1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận án sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay

273 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận án sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở Hà Nội hiện nay
Người hướng dẫn G.S. Nguyễn Văn A, PGS.TS. Trần Thị B
Trường học Hà Nội University of Science and Technology
Chuyên ngành Văn hóa
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 273
Dung lượng 24,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cứu một số làng ở Hà Tây cũ, Thái Bình, Hà Nội, mà chưa có công trình nghiên cứu sâu, riêng biệt về sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay, đặc biệt là vai trò chủ t

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

2.2 Làng nghề truyền thống Triều Khúc và Thiết Úng 50 2.3 Nhân tố tác động đến sự biến đổi văn hoá làng nghề Hà Nội 62

Chương 3 : SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRUYỀN

THỐNG TRIỀU KHÚC VÀ THIẾT ÚNG

77

3.1 Biến đổi lĩnh vực văn hóa vật chất và cảnh quan môi trường 77 3.2 Biến đổi lĩnh vực văn hóa tổ chức cộng đồng 92

Chương 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN LUẬN VÀ CÁC NHÓM GIẢI

PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

122

4.2 Các nhóm giải pháp bảo tồn, phát huy văn hoá làng nghề truyền thống 132

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 150

Trang 2

BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương

CNH : Công nghiệp hóa

NCS : Nghiên cứu sinh

UBND : Ủy ban nhân dân

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

Tr :

Trang Trung ương VHTT&DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch

WTO : Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 3

Trang

Bảng 3.1 Địa điểm sản xuất của thợ thủ công 86 Bảng 3.2 Đánh giá về cảnh quan làng nghề 90 Bảng 3.3 Đánh giá các mối quan hệ gia đình, dòng họ 95 Bảng 3.4 Hình thức giao dịch trong quan hệ bán hàng 95

Bảng 3.6 Nhóm đối tượng được gia đình truyền nghề 105 Bảng 3.7 Đánh giá việc duy trì tín ngưỡng lễ hội 110 Bảng 3.8 Đánh giá vấn đề đạo đức trong quan hệ bạn hàng 119

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 1986, khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cũng vì thế, biến đổi văn hoá làng nghề truyền thống Hà Nội diễn ra như một điều tất yếu của sự phát triển Biến đổi văn hóa ở các làng nghề truyền thống Hà Nội không chỉ tác động đến cơ cấu tổ chức, diện mạo làng nghề, quy trình sản xuất, mẫu mã, hình thức, chất lượng sản phẩm, phong tục tập quán… của mỗi làng nghề mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội

và cả nước trong quá trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) hiện nay Xu hướng biến đổi trên thực sự là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu kịp thời để đưa ra những căn cứ khoa học, những giải pháp phù hợp, giúp các nhà hoạch định chính sách có những quyết sách hợp lý, vừa gìn giữ, vừa phát huy được giá trị văn hóa truyền thống của các làng nghề

,

số 33, Hội nghị lần thứ 9 BCHTW Đảng khóa XI , con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Trong đó các làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn, nông ngh , vì phát triển làng nghề truyền thống tạo ra một khối lượng hàng hóa đa dạng, phong phú, góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập, tạo việc làm, cải thiện đời sống dân cư nông thôn, tăng tích lũy, giảm di dân tự do, chuẩn bị cho đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp, tạo cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp hiện đại, phát n làng nghề truyền thống còn góp phần bảo tồn

và gìn giữ giá trị văn hóa dân tộc

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng nghề

Hà Nội cho đến nay chưa nhiều, mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng nghề vùng châu thổ sông Hồng, qua nghiên

Trang 5

cứu một số làng ở Hà Tây (cũ), Thái Bình, Hà Nội, mà chưa có công trình

nghiên cứu sâu, riêng biệt về sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội

hiện nay, đặc biệt là vai trò chủ thể của cư dân làng nghề trong sự biến đổi đó

Vì vậy, nghiên cứu sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội nói chung và hai làng nghề dệt Triều Khúc (huyện Thanh Trì), đồ gỗ mỹ nghệ Thiết Úng (huyện Đông Anh) nói riêng không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn đáp ứng nhu cầu cấp bách của thực tiễn trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa các làng nghề truyền thống ở nước ta hiện nay trước yêu cầu CNH, HĐH và toàn cầu hóa

Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh (NCS) thấy việc nghiên cứu đề

tài “Sự biến đổi văn hóa làng nghề ng ở Hà Nội hiện nay” (Qua

trường hợp làng Triều Khúc và Thiết Úng) là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa

lý luận và thực tiễn trong bối cảnh đổi mới của xã hội

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong tổng số hơn 750 tài liệu trong nước và nước ngoài nghiên cứu về

Hà Nội, có hơn 100 tài liệu nghiên cứu về làng nghề, phố nghề, văn hóa làng nghề Hà Nội từ trước giai đoạn đổi mới (năm 1986) đến hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu về biến đổi văn hóa làng nghề truyền

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở trình bày một số khái niệm cơ bản

, NCS phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi của văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội,

qua nghiên cứu trường hợp làng nghề dệt Triều Khúc và làng nghề gỗ mỹ nghệ Thiết Úng

3.2 Nhiệm vụ

- Khảo sát thực trạng về sự biến đổi của văn hóa làng n

Triều Khúc, Thiết Úng và so sánh với một số làng nghề khác trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 6

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự biến đổi của văn hóa làng nghề truyền thống của thành phố Hà Nội qua khảo sát làng Triều Khúc (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì) và Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Hai làng nghề truyền thống trên là khách thể nghiên cứu được chọn theo tiêu chí NCS tự đặt ra Làng nghề truyền thống Triều Khúc trước đây sản xuất các sản phẩm phục vụ triều đình phong kiến, nay sản xuất các sản phẩm phục vụ đời sống xã hội và xuất khẩu Về không gian, làng Triều Khúc nằm sát kinh thành Thăng Long xưa và nay là làng ven đô

Làng nghề Thiết Úng xưa sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt vật chất, nhiều thợ giỏi được triều đình trưng dụng vào thành làm đền đài, lăng tẩm, nay sản xuất các sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, nhu cầu tâm linh Về không gian, làng Thiết Úng nằm ở vùng ngoại thành

và có quan hệ với những làng nghề truyền thố

p

Trang 7

?

- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu

từ năm 2000năm 2000, Việt Nam là một trong những nước có mức tăng tr

Hà Nội , dẫn đến sự biến đổi về mọi mặt của truyền thống Hà Nội

4.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay như thế nào?

- Vai trò của chủ thể văn hóa trong sự biến đổi đó ra sao?

- Vấn đề gì đặt ra đối với làng nghề truyền thống trước sự biến đổi hôm nay? Luận án nghiên cứu đời sống thực tiễn văn hóa làng nghề truyền thống hai làng Triều Khúc, Thiết Úng và đối chiếu với một số làng nghề khác để trả lời những vấn đề trên

Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận sau:

- Triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và

ý thức xã hội; giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng

- Quan niệm về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của

Triết học Mác - Lênin đã chỉ ra: sự biến đổi của tồn tại xã hội do tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp của những hoạt động thực tiễn của con

Trang 8

người, mà trước hết là do sự biến đổi lực lượng sản xuất của xã hội quy định Dựa trên nền tảng của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, ta nhận thấy việc biến đổi phương thức sản xuất sẽ kéo theo hàng loạt các biến đổi khác Do vậy, văn hóa làng nghề

biến đổi cũng là hệ quả tất yếu của sự biến đổi về phương thức sản xuất, công cụ sản xuất Việc biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trong xã hội hiện nay còn

do ý thức chủ quan của con người, đặc biệt tính năng động, nhạy bén của người thợ thủ công Vì vậy, cần phân tích để thấy được mối quan hệ biện chứng trên thông qua vai trò của người lao động - người thợ thủ công vừa là chủ thể của văn hóa làng nghề truyền thống, vừa là bộ phận cơ bản của lực lượng sản xuất ở làng nghề truyền thống, vừa là sản phẩm của văn hóa làng nghề truyền thống

Quan điểm về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định:

“toàn bộ những sáng tạo và phát minh” của con người ra “những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày” và “các phương thức sử dụng chúng cho ăn, mặc, ở” trong lĩnh vực văn hóa sản xuất vật chất mà còn khẳng định năng lực “thích ứng” với

“những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” là động lực của sự biến đổi văn hóa sản xuất vật chất và tinh thần của xã hội [30, tr.431]

L văn hóa học của A.A.Radughin về văn hóa

cho việc nghiên cứu đề tài, trong đó có những phân tích khá rõ rằng: văn hóa vật chất trước hết là “những phương tiện đa dạng của sản xuất vật chất (là những công cụ lao động)”; l “ ”, “ ”,

