện các nghĩa vụ cơ bản, đó là: Đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đâu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điêu kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh; Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác đúng thời hạn theo quy định của pháp luật vê kê toán, thông kê; Kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ theo tiêu chuẩn do pháp
Trang 13TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
luật quy định hoặc tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố; Thực hiện đầy
đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này
và quy định khác của pháp luật có liên quan; Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó; Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bình đẳng giới, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh; Thực hiện nghĩa vụ về đạo đức kinh doanh đê bảo đảm quyên, lợi ích hợp pháp của khách hàng và người tiêu dùng
+ Quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân góp vốn (nhà đầu tư) co mục đích xác định rõ thẩm quyền của họ với tư cách là chủ
sở hữu của doanh nghiệp Trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp và trách nhiệm tài sán của nhà đầu tư góp vôn được quy định có sự phân biệt Với tư cách là chủ sở hữu của tô chức kinh doanh, nhà đâu tư (tô chức, cá nhân đầu tư, góp vốn) có quyên quyêt định chiên lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty, cơ câu tô chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm người quản lý công
ty, quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác, quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác, tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty, quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty, quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty
về trách nhiệm của nhà đầu tư, các quy định của Luật Thương mại cho phép xác định phạm vi trách nhiệm tài sản của tổ chức, cá nhân góp vốn đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do họ thành lập ra Nhà đâu tư có thể phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn
bộ tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn
Trang 14LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà họ lựa chọn đầu tư góp vốn
Thứ tư, Luật Kỉnh tế quy định vẩn đề cơ cấu tổ chức quản lý (quản trị nội bộ) của mỗi loại hình doanh nghiệp
Các quy định của Luật Kinh tế quy định “khung” cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của từng loại hình doanh nghiệp, phù hợp với tính chất một chủ hay nhiều chủ sở hữu, phù hợp với quy mô thành viên của doanh nghiệp Các quy định này cho phép nhận diện thống nhất
về bộ máy quản lý, thẩm quyền của mỗi chức danh quản lý trong doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi có giao dịch thương mại với nhau và thuận tiện trong các quan hệ pháp luật khác Trên cơ sở “khung” pháp luật về quản trị nội bộ doanh nghiệp mà luật quy định, mỗi doanh nghiệp có thế chi tiết hoá thông qua Điều lệ hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở không trái với quy định hiện hành
Thứ năm, Luật Kỉnh tế quy định vẩn đề tổ chức lại doanh nghiệp
Hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi doanh nghiệp (gọi chung là tổ chức lại doanh nghiệp) là các nhu cầu tất yểu của doanh nghiệp trước tác động của các yếu tố thị trường Tổ chức lại doanh nghiệp giúp thương nhân thực hiện các mục tiêu cạnh tranh thông qua các hình thức tập trung kinh tể hoặc chuyển đổi sang mô hình kinh doanh phù hợp khác Tổ chức lại doanh nghiệp có thể cho phép hình thành doanh nghiệp mới và chấm dứt doanh nghiệp cũ chỉ về phương diện pháp lý mà không ảnh hưởng đến sự tồn tại vật chất của doanh nghiệp Điêu này tiêt kiệm chi phí giải thể doanh nghiệp cũ và thành lập doanh nghiệp mới, song lại đặt ra những vấn đề phức tạp cần có luật điêu chỉnh vê kế thừa quyền và nghĩa vụ pháp lý, về quyên của chủ sở hữu, vê tô chức, quản lý doanh nghiệp mới, về thủ tục pháp lý
Thứ sáu, Luật Kỉnh tể quy định điều kiện, thủ tục rút khỏi thị trường
Trang 15TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
Việc-c'hấm dứt hoạt động và rút khỏi thị trường của doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải giải quyết các quyền và nghĩa vụ đã tạo lập trong quá trình hoạt động Lý do chấm dứt hoạt động và khả năng tài chính ở thời điểm chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp rất khác nhau, có thể thanh toán hết các khoản nợ hoặc không đủ khả năng thực hiện việc này Pháp luật đã quy định điều kiện và thủ tục giải thể để doanh nghiệp rút khỏi thị trường khi chưa mất khả năng thanh toán và quy định điều kiện, thủ tục phá sản cho những doanh nghiệp mất khả năng thanh toán rút khỏi thị trường Các quy định pháp luật về giải thể, phá sản là cơ sở pháp lý để doanh nghiệp thanh lý tài sản, thanh toán nợ và rút khỏi thị trường một cách hợp pháp
2 Luật Kinh tế quy định về các hoạt động thưong mại, đầu tư
và hợp đồng trong thương mại và đầu tư (gọi chung là hợp đồng thương mại)
Kinh doanh là hoạt động thuộc chức năng chính của các chủ thể kinh doanh, nằm trong khuôn khổ lý do thành lập và mục tiêu lợi nhuận của họ Hoạt động kinh doanh diễn ra thông qua các hoạt động đầu tư, góp vốn, các hoạt động thương mại cụ thể như mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thông qua các quan hệ hợp đông, có tự do thoả thuận và thống nhất ý chí và một sô các giao dịch khác như tự tô chức khuyên mại, quảng cáo, tổ chức đâu thâu Trong nên kinh tê thị trường, hoạt động thương mại được thực hiện trong khuôn khô quyên
tự do hợp đồng, tự do hoạt động thương mại Xét ở tầm ảnh hưởng, hoạt động thương mại không chỉ liên quan đến lợi ích của doanh nghiẹp, đôi tác của doanh nghiệp mà còn có những ảnh hưởng đên qụyen lợi của người tiêu dùng, của tổ chức, cá nhân khác, đên sự phát triên hàng hoá, dịch vụ và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Đây
la ly do phap luật cân quy định cơ sở pháp lý cân thiêt cho doanh nghiẹp tien hành hoạt động thương mại cụ thể
3 Luật Kinh tế điều chỉnh hành vi cạnh tranh trong hoạt động kỉnh doanh của doanh nghiệp
Tự do kinh doanh và tự do khế ước cùng với sự giục giã của quy luật giá trị và bản tính cúa con người dẫn đến các hoạt động cạnh tranh
Trang 16LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
