1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

c điểm ĐTPT - nhóm 1 potx

54 292 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Đầu Tư Phát Triển Và Sự Quán Triệt Các Đặc Điểm Trong Quản Lý Đầu Tư
Tác giả Phạm Hồng Dương, Trịnh Hoàng Vũ, Nguyễn Minh Khiêm, Trần Văn Hưng, Nguyễn Xuân Đông
Người hướng dẫn TS Từ Quang Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 347 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI: ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂNVÀ SỰ QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM NÀY TRONG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ, THỰC HIỆN VÀ VẬN HÀNH KẾT QUẢ ĐẦU TƯ Sinh Viên Phạm Hồng Dương Trịnh Hoàng Vũ Nguyễn Minh

Trang 1

ĐỀ TÀI: ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

VÀ SỰ QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM NÀY TRONG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ, THỰC HIỆN VÀ VẬN HÀNH

KẾT QUẢ ĐẦU TƯ

Sinh Viên

Phạm Hồng Dương Trịnh Hoàng Vũ Nguyễn Minh Khiêm Trần Văn Hưng Nguyễn Xuân Đông

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 2

Từ khi thực hiện theo cơ chế thị trường đến nay, kinh tế Việt Nam đãdần hòa nhập với nền kinh tế thế giới, với những bước phát triển và thành tựuvượt bậc như: Tốc độ tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân ngày càng đượccải thiện, đất nước đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói, công nghiệp hóa, hiệnđại hóa từng bước được đẩy mạnh Và đặc biệt sau những nỗ lực không biếtmệt mỏi sự kiện Việt Nam gia nhập WTO chính là minh chứng cho thấy hìnhảnh nền kinh tế Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế đang thay đổi, đó là hìnhảnh một nền kinh tế năng động, trẻ trung, thân thiện và tiềm năng Những lýluận về kinh tế cũng như thực tiễn của 25 năm đổi mới đều chỉ ra rằng đầu tưphát triển chính là yếu tố hạt nhân trong chiến lược phát triển nền kinh tếquốc dân Chính vì vai trò vô cùng to lớn của đầu tư phát triển nên vấn đề đặt

ra là phải nghiên cứu kĩ lượng những đặc điểm của nó và từ đó hoạch địnhnhững phương hướng, quán triệt từng đặc điểm trong công tác quản lý đầu tưcho phù hợp

Đề tài “Đặc điểm của đầu tư phát triển và sự quán triệt các đặc điểm

đó vào công tác quản lý đầu tư” tập trung làm rõ các đặc điểm của đầu tư

phát triển và làm rõ yêu cầu đối với việc quán triệt các đặc điểm này trongcông tác chuẩn bị, thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư Qua đó liên hệvới thực tiễn Việt Nam đánh giá tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tưphát triển trong công tác hoạt động đầu tư giai đoạn từ năm 2000 đến nay Nhóm xin chân thành cảm ơn thầy PGS TS Từ Quang Phương đã tậntình hướng dẫn , uốn nắn giúp chúng em hoàn thành đề tài này

Trong quá trình thực hiện mặc dù cả tập thể nhóm đã cố gắng làm việcchăm chỉ và nghiêm túc, tuy nhiên do khả năng kiến thức cũng như năng lựccòn hạn chế chắc chắn trong bài viết vẫn còn tồn tại những khuyết điểm saisót Vì vậy rất mong ý kiến đóng góp bổ sung của bạn đọc để đề tài ngàycàng được hoàn thiện hơn

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

1. Khái niệm, phân loại đầu tư

Trang 3

1.1 Khái niệm đầu tư :

Đầu tư là một khái niệm trừu tượng, bởi xét theo từng phương diện khácnhau và góc độ tiếp cận khác nhau của người nghiên cứu lại có những quanđiểm khác nhau về đầu tư , ta có thể xem xét như :

- Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào hoạt động nào đó nhằm thu

về mục đích và mục tiêu cho chủ đầu tư trong tương lai

- Trên phương diện tài chính: Đầu tư là một chuỗi hoạt động chi tiêu để chủ đầu

tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời

- Trên góc độ tiêu dùng, đầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại để thu về

mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai

- Theo quan điểm kế toán: Khái niệm đầu tư gắn liền với việc phân bổ các khoản

vốn đã bỏ ra vào các mục chi cố định, trong một thời gian nhất định, phục

vụ cho công tác quản lý các kết quả đầu tư Thực chất đây là sự ghi chép,hạch toán kết quả đầu tư

Các quan điểm trên xét theo mỗi phương diện riêng đều không sai vàphù hợp với góc độ tiếp cận của người nghiên cứu Tuy nhiên Đầu tư làmột khái niệm hết sức quan trọng đối với công tác nghiên cứu kinh tế nênđòi hỏi phải có một cái nhìn bao quát hơn, toàn diện hơn Đầu tư nói chung

là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đónhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã

bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của các công cuộc đầu

tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực màngười đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư

Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, làsức lao động và trí tuệ

Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiềnvốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học,nhàcửa…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ

Trang 4

thuật…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao độngcao hơn trong nền sản xuất xã hội.

Tóm lại : đầu tư là việc chi dùng vốn và các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm thu về một kết quả lớn hơn nguồn lực đã chi ra để đạt kết quả đó, duy trì và tạo thêm những tài sản mới, năng lực mới cho nền kinh tế và cho chủ đầu tư trong tương lai.

1.2 Phân loại đầu tư

Phần trên, ta đã thấy có rất nhiều cách tiếp cận với hoạt động đầu tư Vìthế, cũng có rất nhiều cách để phân loại hoạt động đầu tư Trên quan điểmmục đích và tính chất của hoạt động đầu tư, ta có:

- Đầu tư tài chính : Đầu tư tài chính (đầu tư tài sản tài chính) là loại đầu tư

trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giátrên thị trường tiền tệ, thị trường vốn để hưởng lãi xuất định trước (gửi tiếtkiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lợi nhuận tuỳ thuộc vào kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty phát hànhn (mua cổ phiếu…) Đầu tưtài sản tài chính là loại đầu tư không trực tiếp là tăng tài sản thực (tài sản vậtchất) cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vựcnày) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính cho chủ đầu tư Mua cổ phiếu(đầu tư cổ phiếu) gắn với việc chuyển quyền sở hữu và hoạt động cho vaydẫn đến chuyển quyền sử dụng, do vậy, hai loại đầu tư này đều thuộc hoạtđộng đầu tư dịch chuyển Đầu tư tài chính thường được thực hiện gián tiếpthông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán.Đầu tư tài chính còn có đặc điểm là: Chủ đầu tư thường có kỳ vọng thuđược lợi nhuận cao khi đầu tư nhưng thực tế lợi nhuận thu được có thể tănggiảm không theo ý muốn Tuy nhiên, trong đầu tư tài chính vốn đầu tư bỏ rađược lưu chuyển dễ dàng và khi cần thiết vẫn có thể rút ra nhanh chóng chonên rất thu hút được các nhà đầu tư vì vậy đầu tư tài chính là kênh huy độngvốn rất quan trọng cho hoạt động đầu tư phát triển và là một trong những