“văn minh” , nói cách khác là “văn hóa công nghệ ” Không những thế, văn hóa sản xuất vật chất còn chứa đựng các giá trị nhân văn, nhân đạo: “Văn hóa học nghiên cứu văn hóa sản xuất từ góc độ, mức độ hoàn thiện của nó về mặt nhân văn hoặc nhân đạo”, còn “trên quan điểm kinh tế thì sản xuất vật chất được nghiên cứu từ góc độ kỹ thuật, tức là hiệu quả của nó, hệ số sử dụng của nó, giá thành, mức độ lợi nhuận” [3, tr.112] Tham chiếu vào văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội, lý thuyết của A.A

khái quát những vấn đề nghiên cứu, như những phương tiện, công cụ, máy móc

Trang 9

được sử dụng trong quá trình chế tạo sản phẩm; phương thức, cách thức chế tạo sản phẩm; phương thức, cách thức mua bán và trao đổi sản phẩm; cách thức ứng

Bên cạnh việc sử dụng lý thuyết văn hóa học để lý giải quan niệm về văn hóa sản xuất vật chất, NCS sử dụng lý thuyết về biến đổi văn hóa

nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Biến đổi văn hóa ngày nay được coi là vấn đề mang tính toàn cầu, việc biến đổi diễn ra ở nhiều chiều và nhiều cấp độ khác nhau, như biến đổi niềm tin, tôn giáo, tín ngưỡng, biến đổi văn hóa xã hội, biến đổi văn hóa nghệ thuật… Toàn cầu hóa, hiện đại hóa là những nhân tố tác động và ảnh hưởng lớn đến quá trình biến đổi văn hóa ở tất cả các quốc gia, các cộng đồng xã hội, đặc biệt là trong xã hội nông nghiệp như Việt Nam hiện nay Những biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội diễn

ra trên mọi mặt của đời sống cộng đồng, từ sản xuất vật chất đến tổ chức đời sống xã hội và sinh hoạt tinh thần của con người

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu sự biến đổi văn hóa làng nghề đem lại hiệu quả, việc áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, dựa vào quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa là việc làm cần thiết Bên cạnh đó, kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp điền dã, tham dự của nhân học văn hóa

- Phương pháp liên/ đa ngành

Nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội là sự thu thập, tổng hợp kết quả nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành như nhân học văn hóa, nhân học xã hội, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, sử học… Cho nên, các thao tác nghiên cứu của luận án được thực hiện thông qua sự kết hợp linh hoạt các phương pháp trên Sử dụng phương pháp liên/đa ngành vào

đề tài luận án, giúp cho việc khai thác và xử lý hiệu quả các nguồn tư liệu khác nhau trong vấn đề nghiên cứu

Trang 10

- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu

Phương pháp tổng hợp được sử dụng để , liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt trong biến đổi văn hóa ở các làng nghề truyền thống Từ đó đưa ra những nhận định làm rõ biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống

- Phương pháp điều tra xã hội học

NCS xây dựng và sử dụng 145 bảng hỏi anket khảo sát làng Triều Khúc,

182 bảng hỏi anket khảo sát làng Thiết Úng, 20 phiếu phỏng vấn sâu những người thợ, cán bộ, nhân viên UBND xã Tân Triều và Vân Hà về 5 nội dung liên quan đến biến đổi văn hóa làng nghề để có kết quả và thông tin khách quan

Sử dụng phương pháp này để thu thập các số liệu thống kê

, sau đó khái quát lại các vấn đề nghiên cứu khách quan về những biến đổi văn hóa hai làng

- Phương pháp chuyên gia

Trên cơ sở nội dung của luận án, NCS

các chuyên gia, những người am hiểu về làng nghề, thu thập, bổ sung được nhiều ý tưởng, thông tin mới

5.3 Các thao tác nghiên cứu

- Khảo sát thực tế: Thực hiện những chuyến đi điền dã, NCS trực tiếp

tham dự vào cuộc sống, sinh hoạt, lao động sản xuất, lễ hội… của các làng nghề truyền thống, từ đó thu thập được những thông

cho luận án

Trang 11

- Ghi hình, chụp ảnh, ghi âm: Trong quá trình khảo sát thực tế, NCS thực

hiện công việc ghi hình, chụp ảnh, ghi âm Đây là việc làm hết sức cần thiết để ghi lại một cách khách quan, trung thực về cảnh quan, di tích, nhà ở, quy mô, quy trình sản xuất, quan hệ bạn hàng, phường thợ, quan hệ gia đình của người dân làng nghề để làm tư liệu nghiên cứu cho đề tài luận án