tự phát có thiên hướng thái quá, cực đoan, nhằm gây rối, ngăn cản, hạn chế hoặc thủ tiêu cạnh tranh của các đối thủ huỷ hoại động lực phát triển kinh tế 1 Đây là lý do cần có sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh Pháp Luật Cạnh tranh là một trong các công cụ điều tiết cạnh tranh của nhà nước, thông qua việc quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh (hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, tập trung kinh tế), pháp luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh và quy định về tụng cạnh tranh, thủ tục miễn trừ và xử lý vi phạm pháp Luật Cạnh tranh
sinh trong hoạt động thưong mại, đầu tư của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Tranh chấp kinh tế bao gồm các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại của doanh nghiệp, bao gồm cả tranh chấp trong quan
hệ đầu tư, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ Thông qua các văn bản pháp luật cụ thể, Luật Kinh tế là cơ sở pháp lý để xác định:
- Quyền của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh giữa họ với nhau hoặc với chủ thê khác có liên quan;
- Nghĩa vụ và hành vi vi phạm hợp đồng của các bên có tranh chấp trong hoạt động thương mại;
- Trách nhiệm pháp lý của bên có hành vi vi phạm trong hoạt động thương mại, biểu hiện ở việc thực hiện các chế tài hợp đồng như phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, huỷ hợp đồng
- Cách thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại thông qua tự thương lượng, hoà giải, trọng tài thương mại, toà án
Trang 17IIL CHỦ THẺ CỦA LUẬT KINH TẾ
1 Doanh nghiệp - chủ thể chủ yếu của Luật Kinh tế
Doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác, thường xuyên tham gia vào các quan hệ thương mại, giữ vị trí trung tâm ở tất cả các quan hệ kinh tế và tham gia vào quan hệ pháp luật khác cần phải thực hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh, bao gồm quan hệ đầu tư góp vốn, họp đồng thương mại, đăng ký kinh doanh, giải quyết tranh chấp thương mại, giải thể, phá sản Doanh nghiệp cũng chiếm vị trí chủ thể chủ yếu do sổ lượng đông và ngày càng phát triển Hiện nay,
cả nước có khoảng 535.920 doanh nghiệp đang hoạt động1 Ngoài ra, còn có các chủ thể là hợp tác xã, người kinh doanh nhỏ Doanh nghiệp
và các chủ thể kinh doanh khác hoạt động ở tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế và thuộc nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, quyết định sự phát triển của nền kinh tế
Doanh nghiệp là chủ thể chủ yếu của Luật Kinh tê còn vì nó xuât hiện phổ biển trong quan hệ kinh tế, bao gồm các quan hệ kinh tề cơ bản sau đây:
- Doanh nghiệp là chủ thể đầu tư, góp vốn
Trừ một số trường họp bị hạn chế quyền tiếp tục đâu tư, góp vôn, các doanh nghiệp được quyền đầu tư, góp vốn đê thành lập doanh nghiệp khác và trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp đó, được liên kêt đê thành lập tổng công ty, tập đoàn kinh tế (nhóm công ty)
Ví dụ: Công ty TNHH một thành viên Hồng Hà có quyên đâu tư 100% vốn để thành lập một công ty con (Công ty TNHH Hồng Hà Miên Trung) và trở thành công ty mẹ của công ty này Hoặc Công ty
1 NHH mọt thanh viên Hông Hà có quyền góp vôn cùng với các tô chức, cá nhân khác để thành lập Công ty co phần Đông Đô và trở thành một cổ đông của công ty Đông Đo
TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
So liệu tính đen 1/2016 Nguổn: Cục quản lý đăng ký kinh doanh, Tinh hình chung vé đăng ký doanh nghiệp tháng 1/2016 http//dangkykinhdoanh.gov.vn
Trang 18LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
Trong trường hợp này, doanh nghiệp là chủ thể của quan hệ đâu
tư, phải tuân thủ quy định pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật vê đầu tư
- Doanh nghiệp là chủ thể thực hiện các hoạt động thương mại và tham gia vào các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch
vụ thương mại, xúc tiến thương mại
Chức năng, nhiệm vụ chính của doanh nghiệp là hoạt động thương mại nhằm mục tiêu lợi nhuận Để thực hiện chức năng, nhiệm
vụ và mục tiêu đó, doanh nghiệp hoạt động thương mại với tính chất nghề nghiệp, thường xuyên, liên tục và là chủ thể chủ yếu trong các quan hệ mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại, xúc tiến thương mại
- Doanh nghiệp là chủ thể đầu tư, thực hiện các hoạt dộng gia nhập thị trường
Bên cạnh việc khẳng định và bảo hộ quyền tự do kinh doanh, nhà nước cũng khẳng định vai trò của nhà nước trong quản lý về kinh tế và kiểm soát việc thực hiện quyền tự do kinh doanh, theo đó, ai kinh doanh, kinh doanh cái gì, kinh doanh ở đâu, mức vốn bao nhiêu đều phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh khi thành lập doanh nghiệp và khi doanh nghiệp đang hoạt động nhưng có thay đổi những thông tin này Thực hiện các thủ tục bắt buộc này là căn cứ để xác định tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi họ
sử dụng quyền tự do kinh doanh mà hiến pháp đã quy định
- Doanh nghiệp là chủ thể thực hiện các hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp (hợp nhât, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi doanh nghiệp), là chủ thê thực hiện các hoạt động rút khỏi thị trường (giải thể, phá sản doanh nghiệp) và là chủ thể của tranh chấp thương mại và quan hệ giải quyêt tranh chấp thương mại
trong quá trình thành lập, hoạt động kinh doanh và giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh
Trang 19TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
2.1 Cơ quan đăng kỷ kinh doanh
Cơ quari đăng ký kinh doanh là đầu mối quan trọng thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác Cơ quan đăng ký kinh doanh là nơi tiến hành các thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi nội dung kinh doanh, đăng ký tạm ngừng, chấm dứt hoạt động kinh doanh
Cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Ở cấp tỉnh, Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư có thẩm quyền cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân1 Phòng Đăng ký kinh doanh có thê tô chức các điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kêt quả thuộc Phòng Đăng ký kinh doanh tại các địa điểm khác nhau trên địa bàn câp tỉnh, ơ câp
• huyện, Phòng Tài chính - Ke hoạch thuộc ủ y ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh, đăng ký hợp tác xã (gọi chung là cơ quan đăng ký kinh doanh câp huyện)
2.2 Cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chuyên ngành