Trang 5

loại hình đầu tư lựa chọn để tối đa hoá lợi ích, giảm thiểu rủi ro cho các chủ

đầu tư

- Đầu tư thương mại Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền

bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợinhuận do chênh lệch giá khi mua và gía khi bán Cũng giống như đầu tư tàichính, đầu tư thương mại cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế(nếu không xét đến ngoại thương ) , mà chỉ làm tăng tài sản tài chính củangười đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hànghoá giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của

họ Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông,phân phối hàng hoá do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư pháttriển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất kinhdoanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung

- Đầu tư phát triển : là loại hình đầu tư quan trọng nhất của nền kinh tế Về

cơ bản, nó chính là nguồn đem lại tài sản cho nền kinh tế Chính vì tầmquan trọng của nó nên chúng ta sẽ xem xét một cách kỹ càng hơn vấn đềđầu tư phát triển trong các mục tiếp theo đây

2. Đầu tư phát triển

2.1 Khái niệm đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốnhiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tàisản vật chất (nhà xưởng, máy móc thiết bị ) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹnăng), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm vì mục tiêu phát triển Đầu tư phát triển hoàn toàn khác về mặt bản chất so với đầu tư tài chính

và đầu tư thương mại.Loại đầu tư đem lại kết quả không chỉ người đầu tư

mà cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng trên đây, không chỉ trực tiếp làmtăng tài sản của người chủ đầu tư mà của cả nền kinh tế chính là đầu tư pháttriển Còn các loại đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản chính của người đầu

tư, tác động gián tiếp đến làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua sự đóng

Trang 6

góp tài chính tích luỹ của các hoạt động đầu tư này cho đầu tư phát triển,cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và thúc đẩy quá trình lưu thongphân phối các sản phẩm do các kết quả của đầu tư phát triển tạo ra, đó là đầu

tư tài chính và đầu tư thương mại

Đầu tư phát triển, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại là ba loại đầu tưluôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ với nhau Đầu tư phát triển tạo tiền đềtăng tích luỹ, phát triển hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư thương mại.Ngược lại, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện đểtăng cường đầu tư phát triển

Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏvốn thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Trên quan điểmphân công lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tưtheo ngành và đầu tư theo lãnh thổ Trên góc độ tính chất và mục đích đầu

tư, đối tượng đầu tư chia làm hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợinhuận và công trình phi lợi nhuận Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng,đối tượng đầu tư chia thành: loại được khuyến khích đầu tư, loại khôngđược khuyến khích đầu tư và loại cấm đầu tư Từ góc độ tài sản, đối tượngđầu tư chia thành: những tài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản vô hình.Tài sản vật chất, ở đây, là những tài sản cố định được sử dụng cho sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động Tài sản vôhình như phát minh sáng chế, uy tín, thương hiệu…

Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều nguồn lực lớn Hiểu theo nghĩa hẹp,nguồn lực của nó là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nó là sự phối hợp các nguồnlực: tiền vốn, lao động tài nguyên, công nghệ Việc đánh giá một dự ánđầu tư nhất thiết phải tính đến các yếu tố trên

Các hoạt động của đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư xây dựng sửa chữakết cấu hạ tầng cơ sở (cầu đường, nhà cửa ); đầu tư để đào tạo, bồi dưỡngnguồn nhân lực (đầu tư cho giáo dục các cấp, đầu tư cho khoa học côngnghệ, mở các trường học dạy nghề) nâng cao trình độ hiểu biết cho nhân

Trang 7

dân, trình độ tay nghề cho công nhân; xây dựng các nhà máy sản xuất tạothêm công ăn việc làm

Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vậtchất (nhà xưởng, thiết bị ), sự gia tăng về tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa,chuyên môn, khoa học kỹ thuật ) Về mặt bản chất, nó chính là sự gia tăngnăng lực sản xuất cho nền kinh tế

Hiệu quả của đầu tư phát triển được thể hiện trong mối quan hệ giữa kếtquả kinh tế - xã hội và chi phí bỏ ra của dự án Hiệu quả này cần xem xéttrên phương diện lợi ích của chủ đầu tư và lợi ích mang lại cho xã hội Mộtphương án đầu tư thành công, nó phải đảm bảo được tính sáng tạo của chủđầu tư (tư nhân, Nhà nước ), đem lại lợi nhuận cho chủ đầu tư và về mặt

xã hội phải góp phần năng cao chất lượng cuộc sống (môi trường, y tế, giáodục )

Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định.Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tưnói chung và vốn đầu tư nói riêng Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặcđược giao quản lý, sử dụng vốn đầu tư

Ví dụ về đầu tư phát triển : Một nhà máy sản xuất công nghiệp được xâydựng thì tài sản vật chất của người đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời tàisản vật chất, tiềm lực sản xuất của nền kinh tế cũng được tăng thêm Lợi íchtrực tiếp do sự hoạt động của nhà máy này đem lại cho người đầu tư là lợinhuận, còn cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêu dung (cho sản xuất vàcho sinh hoạt) tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp cho ngân sách, giảiquyết việc làm cho người lao động Qua đó trình độ nghề nghiệp, chuyênmôn của người lao động tăng thêm không chỉ có lợi cho chính họ (để có thunhập cao, địa vị cao trong xã hội) mà còn bổ sung nguồn lực có kỹ thuật chonền kinh tế để có thể tiếp nhận công nghệ ngày càng hiện đại, góp phầnnâng cao dần trình độ công nghệ và kỹ thuật cho nền sản xuất quốc gia

Trang 8

Mục đích của đầu tư phát triển phải vì sự phát triển của một quốc gia, vìlợi ích của cộng đồng và cũng vì chủ đầu tư Đó là tăng trưởng kinh tế, nângcao chất lượng cuộc sống, tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận đốivới doanh nghiệp.

