1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Câu hỏi ôn tập ls âm nhạc

4 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi ôn tập ls âm nhạc
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Lịch sử âm nhạc
Thể loại Ôn tập
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 244,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU HỎI ÔN TẬP Câu 1 Hãy kể tên các tổ chức dàn nhạc và nhạc khí ở thời phong kiến nhà Nguyễn? Gợi ý trả lời Dàn Nhã nhạc, dàn Nhạc huyền, dàn Đại nhạc, (còn gọi là Cổ xúy đại nhạc), dàn Tế nhạc, d.

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP

Câu 1: Hãy kể tên các tổ chức dàn nhạc và nhạc khí ở thời phong kiến nhà Nguyễn? Gợi ý trả lời

Dàn Nhã nhạc, dàn Nhạc huyền, dàn Đại nhạc, (còn gọi là Cổ xúy đại nhạc), dàn Tế nhạc, dàn Ty chung và Ty khánh, dàn Ty cổ, dàn Quân nhạc Ngoài ra, còn có những những tổ chức dàn nhạc khác trong cung đình

Câu 2: Hãy kể tên các thể loại ca nhạc cung đình ở thời phong kiến nhà Nguyễn? Gợi ý trả lời

Ca nhạc cung đình triều Nguyễn bao gồm khá nhiều thể loại: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngủ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Nhã nhạc, Yến nhạc, Tế nhạc (tiểu nhạc), Đạo nghinh nhạc, Cung trung nhạc

Câu 3: Hãy nêu một vài đặc điểm về loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Hát bội ở thời phong kiến nhà Nguyễn?

Gợi ý trả lời

Có thể nói, thế kỷ 19 - dưới triều đại nhà Nguyễn - là giai đoạn cực thịnh của nghệ thuật sân khấu tuồng

+ Nhiều nhà hát đã được xây dựng như: Duyệt Thị Đường được coi là nhà hát đầu tiên được xây dưới thời vua Gia Long, tiếp đó là Đài Thông Minh, Thanh Bình Thượng được xây năm 1825 dưới thời Minh Mạng, rồi đến Minh Khiêm Đường xây năm 1864 ở thời vua Tự Đức v.v… + Tuyển mộ các đào kép nổi tiếng ở mọi nơi về kinh thành biểu diễn Ngoài dân gian xuất hiện nhiều gánh hát tuồng

+ Mở trường đào tạo diễn viên: Thanh Bình Thự, Học Bộ Dĩnh là các trường đào tạo diễn viên hát tuồng lớn lúc bấy giờ

+ Chăm lo tới việc soạn bài vở: Vua Tự Đức đã mở ra phòng Hiệu Thơ để đàm đạo và soạn

vở, đồng thời phong phẩm hàm chức tước cho những người làm nghề để yên tâm phục vụ cung đình

+ Về mặt kịch bản cũng đã bắt đầu xuất hiện sự phân biệt Kinh bản và phường bản

+ Về mặt thể loại, so với tuồng bản của những thế kỷ trước còn để lại, tuồng bản thế kỷ 19 vượt trội hẳn lên vì sự phong phú, đa dạng Hầu hết các vở tuồng ngày nay tìm thấy được đều được

sáng tác vào thế kỷ này Gồm có: tuồng pho, tuồng thầy, tuồng trường thiên, tuồng ngự, tuồng lịch

sử và tuồng đồ

+ Về phương diện làn điệu, ngoài thể nói lối là thể chủ yếu dùng để đối đáp trong tuồng ở

những thế kỷ trước, còn có các thể bạch, thán, oán, xướng, ngâm, vịnh và các điệu hát Nam, hát Khách

+ Dàn nhạc tuồng nổi lên sự phong phú về các loại trống Có thể nói: nhạc khí gõ là loại chiếm ưu thế trong dàn nhạc tuồng Ngoài ra còn một số nhạc khí hơi (kèn, sáo) và dây (nhị, gáo, nguyệt, tam, sến)

Trang 2

- Với sự quan tâm đó đã giúp cho nghệ thuật hát tuồng phát triển mạnh mẽ và rất phong phú với sự đa dạng về thể loại trong đó có sự phân chia rõ ràng giữa tuồng cung đình và tuồng dân gian

Câu 4: Hãy nêu một vài đặc điểm về loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Hát chèo

ở thời phong kiến nhà Nguyễn?