Trong quá trình hoạt động thương mại, đê đám bao quản ly nhà nước vê kinh tế, thương nhân phải thực hiện mọt so nghía vụ can thiet tại cơ quan quản lý chuyên ngành, tuỳ thuộc vào loại hoạt đọng thương mại mà họ thực hiện Ví dụ: thực hiện các thủ tục vê đảm bảo điều kiện kinh doanh tại Sở Y tế/BỘ Ý tế khi kinh doanh các ngành nghề kinh doanh phải đảm bảo điều kiện về vệ sinh an toàn thực phâm; thực hiện các thủ tục về đảm bảo điêu kiện kinh doanh tại cơ quan công an khi kinh doanh các ngành nghê phải đảm bảo điêu kiện
về an ninh, trật tự; thực hiện các thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan khi thực hiện hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
2.3 Tổ chức, cá nhân thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế (tranh chấp thương mọi)
'Điéu 6 Nghị định 193/NĐ-CP ngày 21/11/2013 quy định chi tiễt một só điéu của Luật Hợp tác xã
Trang 20LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
Khi hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế (tranh chấp thương mại), Toà án, tổ chức trọng tài, hoà giải viên (khi thực hiện hòa giải thương mại), trọng tài viên của hội đồng trọng tài vụ việc được coi là chủ thể của Luật Kinh tế Tuy nhiên, sự xuất hiện của các tổ chức, cá nhân này với tư cách là chủ thể của Luật Kinh tế phụ thuộc vào việc:
Có tranh chấp thương mại xảy ra hay không?; số lượng vụ tranh chấp nhiều hay ít và các bên của vụ tranh chấp lựa chọn cách thức nào để giải quyết tranh chấp xảy ra
2.4 Tồ chức, cá nhân không cỏ đăng ký kinh doanh với tư cách
là nhà đầu tư hoặc khách hàng của doanh nghiệp
Tổ chức, cá nhân khi thực hiện đầu tư, góp vốn thành lập doanh nghiệp và trở thành chủ thể của quan hệ đầu tư vào tổ chức kinh tế Tổ chức, cá nhân ký hợp đồng mua bán hàng hoá, uỷ thác mua bán hàng hoá, môi giới với doanh nghiệp và trở thành chủ thể quan hệ thương mại hỗn họp (quan hệ thương mại có một bên là thương nhân, một bên không phải và thương nhân)
Ví dụ: Các ông bà A, B, c thoả thuận góp vốn và thành lập ra Công ty cổ phần ABC Trong quá trình thành lập và hoạt động của công ty cổ phần ABC, các ông bà A, B, c đỏng vai trò là chủ đầu tư, chủ sở hữu công ty và có các quyền và nghĩa vụ đối công ty theo quy định của pháp luật doanh nghiệp
IV NGUỒN CO BẢN CỦA LUẬT KINH TÉ
Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như đê áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp
lý trong thực t ế Tiêp cận với ý nghĩa nguồn hình thức của pháp luật, nguồn của Luật Kinh tê bao gồm nhừng “phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật hay là nơi chứa đựng, nơi cung cấp các quy phạm pháp luật, tức là nhừng căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền 1
Trang 21TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế' liên quan đến sự tồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh doanh' và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh giữa họ Nguồn của Luật Kinh tế bao gồm:
1 Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, là nguồn của nhiều ngành luật và chứa đựng nhiều quy định mang tính nguyên tắc về nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, quy định về chế độ kinh tế, chế độ văn hoá.khoa học công nghệ, an ninh quốc phòng, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân, đặc biệt là quyền tự do kinh doanh làm nền tảng thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh Với tính chất là nguồn quan trọng của luật kinh tế, Hiến pháp (2013) quy định chế độ kinh tế, quy định quyền công dân trong lĩnh vực kinh tê, theo đó, “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghê mà pháp luật không cấm”1 2 Đây là quy định mang tính nền tảng, là cơ sở quan trọng để cụ thể hoá quyền tự do kinh doanh trong các văn bản pháp luật kinh tế hiện hành
2 Các văn bản quy phạm pháp luật
Các văn bản quy phạm pháp luật là các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ưỷ ban thường vụ Quôc hội, Chính phủ
và các cơ quan có thẩm quyền khác ban hành Nguôn của Luật Kinh tế bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật xác định địa vị pháp lý cho thương nhân và điêu chỉnh các hoạt động thương mại của thương nhân và giải quyêt tranh chấp thương mại giữa họ Các văn bản quy phạm pháp luật là nguôn chủ yêu của Lụật Kinh tế gồm có:
- Luật Doanh nghiệp quy định về các loại hình doanh nghiệp, , thành lập, tổ chức hoạt động, tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp; quyền
và nghĩa vụ của doanh nghiệp và chủ sở hữu của doanh nghiệp
1TS Nguyễn Thị Hổi, vé khái niệm nguón của pháp luật, Tạp chí Luật học, số 2/2008, tr 29,30
2 Điéu 33 - Hiến pháp 2013
Trang 22LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
- Luật Đầu tư quy định về các hình thức và thủ tục đầu tư, ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành nghề kinh doanh có điều kiện, biện pháp đảm bảo, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư
- Luật Phá sản quy định điều kiện và thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, thủ tục phục hồi và thanh toán nợ trong điều kiện doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn;
- Luật Thương mại điều chỉnh các hoạt động thương mại của thương nhân và các hình thức trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với các
vi phạm pháp luật về hợp đồng thương mại;
- Luật Trọng tài thương mại quy định thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài;
- Bộ luật Tổ tụng Dân sự quy định thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại, dân sự bằng Toà án;
- Bộ luật Dân sự quy định chủ thể của các quan hệ dân sự, quy định vê sở hữu, vê nghĩa vụ và hợp đồng làm nền tảng cho các hoạt động thương mại;
- Các Pháp lệnh, Nghị định, quyết định, thông tư hướng dẫn, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán
3 Điều ưóc quốc tế
Điều ước quôc tê song phương và điều ước quốc tế đa phương là nguồn quan trọng, chủ yêu điêu chỉnh các quan hệ thương mại có yểu
tố nước ngoài Điêu ước quôc tê không chỉ chi phối quan hệ thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ có yếu tổ nước ngoài mà còn chi phối quan hệ đâu tư góp vôn thành lập doanh nghiệp của thương nhân trong trường hợp liên quan đên các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ
và hình thức hiện diện thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Điều ước quôc tê có liên quan tác động đến việc sửa đổi, bổ sung pháp luật thương mại của quốc gia nhằm đảm bảo yêu cầu tương thích và được ưu tiên áp dụng trong trường hợp có sự khác biệt với pháp luật quốc gia
Trang 23TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
4 Tập quán thương mại