6 Kết quả và đóng góp mới của luận án

6.1 Đóng góp về mặt lý luận

- Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về văn hóa

, tác động của văn hóa làng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình CNH, HĐH đất nước; vai trò của người sản xuất

ở các làng nghề đối với việc bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thống trong sự biến đổi của chúng hiện nay

- Ngoài ra, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những học viên, sinh viên chuyên ngành văn hóa học, xã hội học, kinh tế học nghiên cứu những vấn đề về biến đổi văn hóa, về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, vấn đề ngoài lĩnh vực văn hóa đối với sự phát triển hiện nay

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

- hỉ ra xu hướng biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống, giúp các nhà quản lý tham khảo để từ đó nghiên cứu, xây dựng những chính sách văn hóa hợp lý cho sự phát huy văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu thành 4 chương,

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Từ xưa đến nay Hà Nội được mệnh danh là vùng “đất trăm nghề”, các sản phẩm thủ công qua bàn tay người thợ tài hoa đã làm nên một nét riêng biệt, độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Điều đó mang lại sức hấp dẫn, cuốn hút cho các nhà nghiên cứu trong nước và d

nước ngoài từ nhiều thế kỷ trước

lịch sử, các công trình, sách, vở, bài viết của các tác giả về nghề, làng nghề rất phong phú, đa dạng Riêng bài viết về văn hóa làng nghề và biến đổi văn hóa làng nghề Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong thời gian từ khi đổi mới đến nay đã được các tác giả dành một vị trí nhất định để có những phân tích mang tính cụ thể hơn cùng với sự đổi thay và phát triển của xã hội Công trình nghiên cứu về nghề, làng nghề, văn hóa làng nghề, biến đổi văn hóa làng nghề Hà Nội hơn 100 tài liệu, nhưng cũng đặt ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu những vấn đề trên, đặc biệt là trong điều kiện đổi mới hiện nay Nghiên cứu về tài liệu, công trình khoa học trên, NCS kế thừa và tiếp thu những kiến thức quý giá mà các học giả đã dày công tìm hiểu Trên cơ sở nghiên cứu tư liệu của các tác giả, những nội dung đã được trình bày, NCS chia làm 3 nhóm tài liệu có liên quan đến luận án:

1.1.1 Nghiên cứu về nghề, làng nghề, văn hóa làng nghề Hà Nội

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thời nhà Trần, vào năm 1230, kinh đô

Thăng Long được mở rộng thêm, khu vực người dân ở được chia thành 61

Một số làng ven đô đã hình thành các làng thủ công, trong đó có làng gốm Bát Tràng Đến năm 1274, có khá nhiều thương nhân đến buôn bán và được nhà Trần cho mở chợ, lập phố buôn bán Chính sách trên của nhà Trần đã tạo cơ hội cho các nghề thủ công có điều kiện thuận lợi để trao đổi và mua bán hàng hóa [43]

Trang 13

, cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết, dân cư ở 36 phường

làm ăn, buôn bán nhộn nhịp, đặc biệt là những phường thủ công Trong 36 phường đó, thợ thủ công và nhà buôn chia nhau ở các phường tùy theo tính chất nghề nghiệp cụ thể Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi viết về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, sản vật, nghề thủ công, trong đó có nghề dệt lụa ở Hà Đông, nghề dệt vải lụa phượng ở Thụy Chương, nghề làm giấy dó ở Yên Thái, nghề làm võng lọng,

áo giáp, gấm triều ở phường Tàng Kiếm (Hàng Trống)

Tuyển tập tư liệu phương Tây là một cuốn sách được Nguyễn Thừa Hỷ

tổng hợp Mặc dù những tư liệu trong tuyển tập

, nhưng đây là nguồn tư liệu có thể tham khảo cho nhiều nhà nghiên cứu sau này [35] Với NCS, khi nghiên cứu về làng nghề thủ công truyền thống cũng đã kế thừa và tham khảo được một số bài viết trong cuốn sách, đó là:

Paul Bourde - phóng viên tờ “Le tempt” viết về chợ phố Hà Nội năm 1884

trong chương XII với tựa đề Les industries indig e (Các ngành kỹ nghệ bản xứ) trong cuốn sách De Paris au Tonkin (Từ Paris đến Bắc Kỳ) Với cái nhìn khá

toàn diện, Paul Bourde viết khá kỹ về các chợ phiên tại Hà Nội, về những người thợ thủ công ở các vùng lân cận mang các sản phẩm mỹ nghệ thủ công vào các phố chuyên bán từng mặt hàng, như phố Hàng Đồng chuyên bán cuốc xẻng, đồ đồng; phố Hàng Tơ (Hàng Đào) chuyên bán đồ tơ lụa Tác giả đánh giá nghệ thuật chạm khắc của người dân Bắc Kỳ vào loại tài nghệ độc đáo qua các tác phẩm chạm khắc ở chùa Khổ Hình (Hà Nội) [35]

Là bạn của Paul Bourde, Paul Bonnetain - với tư cách là phóng viên báo

“Le Figaro” có thời gian ở Hà Nội lâu hơn Paul Bourde, khi về Pháp, Paul Bonnetain ập hợp các bài ông đã viết về Hà Nội, về Bắc Kỳ và tổng hợp lại

trong cuốn Au Tonkin (Ở Bắc Kỳ) Trong chương XI, XII của tập 2, Paul

Bonnetain có viết về khu phố buôn bán, nghệ thuật của người An Nam ở

Hà Nội Tác giả mô tả sự kiên nhẫn, tỷ mỷ của những người thợ thủ công với sự kiên trì, miệt mài và khéo léo để làm ra nhiều sản phẩm đẹp đẽ mà không cần đo

Trang 14

vẽ Nhưng ông cũng cho rằng, các sản phẩm thủ công được lưu truyền từ đời cha đến đời con này phải có sự thay đổi, không nên cứ dập khuôn mãi theo mẫu mã

đã có sẵn từ trước được Theo ông, có như vậy mới khuyến khích được tính sáng tạo của người thợ [35]

Paul Doumer - toàn quyền Đông Dương (1897 - 1902) trong nhiệm kỳ làm việc của mình, đã huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư, kiện toàn cơ sở

hạ tầng kỹ thuật để xây dựng Hà Nội thành một thành phố Âu hóa, đáng kể là mạng lưới xe lửa và cây cầu Doumer (cầu Long Biên) Sau khi hết nhiệm kỳ làm việc, Paul Doumer về Pháp, năm 1905 ông viết và được Nhà xuất bản Vuibert &

Nony ấn hành ở Paris cuốn L’Indochine Francaise - souvenirs (Xứ đông Pháp -

Những kỷ niệm) Trong cuốn sách có nhiều trích đoạn Paul Doumer viết về các phố nghề Hà Nội, về mỹ nghệ thủ công Nhiều đoạn viết trong cuốn sách được ông miêu tả khá kỹ về những người thợ đúc đồng, thợ kim hoàn, thợ thêu, thợ chạm khắc… Bắc Kỳ khéo léo, cần cù, chăm chỉ, có nghệ thuật thẩm mỹ cao Paul Doumer cho rằng những sản phẩm thêu của người thợ Bắc Kỳ tốt và cẩn thận hơn những sản phẩm thêu của người Nhật Bản và Trung Quốc Đặc biệt, Paul Doumer còn có sự so sánh về những sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của người

An Nam, trong đó ông nhận định rằng những người thợ khảm xà cừ An Nam, nhiều người thợ giỏi hầu hết ở Hà Nội và Nam Định [35]

ách Introduction générale à l’étude de la technologie du peuple Annamite Essai sur la vie matériele, les arts

et les industries du peupele Annamite (Nhập môn nghiên cứu kỹ thuật của người

An Nam Tiểu luận về đời sống vật chất, mỹ nghệ kỹ nghệ của dân tộc An Nam) (1909) của Henri Oger Mặc dù được điều từ Pháp sang Việt Nam để làm việc cho chính quyền Pháp, nhưng Henri Oger đã say mê và có những nghiên cứu khá sâu về nền văn hóa truyền thống của người Việt Nam, về nghề thủ công truyền thống của nhân dân Hà Nội Henri Oger đã cùng một số thợ chạm khắc gỗ Việt Nam đi khắp 36 phố phường Hà Nội, ra cả vùng ngoại thành để phác họa hình ảnh đời sống của người dân Hà thành Trong , Henri Oger đã