2.2 Vai trò của đầu tư phát triển

- ĐTPT vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu

 ĐTPT tác động đến tổng cầu : Đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớntrong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế Theo số liệu của Ngân hàng Thếgiới, đầu tư thường chiếm khoảng 24_28%trong cơ cấu tổng cầu của tất

cả các nước trên thế giới Sự tăng lên của đầu tư kéo theo tổng cầu tănglên

 ĐTPT tác động đến tổng cung : khi thành quả của đầu tư phát huy tácdụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổngcung dài hạn tăng lên , kéo theo sản lượng tiềm năng tăng Sản lượngtăng dẫn đến giá cả giảm xuống, như vậy lại dẫn đến kích thích tiêudùng tăng Tiêu dùng tăng chính là động lực cho sản xuất vì vậy tổngcung tăng

- ĐTPT làm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế :

 ĐTPT tác động đến sự chuyển dịch nền kinh tế của mỗi quốc gia để đạttốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế

 Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối vềphát triển giữa các vùng lãng thổ, đưa những vùng kém phát triển thoátkhỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tàinguyên, địa thế, kinh tế, chính trị…của những vùng có khả năng pháttriển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển

- ĐTPT tác động làm tăng năng lực khoa học nền kinh tế đất nước : công

nghệ là nhân tố trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa ,hiện đại hóa đấtnước , và ĐTPT chính là điều kiện tiên quyết để phát triển và tăng cườngcông nghệ ở nước ta Có 2 con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên

Trang 9

cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài Dù là sựnghiên cứu hay nhập nó thì cũng cần phải có vốn đầu tư Mọi phương ánđổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương ánkhông khả thi.Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ thìcông nghệ ở Việt Nam còn rất lạc hậu thua xa công nghệ của thế giới,nguyên nhân phần lớn là do chúng ta không có đủ nguồn lực để phát triển

về công nghệ, điều này chỉ có thể khắc phục từng bước trong từng lĩnh vựccông nghệ như đầu tư chuyển giao công nghệ tiên tiến của các nước , đồngthời nêu cao tinh thần học hỏi sáng tạo, chú trọng đào tạo đội ngũ khoa họccông nghệ để dần bắt kịp với thế giới

- ĐTPT tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế : Muốn giữ tốc

độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ15- 20% so vớiGDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước: Ở các nước phát triển, ICORthường lớn từ 5- 7 ở các nước chậm phát triển ICOR thấp từ2- 3 Đối vớicác nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi là vấn đề đảm bảocác nguồn vốn đầu tư đủ để đạt được một tỉ lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân

dự kiến Có sự khác nhau trên là vì chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơcấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành các vùng lãnh thổ cũng nhưphụ thuộc vào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung Thông thườngICOR trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, ICOR trong giai đoạnchuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụng năng lực Do đó ở các nước pháttriển, tỷ lệ đầu tư thấp thường đãn đến tốc độ tăng trưởng thấp

2.3 Đặc điểm của đầu tư phát triển

- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển

thường rất lớn :

 Vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra

để tạo năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) vàcác hoạt động đầu tư khác Vốn đầu tư nằm khê đọng lâu trong suốt quátrình thực hiện đầu tư Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo

Trang 10

vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạchđầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độđầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm

 Vật tư và lao động là những nguồn lực cần thiết và quan trọng nhất quyết

định sự thành công hay thất bại của hoạt động đầu tư Lao động cần sử

dụng cho các dự án ĐTPT rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểmquốc gia Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cần tuânthủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loạinhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất nhữngảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lao động,giải quyết lao động đang thiếu việc làm

- Thời kì đầu tư thường kéo dài : Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực

hiện dự án cho đến khi hoàn thành và thực hiện dự án Trong đặc điểm trên,

ta thấy rằng những dự án đầu tư phát triển thường có quy mô rất lớn Nhiều

dự án đầu tư phát triển có thể kéo dài đến hàng chục năm do vốn nằm khêđọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốnđầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trunghoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kếhoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng

cơ bản Quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư cần có một khoản thời giannhất định

- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư thường kéo dài : Thời gian vận hành

các kết quả đầu tư được tính từ khi công trình đưa vào hoạt động cho đếnkhi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình Đây là một đặc điểm rấtriêng của đầu tư phát triển Thứ nhất, những sản phẩm của đầu tư phát triểnđều là bộ phận của nền sản xuất Nó tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tạo

đà tăng trưởng cho nền kinh tế, nên thời gian sử dụng dài Thứ hai, quy môcủa các công trình rất lớn, nên cần có một khoảng thời gian tương đối để thuhồi vốn và có lợi nhuận

Trang 11

- Các thành quả của hoạt động ĐTPT là các công trình xây dựng thường phát

huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình thựchiện ĐT cũng như thời kỳ vận hành các kết quả ĐT chịu ảnh hưởng lớn củacác nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng

- Đầu tư là một loại hình hoạt động kinh tế gắn liền với các yếu tố rủi ro :

Đầu tư nói chung và đầu tư phát triển nói riêng mang một đặc điểm quantrọng: độ rủi ro cao Nguồn lực cần cho đầu tư phát triển là rất lớn , thờigian đầu tư lại kéo dài khiến rủi ro càng tăng cao

3. Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác chuẩn

bị, thực hiện và vận hành kết quả đầu tư.

3.1. Sự quán triệt do đặc điểm quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho

hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn

- Sự quán triệt xuất phát từ đặc điểm vốn cho ĐTPT thường lớn :

Cần phải huy động vốn hiệu quả :Sử dụng đa dạng và tân dụng tối đa việc tạo vốn từ các kênh huy động vốn khác nhau như việc phát hành trái

phiếu, cổ phiếu của DN các thành phần kinh tế, nhất là các DNNN cổphần hóa với việc phát triển thị trường chứng khoán, đồng thời phải chútrọng tính hiệu quả an toàn và tác động tích cực của thị trường đến cácchỉ tiêu kinh tế vĩ mô Và luôn luôn phải thực hiện theo phương châm “vốn trong nước là quyết định , vốn nước ngoài là quan trọng “

 Đối với vốn trong nước ta tạo điều kiện huy động vốn hợp lý bằng cơchế lãi suất và những chính sách khuyến khích cổ phần hóa làm tăngnguồn vốn cho đầu tư phát triển, thực hiện đầu tư có trọng điểm,quản

lý vốn đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả của nguổn vốn sử dụng

 Đối với những nguồn vốn nước ngoài ta nên thực hiện chủ trương

mở cửa,giảm các thủ tục rườm rà,tạo môi trường đầu tư hấp dẫn chocác nhà đầu tư điều chỉnh quy hoạch ngành, nhằm dỡ bỏ các hạn chếđối với nhà đầu tư nước ngoài, phù hợp với các cam kết quốc tế songphương và đa phương; ban hành các quy hoạch ngành còn thiếu như

Trang 12

quy hoạch mạng lưới các trường đại học, dạy nghề cùng các điềukiện, tiêu chuẩn cấp phép cho các dự án thuộc lĩnh vực này; đồngthời tăng cường đầu tư nâng cấp các công trình cơ sở hạ tầng, rà soátcác dự án đã được cấp phép