Tập quán là “thực tế mà bằng sự thừa nhận chung và lâu dài đối với nó, thói quen không thay đổi đã trở thành có hiệu lực như pháp luật”1 Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Tập quán thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giải thích và bổ sung các nghĩa vụ hợp đồng2 Pháp luật thương mại Việt Nam quy định rõ việc cho phép áp dụng tập quán thương mại quốc tế trong các giao dịch có yếu tố nước ngoài, nếu tập quán đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam3
5 Án lệ
Án lệ là loại nguồn rất quan trọng của pháp luật các nước thuộc hệ thống thông luật Ở Việt Nam, án lệ mới được chính thức công nhận Theo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tôi cao (TANDTC), án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án về một vụ việc cụ thê, được Hội đồng thẩn phán TANDTC lựa chọn và được Chánh án TANDTC công bố là án ỉệ để các toà nghiên cứu, áp dụng trong xét xử
1 Black's Law Dictionary, 1999, tr.390
2 ThS Nguyên Thị Khế, Ths Bùi Thị Khuyên, Luật Thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại, NXB Tài chính (2007) tr.37
3 Điéu 5 - Luật Thương mại (2005)
Trang 24LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
PHẨN 2
PHÁP LUẬTVẼ CÁCCHỦ THỂ KINH DOANH
■ TRONG NẼN KINH TẾ
CHƯƠNG 2 DOANH NGHIỆP T ư NHÂN
I KHÁI NIỆM, ĐẬC ĐIẺM CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Trước năm 1986, kinh tế tư nhân nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng không được thừa nhận trong đời sống kinh tế, pháp lý ỏ’ Việt Nam: “Hàng loạt chính sách lớn đã được đề ra và được thực hiện như quốc hữu hóa, cải tạo công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Mục đích của các chính sách đỏ là để xây dựng cho được nền kinh tể xã hội chủ nghĩa chỉ với hai thành phần là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, xóa bỏ kinh tế
tư nhân'”.1
Với chủ trương đổi mới kinh tể, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao câp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 thì kinh tế tư nhân lần đầu tiên được thừa nhận, khuyến khích phát triển ở Việt Nam
Cụ thể hóa đường lối của Đảng, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được Quôc hội thông qua vào ngày 21.12.1990 là những văn bản có giá trị pháp lý cao ghi nhận sự tồn tại tích cực, lâu dài, bình đẳng của kinh tế tư nhân nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng bên cạnh các thành phần kinh tế khác Tiếp theo đó, sự tồn tại về mặt pháp lý của doanh nghiệp tư nhân được ghi nhận tại Luật
1 ThS Nguyễn Thị Khế, Pháp luật vé các hình thức tó chức kinh doanh, NXB Tư pháp, 2007.
Trang 25TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
Doanh nghiệp năm *1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 201*4
Luật Doanh nghiệp năm 2014 không định nghĩa về doanh nghiệp
tư nhân mà chỉ quy định về các dấu hiệu nhận diện doanh nghiệp tư nhân tại Điều 183 như sau:
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bẩt kỳ loại chímg khoản nào.
Mỗi cả nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.
Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Doanh nghiệp tư nhân là một loại hình doanh nghiệp nên giống như những doanh nghiệp kinh doanh khác, doanh nghiệp tư nhân là tổ chức có tên riêng được nhà nước thừa nhận thông qua việc nhà nước cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; mục đích của doanh nghiệp tư nhân là thường xuyên, liên tục thực hiện hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận Bên cạnh những đặc diêm chung của một doanh nghiệp kinh doanh thì doanh nghiệp tư nhân còn có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cả nhân làm chủ sở hữu
Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ sở hữu Cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân có thể là cá nhân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài trừ những cá nhân không được thành lập, quản lý
doanh nghiẹp quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Dọanh nghiệp năm
2014 Hạn che quyên thành lập doanh nghiệp tư nhân của một số cá nhân tại khoản 2 Điêu 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhàm đảm
Trang 26LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
bảo sự chuyên tâm trong công việc Nhà nước giao phó hoặc ngăn ngừa sự trục lợi đối với một số vị trí quản lý trong các cơ quan nhà nước hoặc gìn giữ văn hóa, đạo đức kinh doanh hoặc hạn chế nguy cơ rủi ro cho nền kinh tế - xã hội khi nhà đầu tư không có khả năng quản
lý doanh nghiệp
Đặc điểm doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ sở hữu
sẽ phân biệt doanh nghiệp tư nhân với những loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều chủ như công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên Đặc điểm đó cũng phân biệt doanh nghiệp tư nhân với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cùng thuộc sở hữu của một chủ nhưng chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ do một cá nhân làm chủ sở hữu còn công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu
Với tính chất là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ nên toàn
bộ vốn để thành lập và tạo lập cơ sở vật chất cho doanh nghiệp tư nhân hoạt động kinh doanh chỉ do một cá nhân đầu tư Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp, vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký Như vậy, khác với các loại hình công ty là những tổ chức kinh tế có tài sản riêng thì doanh nghiệp tư nhân không có tài sản riêng mà tài sản của doanh nghiệp tư nhân vẫn là tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân
Từ tiền đề đó, trên nền tảng lý luận chung về quyền năng của chủ sở hữu đối với vật và tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thì chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định cơ cấu tổ chức, quản lý điều hành doanh nghiệp tư nhân; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận của doanh nghiệp tư nhàn sau khi đã thực hiên các nghĩa vụ tài chính với nhà nước, với bạn hàng của doanh nghiệp tư nhân; có quyền quyết định thay đổi số phận pháp lý của doanh nghiệp tư nhân như bán doanh nghiệp, cho thuê doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp
Trang 27TS Nguyên Thị Dung (Chủ biên)
Sở dĩ chủ dọãnh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân vì chủ doanh nghiệp tư nhân không phải chia sẻ quyền năng “định đoạt, sử dụng” doanh nghiệp tư nhân với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào Toàn bộ các quyền năng trong khuôn khổ quy định của pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân chỉ do chủ doanh nghiệp tư nhân quyết định vì chủ doanh nghiệp