Trang 15

phản ánh rõ nét và sinh động mọi mặt của đời sống văn hóa người dân Hà Nội hơn 100 năm trước [35]

Bài Hà Nội những năm 1886 - 1887 Paulin Vial được in trong

cuốn hồi ký Nos premières annés au Tonkin (Những năm đầu tiên của chúng tôi

ở Bắc Kỳ) khá sâu sắc khi ông nghĩ đến một kế hoạch:

Sửa sang lại đường phố Hà Nội cho thẳng hàng, trong sạch, thoáng khí và sáng sủa mà không phá hủy đi những di tích thú vị nhất của quá khứ, không dồn ra xa đám dân chúng làm nghề thủ công và buôn bán,

đã làm nên sự giàu có của thành phố [35, tr.558]

Paulin Vial có những tìm hiểu khá kỹ các ngành nghề, phố nghề Hà Nội, ông viết trong hồi ký của mình về sự khéo léo, kiên trì và một nghệ thuật không thể bắt chước được của những người thợ thủ công ở các làng nghề khảm, thêu, đúc đồng, mộc, rèn như sau: Thật không thể tưởng tượng được rằng người ta lại

có thể làm được nhiều đồ vật xinh đẹp đến như thế mà lại bằng những phương tiện hết sức thô sơ [35, tr.561]

Nghiên c Le paysan du delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ) của Piere Gourou (1936), ngoài việc phân

ngành nghề truyền thống của người dân châu thổ Bắc Kỳ, tính thụ động của họ

và một số nghề mới được du nhập từ phương Tây sang Sau này, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã sử dụng cuốn sách của Piere Gourou làm nguồn tài liệu

tham khảo không thể thiếu cho nhiều bài viết, công trình khoa học [78]

Bài thuyết trình Hà Nội thời người Bồ Đào Nha và Hà Lan

- Section des Amis du Vieux Ha Noi), sau đó được chỉnh lý và in trong

chương XII cuốn sách Pour le comprehension de l’Indochine et de l’Occident

(Để tìm hiểu Đông Dương và phương Tây) đã dẫn lại nhận xét của Paul Bourde

về khu phố buôn bán ở Hà Nội vào những ngày chợ phiên vô cùng náo nhiệt:

Trang 16

Những thương nhân và thợ thủ công đủ mọi loại đến từ các

[35, tr.79]

Nghiên cứu về người nông dân Bắc Bộ nói riêng (trong đó có thợ thủ công)

và Đông Nam Á nói chung còn có hai nhà nhân học là Scotte C Jame và Samuel L Popkin đã dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu về tính duy lý hay duy tình

của người nông dân Việt Nam Năm 1976, Scotte C Jame xuất bản cuốn The Moral Economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia (Kinh tế đạo

lý của nông dân: nổi dậy và sinh tồn ở Đông Nam Á) [140] Sau đó 3 năm, vào năm

1979 Samuel L Popkin giới thiệu đến bạn đọc cuốn: The Rational Peasant: The Political Economy of Rural Society in Vietnam (Người nông dân hợp lý - Kinh tế

học chính trị về xã hội nông thôn Việt Nam) [139] Đây là hai nhà nhân học đầu tiên khởi xướng nghiên cứu về tính duy lý hay duy tình của người nông dân Việt Nam Trong công trình của mình, hai ông nói về tính thụ động của người nông dân

Bắc Bộ còn chậm chạp trước những đổi thay của xã hội, trong đó có nói đến tính trì

Sách Những nghề thủ công truyền thống gia đình ở tỉnh Hà Đông của Hoàng

Trọng Phu không đi sâu vào từng nghề, mỗi nghề chỉ giới thiệu rất khái quát, ngắn gọn, nhưng đã hệ thống được các nghề thủ công tỉnh Hà Đông Đặc biệt, riêng về nghề thủ công ở làng Triều Khúc, Hoàng Trọng Phu giới thiệu 15 nghề chính của làng, trong đó có nói đến nghề dệt thao đã được dân làng không ngừng giữ gìn, sáng tạo và trao truyền cho các thế hệ con cháu Đây là cuốn sách được nhiều nhà nghiên cứu về thủ công Việt Nam sau này tìm đọc và coi như một nguồn tài liệu quý [70]