 Sử dụng vốn hiệu quả : Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự

án ,vừa để tránh ứ đọng vốn nên các nguồn tài trợ không chỉ xem xét vềmặt số lượng mà về cả thời điểm nhận được tài trợ Các nguồn vốn dựkiến này phải đảm bảo chắc chắn Sự đảm bảo này thể hiện ở tính pháp lí

và cơ sở thực tế của các nguồn vốn huy động Những nguồn vốn sau khi

dc huy động ta phải quản lý chặt chẽ,tránh thất thoát nguồn vốn cũngnhư sử dụng nguồn vốn không hiệu quả Cần thiết tiết kiệm vốn, hạnchế tiêu cực tham nhũng, bòn rút ruột công trình , chống lãng phí thấtthoát Chính phủ, bộ, ngành các cấp đã có văn bản quy định cụ thể đặcbiệt chi tiết quy chế đấu thầu trong các khâu : tư vấn, mua sắm tài sảnthiết bị xây dựng lắp đặt

- Sự quán triệt xuất phát từ đặc điểm lao động và vật tư cho ĐTPT thường

lớn : Với quy mô của các dự án lớn nên ĐTPT rất cần số lượng lớn về lao

động đặc biệt là công nhân kĩ thuật ,những lao động có kiến thức về kĩnăng quản lí ,những sinh viên tốt nghiệp đại học,cao đẳng Xuất phát từthực tế đó đòi hỏi phải có kế hoạch sử dụng lao động phù hợp với năng lựccủa họ , đồng thời nhà quản lý phải có chính sách đào tạo cũng như tuyểndụng ,sử dụng và đãi ngộ lao động hợp lý Hiện nay nhu cầu về những laođộng này của tất cả các nước trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng làrất lớn nhưng khả năng đáp ứng là chưa đủ,lượng lao động trong nước chủyếu là nông dân và lao động trình độ thấp Hiện tượng “thiếu về lượng,yếu

về chất” đang là thực tế ở nước ta.Vấn đề trước mắt là đào tạo nguồn nhânlực,giải quyết tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”.Đối với trường ĐH, cần củng

cố chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên; trường có chương trình đào tạochất lượng cao theo nhu cầu doanh nghiệp đã được ký kết có thể đề xuất

Trang 13

ngay mức học phí mới Đối với doanh nghiệp, cần có thông tin về nhu cầunhân lực của mình, hỗ trợ tài chính và tham gia vào quá trình đào tạo, xâydựng chương trình, cho sinh viên thực tập.Bên cạnh đó cần phải chú trọnghơn trong việc sử dụng nguồn nhân lực,nhiều sinh viên ra trường không cóviệc làm ngay,những công nhân sau dự án thường nhàn rỗi.Việc đãi ngộcông nhân viên chức cũng như đội ngũ giáo viên cũng là một việc hết sứcquan trọng để cho việc đào tạo diễn ra một cách hiệu quả Đồng thời phảinghiên cứu tìm hiểu kĩ lưỡng thị trường vật tư để có những phương án kịpthời ,thích ứng với tình hình thay đổi của thị trường

3.2. Sự quán triệt do đặc điểm thời kì đầu tư thường kéo dài : Cần phân kì đầu

tư , tập trung vốn và nguồn lực để hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình theo đúng tiến độ.

Quá trình thực hiện đầu tư gồm: hoàn tất thủ tục để triển khai thựchiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, thicông xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử dụng.Trong giaiđoạn thực hiện đầu tư vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả, 90 – 98%tổng vốn đầu tư được chia ra và huy động trong suốt những năm thựchiện đầu tư Đây là những năm vốn không sinh lời, thời gian thực hiệnđầu tư cũng kéo dài, vốn khê động càng nhiều tổn thất càng lớn, hơnnữa, nó còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Bởi dự án quy mô lớn không thể tiến hành trong thời gian ngắn , cũngnhư gián đoạn không tránh khỏi với một số nguyện nhân về vốn, thời tiết,nhân lực, thủ tục giấy tờ, giải phóng mặt bằng …Cũng như sự thay đổi giá

cả kéo theo ảnh hưởng đến vận tải, giá cả hàng hóa khác,nguyên liệu đầuvào…Hàng loạt dự án bị ngưng trệ chỉ vì giá nhựa đường tăng, giá sắt théplên cao, cả nhà thầu và chủ đầu tư đều phải chờ hướng xử lý Bên cạnh đó,

Trang 14

do yếu tố kinh tế, xã hội, thời tiết thường xuyên thay đổi nên nhiều côngtrình tụt hậu lỗi thời, do kéo dài nhiều năm triển khai khi sử dụng vật liệu

hư hỏng như : sắt thép bị gỉ, mục nát, quá hạn sử dụng …

Thời gian thực hiện đầu tư phụ thuộc nhiều vào công tác chuẩn bịđầu tư và quản lý quá trình thực hiện những hoạt động khác có liênquan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã đượcxem xét trong dự án đầu tư Như vậy yêu cầu quán triệt đặc điểm nàycủa đầu tư phát triển là : phân kì đầu tư ,tập trung nguồn vốn nguồnlực để hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình theo đúng tiến

độ Thực hiện đúng điều này làm rút ngắn thời gian đầu tư Thời gianhoàn thành dự án càng ngắn thì chi phí và rủi ro càng ít Hoạt độngđầu tư luôn luôn gắn liền với yếu tố rủi ro, điều quan trọng là nhậnbiết và khắc phục được chúng trong quá trình thực hiện đầu tư Kéodài thời gian thực hiện là kéo thêm một khoản chi phí ( chi phí vốn,chi phí nguyên vật liệu, chi phí trả lương công nhân, chi phí tăng dolạm phát ), tăng thêm những rủi ro, bất trắc, mất đi cơ hội cạnhtranh trên thị trường, hiệu quả đầu tư vì thế cũng giảm sút.Bên cạnh

đó cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguyên vật liệu, tránh lãng phí,nâng cao hiệu suất sử dụng Mặt khác cũng cần có sự đầu tư về mặtcông nghệ, lắp đặt các dây chuyền thiết bị hiện đại, phù hợp với trình

độ quản lý và sử dụng giúp cho chủ đầu tư nâng cao được chất lượngsản phẩm, mặt khác lại tiết kiệm được đáng kể chi phí về vận hành, về

Trang 15

nhân công, nguyên vật liệu và năng lượng, góp phần nâng cao hiệuquả trong thực hiện đầu tư