Gợi ý trả lời

+ Trước sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật tuồng thì chèo cũng đã có ảnh hưởng nhất định Giống như tuồng đồ ở triều đình nhà Nguyễn (từ Huế trở vào), chèo cũng đã nói lên tiếng nói của nhân dân lao động vạch mặt bọn quan lại sâu mọt chuyên đục khoét nhân dân, đả kích thói

hư tật xấu và những tầng lớp ăn bám trong xã hội

+ Một số nhân vật tuồng được du nhập vào sân khấu chèo: các vai vua, tể tướng Trên sân khấu chèo cũng xuất hiện những cảnh đánh nhau có đao thương, cung kiếm, có cưởi ngựa, đi kiệu Những vai tuồng được mượn sang cùng với tất cả điệu bộ và trang phục, làn điệu (nói lối, hát Nam, hát Khách ) song mức độ sử dụng còn đơn giản, chưa thành thạo

+ Nhờ ảnh hưởng của tuồng, chèo củng có một số tiến bộ về động tác, bài trí, diễn xuất Những đoạn nhạc lưu không có nhịp điệu rõ ràng hơn Tuy nhiên, cũng có nhiều màn, lớp mượn

từ tuồng sang chưa được "chèo hóa" tốt đã làm nghệ thuật này bị pha tạp không ít

+ Từ sau khi Pháp xâm lược nước ta, chiến tranh và những thay đổi lớn trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội đã gây ra những khó khăn cho sự phát triển của loại hình nghệ thuật sân khấu

cổ truyền và chuẩn bị cho những biến đổi của chèo củng như của tuồng ở đầu thế kỷ XX

Câu 5: Hãy nêu một vài đặc điểm về loại hình nghệ thuật thính phòng Ca Huế ở thời phong kiến nhà Nguyễn?

Gợi ý trả lời

- Được hình thành đầu thế kỉ 19 có nguồn gốc từ trong cung đình là sản phẩm của triều đình

nhà Nguyễn

- Hệ thống bài bản của ca Huế gồm có một số bài được rút ra từ Tế nhạc và một số bản sáng

tác mới ví dụ như các bài: Long Ngâm; ngũ đối thượng; ngũ đối hạ Một số bản do các ông hoàng,

bà chúa sáng tác và họ tự biên soạn, tự chơi như bài: Tứ đại cảnh do vua Tự Đức sáng tác, hay cuốn Nguyệt cầm phổ do ông hoàng Nam sách sáng tác, cuốn Nam cầm phổ do ông hoàng Miên

Thám sang tác v.v…

- Ca huế đạt cực thịnh vào thời vua Tự Đức (1858-1882) và rất phát triển mang tính chuyên nghiệp cao, điều đó được thể hiện ở tập ca nhạc Huế gồm 25 bài được ghi chép lại vào năm 1863, trong đó có 15 bài không lời và 10 bài có lời ca (9 bài viết bằng chữ Hán và 1 bài viết bằng chữ Nôm) Một số bài bản trong đó có tên gọi giống như những bài bản còn thông dụng trong ca nhạc

Huế ngày nay: Lưu thủy, Xuân phong, Long hổ

Giai điệu những bản khác như Lưu thủy, Kim tiền, Hồ Quảng, Xuân phong cũng ít nhiều

khác các bài bản cùng tên đang thông dụng ngày nay Một số bài ca Huế, như Mười bài ngự (còn

gọi mười bản Tàu, thập thủ liên hoàn) vừa có lời bằng chữ Hán phổ biến trong cung đình, vừa có lời nôm thông dụng trong dân gian Cho nên, có thể bấy giờ ca Huế đã được phổ biến khá rộng rãi

cả trong cung đình cũng như ngoài dân gian

Trang 3

Sau khi thực dân Pháp đặt gót sắt lên đất nước ta, triều đình Huế ngày càng trở nên hèn yếu,

lụn bại và mục nát, ca nhạc Huế đã được nghệ nhân và nhân dân nuôi dưỡng, bảo vệ

Ca nhạc Huế ngày càng đi sâu vào dân gian, ngày càng được bồi đắp thêm phong phú bằng những nguồn nhạc dân gian giàu màu sắc và đầy sức sống Những điệu hò, điệu lý đặc sắc của Huế dần dần gia nhập chương trình của ca nhạc Huế Những bài bản cổ điển của ca Huế xen kẽ

với những giọng Hò mái nhì, Lý tử vi, Lý con sáo tạo nên một sự giao thoa giữa nguồn nhạc bác học cung đình và nguồn nhạc dân gian Những công thức: Hò mái nhì xuống Nam Ai qua Nam Bình, Hò mái nhì xuống Nam Bình qua Tứ đại hoặc Lý tử vi xuống Tương tư khúc qua Quả phụ