tư nhân là cá nhân duy nhất đầu tư toàn bộ vốn để hình thành doanh nghiệp tư nhân, vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân có bản chất tương tự như vốn điều lệ của công ty Quỵền của chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp giống như quyền của chủ sở hữu (các thành viên, cổ đông) đối với công ty
Thứ hai: Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân
Theo Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: (i) Được thành lập hợp pháp theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; (ii) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; (iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (iv) Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Như phân tích tại đặc điểm thứ nhát khi nhận diện doanh nghiệp tư nhân thì doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân đâu tư vôn và làm chủ Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân không có tài sản độc lập
Do vậy, doanh nghiệp tư nhân khong đủ điều kiện để được công nhận
Trang 28LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
hữu của doanh nghiệp Trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp là trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với doanh nghiệp do mình góp vốn đầu tư
Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, không có tài sản riêng nên trách nhiệm tài sản đối với đối tác, khách hàng, chủ nợ, những người có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
do chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm Chủ doanh nghiệp
tư nhân chịu trách nhiệm tài sản vô hạn trong kinh doanh có nghĩa là chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản
nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình bao gồm cả tài sản chủ doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư vào doanh nghiệp và tài sản mà chủ doanh nghiệp tư nhân không đầu tư vào doanh nghiệp
Cụ thể hơn có thể hiểu là chủ doanh nghiệp tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tu nhân trong phạm vi số vốn đầu tư đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh mà còn phải chịu trách nhiệm bàng toàn bộ tài sản thuộc quyền
sở hữu cùa mình không đầu tư vào doanh nghiệp trong trường hợp số vốn đầu tư đã đăng ký không đủ để thanh toán các khoản nợ phát sinh
từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân khi doanh nghiệp
bị tuyên bố phá sản
Như vậy, trách nhiệm vô hạn trong kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân là một loại trách nhiệm tài sản không chỉ giới hạn trong phạm vi sô vôn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp Trách nhiệm tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân được xác định từ thời điếm doanh nghiệp tư nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và thời diêm bị áp dụng trách nhiệm vô hạn là thời điểm doanh nghiệp tư nhân bị tuyên bổ phá sản Các văn bản pháp luật doanh nghiệp và pháp luật phá sản đã có sự thống nhất khi quy định về trách nhiệm tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, Luật Phá sản
đã mở ra hướng “mêm dẻo” hơn về trách nhiệm tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân khi doanh nghiệp tư nhân bị phá sản Theo đó, khoản 1
Trang 29TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
Điều 110 Luật Phá sản năm 2004 quy định: Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hộp tác xã phá sản quy định tại các Điều 105, 106 và
107 của Luật này không miễn trừ nghĩa vụ vê tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh đối với chủ
nợ chưa được thanh toán nợ, trừ trường hợp người tham gia thủ tục phá sản có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
* Trách nhiệm vô hạn trong kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân có điểm tích cực và điểm hạn chế:
Trách nhiệm vô hạn không phân tán được rủi ro trong kinh doanh cho cá nhân chủ doanh nghiệp tư nhân Do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh nghiệp tư nhân cao Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm băng toàn bộ tài sản của mình
mà không có sự phân tán rủi ro cùng những chủ thê khác như những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân
Tuy nhiên, chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân lại tạo sự “an toàn” hơn cho chủ nợ vì chủ nợ có khả năng đòi được nợ không chỉ giới hạn trong sô vôn đâu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân vào doanh nghiệp đó Có thê từ ý tưởng bảo vệ lợi ích tài sản cho chủ nợ trong môi quan hệ với doanh nghiệp tư nhân
mà Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định: Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp
tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh
Bàn luận về trách nhiệm tài sản vô hạn trong kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân có một số điểm lưu ý sau:
* Một là, xác định khôi tài sản củữ chủ doữnh nghiệp tư nhân khi
bị doanh nghiệp tư nhân bị phá sản.
Ngoài những tài sản mà chủ doanh nghiệp tư nhân đàu tư vào doanh nghiệp, khối tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân còn bao gồm
cả những tài sản không trực tiêp dùng vào hoạt động kinh doanh Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân có tài sản thuộc sở hữu chung
Trang 30LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
thì phần tài sản sở hựu chung của chủ doanh nghiệp tư nhân được chia theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan Việc kê biên tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự và không kê biên những tài sản
của chủ doanh nghiệp tư nhân như: số lương thực đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của chủ doanh nghiệp tư nhân và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập thu hoạch mới; số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của chủ doanh nghiệp tư nhân và gia đình; đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương; vật dụng cần thiêt của người tàn tật, vật dụng để chăm sóc người ốm Quy định về một sô tài sản không kê biên của chủ doanh nghiệp tư nhân khi doanh nghiệp
tư nhân bị phá sản không mâu thuẫn với trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân bởi quy định của pháp luật cũng phải được xây dựng trên nền tảng đạo đức, triết lý nhân văn của dân tộc và được quy định thống nhất trong các quy định của pháp luật
* Hai là, cần phải quy định rõ về cách thức giải quyết trách
nhiệm tài sản khi chủ doanh nghiệp tư nhân đã kết hôn.
Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Tài sản chung được đưa vào kinh doanh thì trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận vê việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này
có quyên tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó Thỏa thuận này phải lập thành văn bản Quy định của Luật Hôn nhân
và gia đình mới chỉ dừng lại ở những quy định khi đưa tài sán chung vào kinh doanh thì cần sự thống nhất bàng vãn bản của hai vợ chồng Tuy nhiên, pháp luật về hôn nhân gia đình và pháp luật về doanh nghiệp cân có sự liên kêt, hướng dẫn rõ một vài nội dung sau:
- Trường hợp vợ hoặc chồng đưa tài sản chung vào thành lập doanh nghiệp tư nhân mà chưa có sự dồng ý của người còn lại thì việc giải quyêt trách nhiệm tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân khi doanh nghiệp đó bị phá sản như thế nào?
- Vợ hoặc chồng của chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ chịu trách nhiệm tài sản như thế nào khi họ đã thống nhất bằng văn bản cho
Trang 31vợ/chồng của mlph dùng tài sản chung để thành lập doanh nghiệp
m ^ Do chù doanh nghiệp tư nhân có toàn quyên dinh việc sử dụng lợt nhuận nen sau khi doanh nghiệp dã thực 't ên nác nglũa vụ tà
s m chủ doanh nghiệp tư nhân có thể sử dvng M nhuận đó để ch
t ” X X của gia đít* họ Vậy tài sán đọ nếu đưực xác dịnh là
của doanh nghiệp tư nhân?
Thứ tu: Doanh nghiệp tư nhãn không được phát hành bắt kỳ loại
„ Ỉ Ĩ * L t h - o T d í c t ì o a n T s r t
n t âr H r ện t a ý nn8g o « ydrath^ Ị S > d nhân càr■ c
danh ,à hai lo ịi hTnh doanh Z Ị > ¿ ịUdim ia u ? Á« PỈÌPII đó CÓ nghĩa là nêu các doanhchứng khoán để huy động vôn Đieu 00 tu »6« v Z u- u
cnung 1 J ' • ® hát triên mở rông quy mô kinhnghiệp này muốn đâu tư mới, pnai U1*; ’ ù V “ u T ngnicp J “—• 5 th' CUỊ giới han huy động vôn băngdoanh của doanh nghiệp mình tni cni giu V» ị r ù u 7
; “ , 7 ¡ n rtầu tư thêm vồn vào doanh nghiêp,cách chủ sở hữu doanh nghiệp đau iư UW1 J - • ; ““ “ ; 6 vf ’
, 7 , r_ - 7 7 ả * hrmp khoản thu hút von đâu tư khácvay tài chính hoặc có thê có nhơng Miua « — + “ 7 ‘717
£ vi™ được tặng cho, thừa kế tài
hữu hạn đưưc quyên phát hành trái phiếu và công ty cé phần đưqc phát hành chống khoán để huy động vốn thi rõ rtng; doanh nghiệp
tư nhân và công ty hợp danh khó khan hom khi tìm kiêm các nguồn tài chính cho hoạt dọng kinh doanh Bên cạnh quy định doanh nghtep tư nhân không được phát hành chứng khoán thi Luật Doanh nghiep nam 2014 con xác định rõ doanh nghiệp tư nhân không
đước quyền góp vốn thành lập hoặc mua cô phân, phần vốn góp
trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty
Cổ phần
TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên) - -
Trang 32-LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
II VỐN VÀ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Doanh nghiệp tư nhân không có tài sản và vốn điều lệ như các loại hình công ty khác Doanh nghiệp tư nhân với bản chât là doanh nghiệp của một chủ sở hữu nên không có sự đầu tư góp vốn của các thành viên mà chủ doanh nghiệp tư nhân phải đầu tư toàn bộ vốn và tài sản để doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
- Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp
tự đăng ký Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vón bàng đồng Việt Nam, ngoại
tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của môi loại tài sản Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyên tăng hoặc giảm vốn đầu tư và phải được ghi chép đây đủ vào sô
kế toán Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh
- Ngoài vốn đầu tư thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân thì chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền 'huy động vốn bằng những nguồn vốn vay khác Toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp
- Chủ doanh nghiệp tư nhân phải tổ chức công tác kế toán trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán, thông kê; kê khai thuê, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
- Doanh nghiệp tư nhân phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp vì đối tượng nộp thuê thu nhập doanh nghiệp là “doanh nghiệp” được thành lập theo quy định của pháp luật, bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân Mặt khác, chủ doanh nghiệp tư nhân với tư cách là một cá nhân kinh doanh sẽ có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân đói vói các khoản thu nhập khác ngoài thu nhập tại doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân
Trang 33TS Nguyễn Thị Dung (Chù biên)
III TỔ CHỨG, QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP T ư NHÂNLuật Doanh ngliiệp không quy định về mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp tu nhân Chủ doanh nghiệp tu nhân có quyền quyết định
mô hình, bộ máy tổ chức quản lý doanh nghiệp tư nhân Luật Doanh nghiệp chỉ xác định chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; là nguyên đon, bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp
Như vậy, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân trực tiếp làm Giám đốc doanh nghiệp tư nhân thì chính chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trường hợp thuê người khác làm Giám đổc quản lý doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ giao kết hợp đồng thuê Giám đôc với người được thuê Thực chất, mối quan hệ thuê người khác quản lý điều hành doanh nghiệp tư nhân chính là quan hệ ủy quyền Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó cần phải phân định trách nhiệm khi người được thuê làm Giám đốc doanh nghiệp tư nhân thực hiện quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân vượt quá phạm vi trong hợp đồng thuê Giám đốc về nguyên tác, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp, nhưng người được thuê làm Giám đổc doanh nghiệp tư nhân khi vượt quá phạm vi quyền hạn nhiệm vụ trong hợp đồng thuê Giám đốc doanh nghiệp tư nhân sẽ phải chịu trách nhiệm như trường hợp vượt quá phạm vi đại diện theo nguyên tắc chung tại Bộ luật Dân sự Theo
đó thì giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ
Trang 34LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối; nếu không được sự đồng ý của người được đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phân giao dịch vượt quá phạm vi đại diện Tuy nhiên,quy định tại khoản 2 Điều 185 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có thể dẫn đến cách hiểu là trong mọi trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, trách nhiệm trước pháp luật của chủ doanh nghiệp tư nhân, người được thuê làm Giám đốc doanh nghiệp tư nhân với các bên liên quan cần được quy định cụ thể rõ ràng hơn trong các quy định của pháp luật và hợp đồng thuê Giám đốc
Doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân nêu đủ các điều kiện sau đây:
- Có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Doanh nghiệp năm 2014:
• Ngành nghề đăng ký kinh doanh không bị cấm đầu tư kinh doanh
• Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy định tại các Điêu 38, 39, 40 và 42 Luật Doanh nghiệp
• Có hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ
• Nộp đủ lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định pháp luật về phí và lệ phí
' Chủ doanh nghiệp tư nhân phải là chủ sở hừu công ty (đối với trường hợp chuyên đối thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu) hoặc thành viên (đối với trường hợp chuyên đôi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên);
- Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bàng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân băng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả các khoản
Trang 35TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp tư nhân và cam kết thanh toán
đủ sổ nợ khi đến hạn;
- Chủ doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty trách nhiệm hữu hạn được chuyển đổi tiếp nhận và thực hiện các họp đồng đó;
- Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bàng văn bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận
và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu có đủ các điều kiện quy định trên
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều này, Cơ quan đăng
ký kinh doanh phải thông báo cho các cơ quan nhà nước có liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật này; đồng thời cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia vê đăng ký doanh nghiệp
So với Luật Doanh nghiệp năm 2005 không quy định về chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thì Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã mở rộng quyền chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2014 mới chỉ ghi nhận doanh nghiệp tư nhân được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn mà chưa được chuyển đổi trực tiếp từ doanh nghiệp tư nhân thành công ty cổ phần Vì vậy, nếu muốn chuyến đổi thành công ty cổ phần thì doanh nghiệp tư nhân phải chuyên qua hai bước: từ doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn; sau đó chuyển từ công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần
V BÁN VÀ CHO THUÊ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Quyên bán, cho thuê doanh nghiệp tư nhân là những quyền năng thê hiện rõ nét sự định đoạt cao về số phận pháp lý doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân so với các chủ sở hữu công ty
Trang 36LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
* Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê doanh nghiệp
tư nhân
Bản chất của quan hệ cho thuê doanh nghiệp không làm thay đổi quyền sở hữu doanh nghiệp tư nhân mà chỉ làm thay đổi quyền quản
lý, sử dụng doanh nghiệp tư nhân cho người khác và chủ doanh nghiệp
tư nhân được thu về một số tiền từ việc cho thuê doanh nghiệp Việc cho thuê doanh nghiệp tư nhân được thiết lập bàng hợp đồng giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và người thuê doanh nghiệp; thực hiện thủ tục thông báo việc cho thuê doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh Cụ thể:
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình nhưng phải thông báo bàng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chửng đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hợp đồng cho thuê có hiệu lực thi hành
Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định trong hợp đồng cho thuê
* Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp
tư nhân
Bản chât của việc bán doanh nghiệp tư nhân chính là việc chủ doanh nghiệp tư nhân chuyên nhượng vốn đầu tư của mình vào doanh nghiệp tư nhân cho người khác cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp tư nhân Việc bán doanh nghiệp tư nhân được thiết lập băng hợp đông giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và người mua doanh nghiệp; thực hiện thủ tục thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp với
cơ quan đăng ký kinh doanh Cụ thể:
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
Trang 37TS Nguyễn Thị Dung (Chủ biên)
cửa doanh nghiệp-phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về pháp luật lao động Người mua doanh nghiệp phải đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp
VI PHÒNG TRÁNH RỦI RO PHÁP LÝ TRONG TỎ CHỨC
nghiệp tư nhân
1.1 Khái niệm rủi ro pháp lý và các loại rủi ro pháp lý
Rủi ro pháp lý là những sự kiện xảy ra bất ngờ gây thiệt hại cho doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp Rủi ro pháp lý thường có phạm vi rất rộng Trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp tham gia vào rất nhiều mối quan hệ, do đó rủi ro có thê đên từ rât nhiêu mối quan hệ của doanh nghiệp Rủi ro pháp lý có thê xảy ra trong nhiều lĩnh vực như rủi ro về tài chính, rủì ro về tổ chức quản lý doanh nghiệp, rủi ro về nhân lực, rủi ro về hợp đồng
Rủi ro pháp lý được phân loại dựa trên các tiêu chí cơ bản sau:
* Căn cứ vào tác động của rủi ro đổi với doanh nghiệp, rủi ro phap
lý được chia thành rủi ro cao và rủi ro thấp
- Xét vê nguồn gốc rủi ro, người ta phân loại rủi ro pháp lý thành rui ro có nguôn gốc bên trong và rủi ro có nguồn gôc bên ngoài
Rui ro pháp lý bên trong là rủi ro tác động trực tiêp đên hoạt động nội bộ của doanh nghiệp trong đó có rủi ro về tổ chức quản lý, rủi ro tài chính, rủi ro nhân lực Rủi ro bên ngoài ià những rủi ro tác động tới các môi quan hệ bên ngoài doanh nghiệp