3.3 Sự quán triệt do đặc điểm thời gian vận hành các kết quả đầu tư thường

kéo dài : Đây là giai đoạn quyết định tới việc dự án có thực hiện được các

mục tiêu đề ra hay không,là quá trình thu hồi vốn,hiệu quả việc khai tháccác nguồn lực được biểu hiện rõ nhất.Giai đoạn này kéo dài thường là vàinăm,thậm chí vài chục năm hoặc lâu hơn do dó chịu tác động của rất nhiềuyếu tố chủ quan lẫn khách quan.Vì vậy yêu cầu đặt ra đó là:

- Xây dựng phương pháp khoa học để dự đoán sự thay đổi của thị trường và

tác động của nó lên các công trình đầu tư qua từng năm và trong suốt vòngđời của dự án Đối với mọi dự án thì điểm mấu chốt đó là sản phẩm của dự

án phải được chấp nhận trên thị trường,sản phẩm có tiêu thụ được thì dự ánmới có thể thu hồi vốn và sinh lời.vì vậy công tác dự báo là vô cùng quantrọng,công việc này phải được thực hiện nghiêm túc và tỉ mỉ ngay từ khi lậpbáo cáo nghiên cứu khả thi, đồng thời cũng phải được thực hiện thườngxuyên trong quá trình vận hành dự án vì nhu cầu của thị trường thườngxuyên có sự thay đổi.Sau khi tiến hành dự báo cầu về sản phẩm,phải tiếnhành dự báo tới khả năng cung ứng của dự án từ đó mới có các quyết địnhthu hẹp hay mở rộng sản xuất cho phù hợp.Việc phân tích ,đánh giá tiềmnăng và quy mô của dự án cần dựa trên cơ sở phân tích các tác động củamôi trường vĩ mô như pháp luật,chính sách,kinh tế,văn hóa xã hội… ảnhhưởng tới triển vọng ra đời của dự án và quá trình vận hành kết quả đầutư.Do đó dự báo nhu cầu thị trường về sản phẩm của dự án và khả năngcung ứng của dự án cần dựa trên các dự báo vĩ mô về nền kinh tế như tốc độtăng trưởng, tỉ lệ lạm phát,lãi suất…

- Quản lý tốt quá trình vận hành các kết quả đầu tư nhăm thu hồi được vốn

nhanh chóng nhất , giảm thấp nhất hao mòn vô hình Quản lý công tác đầu

Trang 16

tư lại phục thuộc vào công tác quản trị của dự án ,muốn quản lý tốt thì côngtác quản trị phải đạt được những yêu cầu sau :

 Đề ra mục tiêu phù hợp và có kế hoạch hợp lý để thực hiện đươc mục tiêu

3.4. Sự quán triệt do đặc điểm các thành quả của hoạt động ĐTPT là các công

trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện ĐT cũng như thời kỳ vận hành các kết quả

ĐT chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng :

phải nghiên cứu kĩ và khoa học về không gian , các yếu tố địa lý để lựachọn địa điểm đầu tư phù hợp Mỗi dự án ĐTPT có tính chất và quy môkhác nhau, do đó đặc điểm của các dự án là khác nhau Việc lựa chọn địađiểm cho dự án đầu tư là yếu tố hết sức quan trọng , có thể quyết định đếnthành công của dự án Việc lựa chọn địa điểm đầu tư phụ thuộc vào rấtnhiều yếu tố, có ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất sau này, khi mà dự

án đi vào vận hành Để lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý cần chú ý các điểmsau:

- Địa điểm đặt dự án phải thuận lợi cho việc hợp tác với các cơ sở sản xuất

trong vùng (như giao thông vận tải), đồng thời đảm bảo được lợi thế cạnhtranh với các doanh nghiệp khác

Trang 17

- Phải có tầm nhìn vĩ mô xem xét trong suốt vòng đời của dự án trong tương

lai địa điểm định đặt dự án có nằm trong diện mở rộng hay quy hoạchchung của cả vùng miền hay không

- Xem xét các yếu tố về điều kiện tự nhiên, thời tiết khi hậu, môi trường hay

các yếu tố xã hội như con người văn hóa ,kinh tế , chính trị ,bộ máy chínhquyền của khu vực đặt dự án để xác định , và khai thác được tối đa lợi thếvùng và có những biện pháp phòng ngừa những tác động xấu một cách kịpthời, tạo điều kiện cho các công trình phát huy được hiệu quả sử dụng tối

đa Các điều kiện khí hậu, môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến tuổi thọ

và sự hoạt động liên tục của công trình Một công trình được xây dựng tạinơi có khí hậu không thuận lợi, thường xuyên gặp thiên tai thì chi phí tu sửa

là rất tốn kém, hay những địa điểm có nhiệt độ không ổn định, biến độnglớn thì các công trình cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Điều kiện địachất : bao gồm đặc điểm địa hình, địa mạo, cấu trúc địa chất, đặc điểm kiếntạo, đặc điểm địa chất thủy văn, khí tượng thủy văn, các tính chất cơ-lý củađất, đá có yếu tố quyết định đến kiểu dáng, hình dạng, cơ cấu của công trình Khi xem xét lựa chọn địa điểm đặt công trình phải hết sức chú ý các yếu tố

tự nhiên này, bởi vì đây là những yếu tố khách quan tác động trực tiếp đếncông trình

- Ngoài ra, địa điểm phải gần nguồn cung cấp nguyên liệu hay thị trường tiêu

thụ của dự án, hoặc gần nguồn cung cấp nguồn lao động để giải quyết đượcvấn đề chi phí nguyên, nhiên, vật liệu, chi phí và khả năng giải tỏa mặt bằngcủa chính quyền địa phương ,nhân lưc cũng như thị trường tiêu thụ Khi đặtcông trình xây dựng ở một địa điểm còn phải tính đến các cơ sở hạ tầng saocho thuận lợi nhất như về điện, nước, giao thông vận tải, thông tin liênlạc…

3.5. Sự quán triệt do đặc điểm đầu tư là một loại hình hoạt động kinh tế gắn

liền với các yếu tố rủi ro :

Trang 18

- Mục tiêu cuối cùng của hoạt động đầu tư là lợi nhuận, lợi nhuận càng lớn

thì mức độ rủi ro càng cao Đặc biệt là đối với các dự án của hoạt động đầu

tư phát triển, đều có quy mô lớn, thời gian kéo dài, lợi nhuận kỳ vọng caonên mức độ rủi ro càng lớn hơn Nhận thức rõ tác động của yếu tố rủi ro nêntrong công tác đầu tư cần phải:

 Chú trọng đến công tác dự báo, phân tích tình hình kinh tế xã hội để đưa

ra nhận định một cách chuẩn xác về rủi ro.Việc nhận diện sai rủi ro cóảnh hưởng việc xác định hướng đi cho dự án bị sai, điều đó ảnh hưởngnghiêm trọng đến hiệu quả đầu tư sau này Nếu không lường trước đượccác rủi ro thì đến khi dự án thực hiện, gặp phải rủi ro thì lúc ấy đã khôngcòn kịp thời, làm thay đổi toàn bộ hướng đi tiếp theo của dự án, tạo rahiệu ứng dây chuyền(hiệu ứng domino) kéo theo nhiều rủi ro khác xảy

ra, dẫn đến chi phí cho việc thay đổi sẽ lớn hơn rất nhiều,gây lãng phí,hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra là dự án phải dừng lại Việc nhậndiện rủi ro này là không hề đơn giản, không phải chỉ có một người haymột nhóm ba, bốn người có thể làm được mà cần phải có một tập thểngười có sự phối hợp với các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực, cần phảixem xét vấn đề trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh khác nhau Cónhư vậy việc nhận định mới có thể lường hết được các khả năng có thểxảy ra

 Khi nhận định được rủi ro có thể xảy ra thì việc đánh giá rủi ro cũng vôcùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí kinh tế cho dự án Khiđánh giá được đúng mức độ rủi ro, dẫn đến hành động hợp lý, giải phápsát thực tế sẽ giảm thiểu được chi phí phát sinh.Có thể một dự án sẽ cónhiều rủi ro xảy ra, tuy nhiên cần phải xác định được các mức độ của cácloại rủi ro đó ra sao, rủi ro nào là nghiêm trọng, có khả năng gây tổn thấtnặng nhất Hơn nữa xác suất xảy ra mỗi rủi ro nhiều hay ít Dự án cómức độ rủi ro cao cần tập trung giải quyết, dự án có mức độ rủi ro thấpthì chi phí để xử lý cũng không lớn

Trang 19

 Cần phải có những phương pháp, mô hình định lượng để đánh giá mức

độ rủi ro, nghiên cứu tại các dự án có tính chất tương tự để có thể ápdụng vào trường hợp riêng của mình.Từ hai công việc trên: nhận địnhrủi ro và đánh giá rủi ro sẽ đưa ra biện pháp phòng chống cho phù hợp.Trong công tác phòng chống cần đề cao quản lý, giám sát việc xử lý rủi

ro không để tình trạng sau khi xử lý rủi ro lại để tái phát trở lại, hoặc làmphát sinh những rủi ro khác

- Việc xử lý rủi ro phải được xem như là một yếu tố cơ bản trong hướng quản

lý dự án Việc đối phó, xử lý rủi ro phải có hướng chủ động, ví dụ như làcác biến cố bất lợi có khả năng xảy ra được chuẩn bị trước thì tốt hơn làviệc đối phó với các biến cố bất lợi sau khi mà chúng xảy ra Hướng chủđộng này tạo ra thời gian cho các nhà quản lý tìm ra được các hướng khácnhau và các kế hoạch hành động rồi từ đó lựa chọn cách giải quyết thíchhợp mà nó đúng với mục tiêu của dự án nhất

- Cần có phương pháp tránh rủi ro, quá trình cần thiết để làm giảm bớt đi khả

năng xuất hiện đối với mỗi rủi ro đã lựa chọn để giải quyết mỗi một phạm

vi chuyên môn xác định được những hành động nào nên được tiến hành đểtránh hoặc để giàm khả năng xuất hiện rủi ro được lựa chọn giải quyết.ngoài ra cũng phải xét hiệu quả sinh lợi cho hướng tránh rủi ro sắp tới

- Việc quan trọng nhất trong quản trị rủi ro là phải xây dựng được quy trình

quản lý rủi ro Thông thường, quản lý rủi ro được chia thành 5 bước:

Bước 1: Nhận dạng rủi ro

Bước 2: Ước tính, định lượng rủi ro

Bưóc3: Đánh giá tác động của rủi ro

Bước 4: Đánh giá năng lực của người thực hiện chương trình bảo hiểm rủi ro.Bước 5: Lựa chọn công cụ và quản lý rủi ro thích hợp

Trang 20

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG ĐTPT VÀ SỰ QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐTPT TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ Ở

VIỆT NAM

1 Thực trạng ĐTPT ở Việt Nam

- Thực trạng huy động vốn đầu tư Kinh tế phục hồi là một nguyên nhân quan

trọng trong việc thúc đẩy đầu tư phát triển Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội

năm 2010 đã đạt được những kết quả tích cực Ước tính huy động nguồn vốn

đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2010 vào khoảng 800 nghìn tỷ đồng, bằng41,5% GDP và tăng 12% so với ước thực hiện năm 2009

Cụ thể, nguồn vốn đầu tư của tư nhân và của dân cư dẫn đầu bằng31,2% vốn đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn đầu tư nhà nước (gồm đầu tư từngân sách nhà nước, nguồn trái phiếu Chính phủ, nguồn tín dụng đầu tư theo

kế hoạch nhà nước và nguồn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước) bằng22,5%, tăng 4,7% so với năm 2009 Những kết quả này cho thấy các nguồnlực trong nước được huy động tích cực hơn Về vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI), tính đến hết tháng 11, cả nước thu hút được 833 dự án mới vớitổng số vốn đăng ký đạt 13,3 tỷ USD, bằng 60% so với cùng kỳ năm 2009,trong đó vốn thực hiện ước đạt 10 tỷ USD, tăng 9,9% Mặc dù vốn FDI đăng

ký có thấp hơn nhiều so với năm 2009 nhưng tỷ lệ vốn thực hiện trên vốnđăng ký lại cao hơn nhiều Đây có thể được coi là điểm sáng trong thu hútFDI năm 2010 Điều này cũng cho thấy sự cam kết lâu dài các nhà đầu tưnước ngoài ở thị trường Việt Nam

Trang 21

Tương ứng, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ước khoảng 55nghìn tỷ đồng, chiếm 6,9% và tăng 10%; vốn từ khu vực doanh nghiệp nhànước khoảng 66 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 8,2% và tăng 10%; vốn đầu tưcủa khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và dân cư khoảng 281,5 nghìn tỷđồng, chiếm 35,1% và tăng 27,7%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dự kiếnkhoảng 182 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 22,7% và tăng 21,3% Các nguồnvốn khác dự kiến khoảng 25 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,1% tổng nguồn vốn đầu

tư phát triển

Tốc độ tăng vốn đầu tư cao và nhanh một mặt thể hiện quan hệ tích lũy tiêu dùng đã có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, nhưng mặt kháclại cho thấy những hạn chế trong hiệu quả đầu tư Nếu như năm 1997, chúng