được nghệ nhân nghệ sĩ ca nhạc Huế thực hiện một cách nhuần nhuyễn, lưu loát, tự nhiên

Tỏa rộng ra ngoài dân gian, ca nhạc Huế sẽ lại trở thành ngọn nguồn của một dòng ca nhạc thính phòng cổ truyền phổ biến ở miền Nam Trung bộ và miền Nam - nơi lưu giữ những gì còn lại của dòng nhạc cung đình, dân gian hóa nó và nơi mà nguồn nhạc cung đình và nguồn nhạc dân gian lại trở lại hòa quyện với nhau trong một khối thống nhất, đảm bảo cho sự tồn tại bền lâu của những tinh hoa âm nhạc cung đình cả sau khi ngai vàng với chế độ phong kiến vĩnh viễn sụp đổ trên đất nước ta

Câu 6: Hãy nêu một vài nét về những thay đổi và cải biến trong lĩnh vực xướng âm và nhạc cụ trong giai đoạn âm nhạc từ khi thực dân pháp sang xâm lược đến cách mạng tháng tám năm 1945?

Gợi ý trả lời

- Lĩnh vực xướng âm

- Cùng với sự ra đời của chữ quốc ngữ, lối ký âm bằng các chữ Hò, Xự Xang xưa kia được viết bằng chữ Hán Nôm, cũng được la tinh hóa

- Bên cạnh những tìm tòi cải tiến trên cơ sở lối ghi âm cổ truyền, lối ghi nhạc của phương Tây trên khuông nhạc 5 dòng kẻ cũng được du nhập và bắt đầu được sử dụng trong việc nghiên cứu, ghi chép âm nhạc dân gian cổ truyền

- Bên cạnh những ưu điểm của lối ghi âm phương Tây, thì khuyết điểm của nó là gò bó những làn điệu ca nhạc cổ truyền dân tộc vào những khuôn cao độ và tiết tấu cứng nhắc, làm mất

đi tính linh hoạt và vẻ đep tinh tế của những làn điệu ca nhạc cổ truyền dân tộc

- Lĩnh vực nhạc cụ

- Ở đầu thế kỷ 20, xuất hiện một loạt thí nghiệm canh tân nhạc khí Đó là những hoạt động sáng tạo nhạc của hội Khai trí tiến đức ở phía Bắc và ông Trần Quang Qườn ở phía Nam

- Những nhạc cụ như: Đàn Thận đức cầm, Dương tranh cầm (rộng gấp 2, 3 kích thước đàn tranh), Luyến chúa cầm (2 dây), Phụng minh cầm (3 dây) phỏng theo cây vĩ cầm song lớn hơn và

có phím khoét lõm xuống, Bách thinh cầm, Bằng minh cầm (3 dây) có 12 phím, kéo bằng cung, tổng hợp nhưng đặc tính của đàn hồ và đàn nguyệt, Lục ỷ cầm (có 6 dây sắt ) được sáng thể nghiêm của hội Khai trí tiến đức

- Những nhạc cụ như: Phỏng theo cây ghi ta mà chế ra đàn Đại ba tiêu, Tiểu ba tiêu, đàn Song thương (lớn hơn đân nhị), đàn Đại đồng minh (ba đây phối hợp thùng đàn ghi ta và cần đàn tam), đàn Trùng đồng phỏng theo đàn bầu nhưng có hai dây và thùng lớn của ông Trần Quang Qườn

Trang 4

- Một số nhạc cụ Tây phương du nhập Việt Nam cũng được Việt hóa và tham gia những dàn nhạc dân tộc cổ truyền như trường hợp cây ghi-ta lõm phím có thể nhấn nhá như các nhạc cụ cổ truyền khác của dân tộc

Ngày đăng: 26/02/2023, 11:56

w