- Xét theo nguyên nhân dẫn đến rủi ro, rủi ro pháp lý bao gồm: rủi
ro do nguyên nhân khách quan và rủi ro do nguyên nhân chủ quan Rủi ro pháp lý do nguyên nhân chủ quan do con người gây ra trong
Trang 38LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
quản lý doanh nghiệp (yếu tố văn hóa, thói quen hành xử, thiếu kiên thức chuyên môn )- Rủi ro pháp lý khách quan là những rủi ro không thuộc sự kiểm soát của chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp (do
sự kiện bất khả kháng, do thay đổi chính sách pháp luật, do thay đổi của thị trường )
Mức độ thiệt hại do rủi ro pháp lý gây ra khó xác định bởi vì khi rủi ro pháp lý xảy ra, doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu các hậu quả khác nhau Mức độ thiệt hại do rủi ro pháp lý gây ra thường không thể xác định ngay và doanh nghiệp cũng khó có thể tự đánh giá được Chủ sở hữu doanh nghiệp phải « trả giá » bằng những tổn thất về tài sản, bị mất thị phần, phá sản thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Vì vậy, chủ sở hữu doanh nghiệp cần phải nhận diện và đánh giá đây
đủ từng rủi ro pháp lý để ngăn ngừa, kiểm soát các rủi ro pháp lý
1.2 Rủi ro pháp lý trong tổ chức quản lý doanh nghiệp
Rủi ro pháp lý trong tổ chức quản lý doanh nghiệp là một loại rủi ro pháp lý liên quan trực tiếp đến hoạt động tổ chức quản lý doanh nghiệp (ra các quyết định quản lý) cỏ khả năng hoặc đã làm cho doanh nghiệp bị thiệt hại về mặt lợi ích
Rủi ro pháp lý trong tổ chức quản lý doanh nghiệp bắt nguồn từ tranh chấp, xung đột, vi phạm cơ bản sau:
(i) Bất đồng giữa những người chủ sở hữu doanh nghiệp với người được thuê quản lý doanh nghiệp (trong trường hợp chủ sở hữu doanh nghiệp thuê người quản lý doanh nghiệp);
(ii) Tranh châp về quyền lợi giữa những người chủ sở hữu doanh nghiệp với nhau;
(iii) Người được thuê quản lý doanh nghiệp, chủ sở hữu doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật và Điều lệ doanh nghiệp do trình độ nhận thức hạn chê hoặc cố tình vi phạm pháp luật và Điều lệ doanh nghiệp vì lợi ích riêng của mình
1.3 Rủi ro pháp lý trong tổ chửc quản lý doanh nghiệp tư nhân
Trang 39TS Nguyên Thị Dung (Chủ biên)
Doanh-nghiệp tư nhân do một cá nhân thành lập và làm chủ nên chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định quản trị doanh nghiệp, quyết định tổ chức quản lý doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp điều hành doanh nghiệp hoặc thuê người khác về quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (gọi chung
là quản lý doanh nghiệp) Như vậy, trong doanh nghiệp tư nhân không
có sự phân chia quyền lực quản lý doanh nghiệp vì người được chủ doanh nghiệp tư nhân thuê quản lý thực chất cũng chỉ là người "làm thuê" cho chủ doanh nghiệp tư nhân và chỉ được quản lý doanh nghiệp
tư nhân trong phạm vi được chủ doanh nghiệp tư nhân ủy quyền
- Trong trường họp chủ doanh nghiệp tư nhân trực tiếp quản lý doanh nghiệp thì sẽ không tồn tại rủi ro phát sinh từ chủ sở hữu doanh
nghiệp và người quản lý doanh nghiệp nhưng vẫn phát sinh những rủi
ro trong việc ra các quyết định quản lý của chủ doanh nghiệp tư nhân
do yểu kém về năng lực quản lý hoặc thiếu ý thức tuân thủ pháp luật.
- Trong trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân thuê người quản lý doanh nghiệp thì sẽ phải tính đến việc phòng ngừa rủi ro trong tổ chức quản lý doanh nghiệp do hoạt động quản lý doanh nghiệp của người được chủ doanh nghiệp tư nhân thuê Có thể chia thành hai loại rủi ro chủ yếu sau:
+ Rủi ro do người được thuê quản lý doanh nghiệp tư nhân vượt
quá phạm vỉ quản lý được chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân ủy quyền;
+ Rủi ro do người được thuê quản lý doanh nghiệp tư nhân cổ ý
xâm phạm lợi ích của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân.
Các rủi ro trên có thể do người được thuê quản lý doanh nghiệp tư nhân không có năng lực về quản lý doanh nghiệp Trường họp này người được thuê quản lý doanh nghiệp tư nhân không có mâu thuẫn, xung đột lợi ích với chủ doanh nghiệp tư nhân nhưng do năng lực quản lý có hạn nên gây rủi ro cho chủ doanh nghiệp tư nhân Rủi ro trên cũng có thể bắt nguồn từ sự chủ quan và không có ý thức tuân thủ các thỏa thuận trong họp đồng thuê quản lý doanh nghiệp hoặc bắt nguôn từ sự cô ý của người được thuê quản lý doanh nghiệp tư nhân
Trang 40LUẬT KINH TẾ CHUYÊN KHẢO
nhằm toan tính xâm phạm, trục lợi bất hợp pháp tài sản lợi ích của chủ doanh nghiệp tư nhân
quản lý doanh nghiệp tư nhân
Thứ nhất, tuân thủ các quy định pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp
Trong những văn bản pháp luật đêu có các quy định vê những điều doanh nghiệp tư nhân được làm, những việc doanh nghiệp tư nhân không được làm hoặc cấm làm; những việc được làm đi cùng với các điều kiện, quyền lựa chọn, thời gian văn bản pháp luật vẻ việc cấm làm có hiệu lực Để kiểm soát rủi ro pháp lý về việc tô chức quản lý doanh nghiệp trong việc ra các quyết định quản lý, chủ
sở hữu doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp cần rà soát các
quy định pháp luật để tránh thực hiện những việc luật cẩm; đối với
trường hợp luật cho phép được làm kèm theo các điều kiện doanh nghiệp cần đánh giá doanh nghiệp mình đã đáp ứng đúng và đầy đủ các điều kiện theo quy định chưa, nếu không đáp ứng được điều kiện luật quy định thì không nên làm
Thứ hai, sử dụng dịch vụ tư vẩn pháp lý hoặc đề nghị sự hỗ trợ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Ngoài Luật Doanh nghiệp năm 2014, các quy định pháp luật về tô chức quản lý doanh nghiệp tư nhân còn rải rác ở nhiều văn bản khác như Bộ luật Dân sự, các nghị định hướng dẫn Luật Doanh nghiệp Ngoài ra, việc ra quỵêt định đầu tư kinh doanh trong từng lĩnh vực cụ thể có thê chịu sự điêu chỉnh của pháp luật chuyên ngành Các văn bản pháp luật đó có thê dân đên những cách hiểu khác nhau Nếu chủ sở hữu doanh nghiệp chưa thực sự hiểu chắc chắn về một điều luật liên quan đên quản lý doanh nghiệp mà "mạo hiểm" đưa ra các quyết định quản lý và tô chức thực hiện các hoạt động đỏ theo quan điểm và cách thức nhìn nhận của mình thì doanh nghiệp sẽ có nguy cơ phái gánh chịu rủi ro pháp lý từ các quyết định này!