-ta đạt được tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư chỉ chiếm 28,7% GDP thìcũng với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007 (8,5%) chúng ta phảiđầu tư tới 43,1% GDP Đến năm 2010, trong khi tổng mức đầu tư toàn xã hộilên tới 41% GDP, thì tốc độ tăng trưởng lại chỉ đạt 6,7% Chỉ số ICOR đãtăng tới mức quá cao, trên 8 so với 6,6 của năm 2008 Hệ số ICOR của doanhnghiệp và đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân chỉ có 3-4, trong khi đó ICORcủa khu vực kinh tế nhà nước và từ đầu tư của nhà nước tới 9-101 Bên cạnh

đó còn xảy ra tình trạng chậm trễ trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngânsách nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, lãng phí, thất thoát vốnđầu tư ở tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư Những đặc điểmnày là đáng báo động về cả trước mắt cũng như lâu dài

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhìn chung việc phân bổ vốnđầu tư phát triển thuộc nguồn ngân sách nhà nước trong những tháng đầunăm nay của các bộ, ngành và địa phương được thực hiện theo đúng quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ nhưng vẫn còn tình trạng bố trí vốn dàn đều,thậm chí bố trí cả vốn cho các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư và chưa thực sựtập trung cho các dự án hoàn thành

Trang 22

Đối với nguồn trái phiếu chính phủ, một số địa phương còn chưa phân

bổ hết kế hoạch được giao như Thái Nguyên, chưa giao 28 tỷ đồng vốn các

dự án giao thông; Lào Cai chưa giao 7 tỷ đồng vốn các dự án giao thông và

10 tỷ đồng vốn các dự án thủy lợi; Nghệ An chưa giao 7 tỷ đồng cho các dự

án giao thông, thủy lợi

Trong khi đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và địaphương phải chủ động điều chuyển vốn cho các dự án giải ngân thấp sangcác dự án hoàn thành có khả năng giải ngân cao

Nhưng qua kiểm tra, số bộ, ngành, địa phương điều chuyển vốn giữa các

dự án là khá thấp Chỉ có Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn điềuchuyển 85,4 tỷ đồng vốn ngân sách nhà nước kế hoạch năm 2010 của 30 dự

án do bộ quản lý để tăng vốn tập trung cho 11 dự án và 80 tỷ đồng vốn tráiphiếu chính phủ (cắt giảm vốn của 7 dự án để tăng vốn tập trung cho 7 dự ánkhác)

Bên cạnh đó, có 9/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là LaiChâu, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hải Phòng, Quảng Trị, Bình Thuận, BìnhPhước, Cao Bằng và Thành phố Hồ Chí Minh cắt giảm 92 dự án sử dụng vốnngân sách nhà nước, hoãn khởi công mới 1 dự án để bổ sung tăng vốn cho 97

dự án chuyển tiếp với tổng số vốn 401 tỷ đồng

Đáng lưu ý, một số địa phương còn điều chuyển vốn cho nhiều dự ánhơn số dự án cắt giảm

Ngoài ra, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư phát triển của các bộ, ngành và địaphương trong sáu tháng đầu năm tuy khá hơn cùng kỳ năm trước, đạt khoảng53.040 tỷ đồng, bằng 42,3% kế hoạch; trong đó, Trung ương đạt 27,6% vàđịa phương đạt 50% nhưng chủ yếu là số vốn tạm ứng (chưa sử dụng), chiếm45% tổng số giải ngân và thanh toán các khối lượng hoàn thành các dự ánchuyển tiếp năm trước, còn khối lượng hoàn thành của các dự án, đặc biệtcác dự án mới vẫn ở mức rất thấp

Trang 23

Nhìn nhận những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chậm tiến độ, Bộ Kếhoạch và Đầu tư cho rằng việc triển khai Nghị định số 69/2009/NĐ-CP liênquan đến giá đền bù giải phóng mặt bằng gây rất nhiều lúng túng cho các chủđầu tư do giá đền bù giải phóng mặt bằng vượt khá xa so với dự toán banđầu

Ngoài nguyên nhân muôn thủơ là năng lực tài chính cộng với kinh nghiệm,thiết bị và nhân lực của một số nhà thầu thi công, tư vấn còn hạn chế, ảnhhưởng lớn tới công tác chuẩn bị đầu tư và tiến độ thực hiện dự án còn do sựphối hợp giữa chủ đầu tư và chính quyền địa phương còn chưa thật sự chặtchẽ; năng lực quản lý của một số chủ đầu tư, ban quản lý dự án còn thiếuchuyên nghiệp Mặt khác, do công tác đấu thầu phân cấp mạnh cho chủ đầu

tư nên việc nắm bắt tiến độ triển khai của cơ quan nhà nước còn gặp nhiềukhó khăn

- Đánh giá hoạt động DTPT với tăng trưởng nền kinh tế : Tỷ lệ đóng góp

của vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này luôn ở trongkhoảng từ 47 - 50 %

Nước ta đang ở trong giai đoạn đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xãhội,trình độ phát triển còn lạc hậu, chính vì vậy chúng ta đang đẩy mạnh đầu

tư theo chiều rộng Vốn đầu tư luôn chiếm tỉ lệ lớn so với GDP

Bảng 1 : Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thời kì 2000 - 2010

Năm

Thu nhập bình quân đầu người (USD)

Tổng vốn đầu

tư toàn xã hội (tỷ đồng)

Tỷ lệ tổng vốn đầu tư/GDP (%)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%)

Trang 24

2008 1034 610 876 41.13 6.23

Nguồn: Niên giám thống kê 2003, 2005, 2008

- Đánh giá chung về thành tựu của hoạt động đầu tư phát triển ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010.

Mặc dù đối diện với rất nhiều khó khăn song việc quán triệt các đặcđiểm của đầu tư phát triển ở Việt Nam trong thời gian qua gặt hái được rấtnhiều thành công, cụ thể như sau:

Thứ nhất là, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn vốn cho đầu tư phát

triển về cơ bản có nhiều tiến bộ, cơ cấu các nguồn vốn đầu tư phát triểnđược đa dạng hoá Tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP không ngừng tăng lên qua cácnăm và đạt đuợc ở mức cao so với một số nước trong khu vực Cơ cấu cácnguồn vốn đã được đa dạng hoá Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước

đã có tác động thu hút các nguồn vốn khác, qui mô vốn đầu tư phát triểnkhông ngừng lớn mạnh

Thứ hai là, cơ cấu đầu tư đã có sự dịch chyển theo hướng tích cực, tập trung

cho những mục tiêu phát triển quan trọng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Các nguồn lực được huy động tốt hơn và tập trung đầu tư vào một số côngtrình chủ chốt, quan trọng, đầu tư chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất theohướng hiệu quả và phát huy lợi thế từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực,từng sản phẩm, tăng khả năng cạch tranh của nền kinh tế Vốn đầu tư chophát triển nguồn nhân lực đã gia tăng đáng kể Các chương trình quốc gia

về y tế, xoá đói giảm nghèo cũng được chú trọng hơn

Thứ ba là, có nhiều đổi mới trong cơ chế đầu tư và xây dựng, trong điều hành

của chính phủ đối với các hoạt động đầu tư phát triển Cơ chế quản lý đầu

tư được cải tiến một bước quan trọng, theo hướng giảm đáng kể sự canthiệp trực tiếp của Nhà nước đối với các hoạt động đầu tư, tăng cường vaitrò, trách nhiệm của nhà đầu tư, đồng thời thực hiện phân cấp triệt để chocác bộ, ngành và địa phương Trong quản lý đầu tư đã tăng cường vai trò

Trang 25

của hội đồng nhân dân, coi trọng sự tham gia giám sát của cộng đồng và tổchức xã hội.

Thứ tư là, nước ta khai thác tốt các nguồn đầu tư nước ngoài Trong giai đoạn

1996 - 2005 huy động vốn đầu tư nước ngoài gia tăng đáng kể Huy độngvốn đầu tư nước ngoài có dấu hiệu phục hồi sau những sụt giảm do khủnghoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, đã góp phần khắc phục tình trạngkhan hiếm nguồn vốn trong nước, thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng cácnguồn vốn đầu tư trong nước, tạo thế và lực mới cho nền kinh tế Đầu tưnước ngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh còn tạo điều kiện tốt cho việc mởrộng thị trường trong nước, tạo cầu nối cho các doanh nghiệp trong nướctham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với thị trường thế giới Điều này

có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế nói chung và đặcbiệt với một nước đang cố gắng để chủ động hội nhập như nước ta hiện nay

Thứ năm là, sự gia tăng không ngừng của các hoạt động đầu tư phát triển

trong giai đoạn 2001-2005 đã làm cho năng lực của các ngành kinh tế xãhội tăng lên đáng kể, nhiều công trình quan trọng của tất cả các nghành, cáclĩnh vực được hoàn thiện và đưa vào sử dụng, tạo điều kiện cho nền kinh tếtăng trưởng theo chiều hướng rất khả quan, duy trì tốc độ tăng trưởng cao,đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt Đầu tư phát triển đã khẳng địnhđược vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế nước ta, thực sự trởthành chìa khoá của sự tăng trưởng phát triển kinh tế

2. Tình hình quán triệt các đặc điểm của ĐTPT trong hoạt động quản lý

đầu tư ở Việt Nam hiện nay

2.1 Tình hình quán triệt các đặc điểm của ĐTPT đến hoạt động quản lý đầu tư

ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Tình hình quán triệt đặc điểm “ Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động

cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn ”

- Thực trạng huy động vốn :

Đối với nguồn vốn trong nước :

Trang 26

Nguồn vốn nhà nước

Trong hơn 10 năm qua từ năm 2000 đến năm 2010 nguồn vốn từ nhà

nước có xu hướng giảm cụ thể như sau: Tỷ lệ phần trăm trong tổng vốn đầu

tư và vốn tính theo giá tương ứng

Bảng 2: Tổng vốn khu vực nhà nước giai đoạn 2000 - 2010

Từ năm 2004 đến năm 2008 thì vốn trong nhà nước có xu hướng giảm

dần, đến năm 2008 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

nên chính phủ thực hiện gói kích cầu đầu tư đưa nước ta thoát khỏi khủng

hoảng dẫn đến tỉ lệ chi trong ngân sách nhà nước tăng 5,9 %.Nguồn vốn nhà

nước biến động thông qua các kênh sau như:Ngân sách nhà nước, nguồn

vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, nguồn vốn đầu tư của doanh

nghiệp nhà nước.Trong đó nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là lớn nhất,

tính chung cho giai đoạn từ 2000 đến 2010 thì tổng vốn đầu tư từ ngân sách

nhà nước chiếm khoảng 20 % tổng vống đầu tư toàn xã hội Điều đó chứng

tỏ nguồn vốn từ ngân sách nhà nước vẫn là một kênh huy động lớn

Nguồn vốn ngoài nhà nước( Nguồn vốn của dân cư và tư nhân)

Nguồn vốn từ khu vực tư nhân phần lớn bao gồm phần tiết kiệm của dân

cư ,phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh

Trang 27

Nguồn vốn huy động trực tiếp trong dân cư,chủ yếu là loại hình kinhdoanh tập thể

Bảng 3: Số vốn huy động từ khu vực kinh doanh tập thể

Huy động vốn trên thị trường chứng khoán : Uỷ ban Chứng khoán Nhànước cho biết, năm 2007, quy mô thị trường chứng khoán tăng mạnh, giá trịgiao dịch tăng cao Tổng giá trị vốn hoá thị trường đạt gần 500 nghìn tỷđồng hơn rất nhiều so với năm 2006, chỉ đạt 22,7% Thị trường chứ So vớiGDP tính theo giá thực tế năm 2007 thì tổng giá trị vốn hoá thị trường đạt43,8%,Đây là một kinh huy động,tuy khá mới mẻ,nhưng nó lại là mộtnguồn vốn khá lớn trong tổng mức GDP

Huy động vốn của hệ thống ngân hàng :Tổng nguồn vốn huy động củacác NHTM và tổ chức tín dụng trong toàn quốc đạt tốc độ tăng trưởngkhoảng 20% đến 25%/năm trong 5 năm gần đây,gấp 3 lần tốc độ tăngtrưởng kinh tế.Điều đó cho thấy hệ thống ngân hàng của nước ta đang pháttriển một cách nhanh chóng

Huy động vốn của dân cư ở Việt Nam đang ở nước ngoài qua kênh kiềuhối: Kiều hối liên tục tăng trong thời gian qua Nếu tính cả lượng kiều hối

dự kiến năm nay, thì tổng cộng trong 16 năm, từ 1991 đến 2006, đã có hơn

23 tỷ USD kiều hối chuyển về Việt Nam, bằng khoảng 60% tổng vốn FDI

Ngày đăng: 30/03/2014, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thời kì 2000 - 2010 - c điểm ĐTPT - nhóm 1 potx
Bảng 1 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thời kì 2000 - 2010 (Trang 23)
Bảng 2: Tổng vốn  khu vực nhà nước giai đoạn 2000 - 2010 - c điểm ĐTPT - nhóm 1 potx
Bảng 2 Tổng vốn khu vực nhà nước giai đoạn 2000 - 2010 (Trang 26)
Bảng 4 : FDI đăng kí và FDI  thực hiện thời kì 2000-2009 - c điểm ĐTPT - nhóm 1 potx
Bảng 4 FDI đăng kí và FDI thực hiện thời kì 2000-2009 (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w