Sách Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam của Phan Gia

Bền dày gần 200 trang đưa ra một số khái niệm về nghề thủ công và thợ thủ công Cùng với hai cuốn sách của Hoàng Trọng Phu và Piere Gourou, cuốn sách trên của Phan Gia Bền thực sự là nguồn tư liệu quý giúp cho việc nghiên cứu về nghề thủ công ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng [5]

Trang 17

Đầu những năm 1990, thời kỳ địa giới hành chính Hà Nội được mở rộng thêm, một số huyện Ba Vì, Đan Phượng, Phúc Thọ, Hoài Đức, Thạch Thất, thị

xã Sơn Tây, Mê Linh nhập vào Hà Nội Ngay sau đó, năm 1991 Sở Văn hóa

Thông tin Hà Nội chủ trì nghiên cứu, xuất bản công trình Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Hà Nội Đây là công trình được các nhà khoa học nghiên cứu

khá kỹ không chỉ về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, mà các tác giả còn dành hẳn một chương để viết về các nghề thủ công và mỹ nghệ dân gian, một chương viết về kiến trúc và điêu khắc của Hà Nội

Cùng với công trình Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Hà Nội, năm

1994 Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội xuất bản cuốn Tìm hiểu di sản văn hóa dân gian Hà Nội tập hợp nghiên cứu của nhiều tác giả viết cho các đề tài khoa học cấp thành phố, trong đó có những bài viết về phố nghề, làng nghề, các nghề thủ công mỹ nghệ, được một số nhà nghiên cứu phân tích và đánh giá khá cao về giá trị, đóng góp của chúng trong tiến trình lịch sử phát triển của Hà Nội [129]

Sách Việt Nam, một số vấn đề kinh tế - xã hội của Phan Đại Doãn

viết về sự phát triển của nghề thủ công ở Việt Nam Đặc biệt từ thời kỳ Lý Thái

Tổ dời đô về thành Thăng Long, kinh thành dần được mở rộng ra ngoài hoàng thành, nhiều phường hội thủ công được thành lập, thợ từ nơi khác về Thăng Long làm ăn, sinh sống [14]

Sách Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 - 1945 của Vũ Huy Phúc [72],

của Lưu Thị Tuyết Vân, Tiểu thủ công nghiệp nông thôn đồng bằng sông Hồng (1954 - 1994) đã xuyên suốt cả một chặng đường lịch sử của làng nghề thủ công từ năm 1858 khi Pháp nổ súng vào cửa biển Đà Nẵng đến những năm cuối của thế kỷ XX [120]

Cuốn Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề [128] và cuốn Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội của GS.Trần Quốc Vượng và

PGS.TS Đỗ Thị Hảo giới thiệu một cách khái quát, nhưng cũng tương đối đầy

đủ về nghề thủ công Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng Tác giả chỉ ra rằng, ban đầu nghề thủ công ở các làng quê chỉ là nghề phụ, người dân thường

Trang 18

làm trong những lúc nông nhàn, để phục vụ cho nhu cầu của mỗi gia đình trong làng, còn nghề trồng trọt, chăn nuôi vẫn là chính Tuy nhiên, do xã hội phát triển, nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng gia tăng, sản phẩm thủ công do những người thợ làm ra được mang đi trao đổi với người dân ở khắp các vùng miền gần

xa trong cả nước, dần dần tạo nên các làng nghề thủ công chuyên nghiệp như: Làng đúc đồng Ngũ Xã (Hà Nội), làng Khảm trai Chuyên Mỹ (Hà Nội)…

Đặc biệt, cuốn sách nói đến những thăng trầm, thay đổi của nghề thủ công trong các giai đoạn lịch sử của đất nước Không chỉ n

phong kiến, nghề thủ công có lúc thịnh, lúc suy; cuốn sách còn nêu lên thời gian đất nước bị thực dân Pháp đô hộ trong gần một thế kỷ, là thời

bị kìm hãm và hạn chế Mặc dù chính phủ

có những chính sách khuyến khích các làng nghề phát triển, nhưng do nước Pháp

bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 khiến nghề thủ công Việt Nam bị suy thoái, các nghề mây tre đan, nghề mộc, nghề dệt… rất khó

có thị trường để tiêu thụ, đi đến chỗ khó khăn, ngừng trệ Tuy nhiên, người Việt Nam với sự thông minh, sáng tạo, đã chuyển từ mặt hàng này sang mặt hàng khác để thích ứng với sự biển đổi của các giai đoạn lịch sử [130]

Cuốn sách Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Dương Bá Phượng đã nêu lên những nguyên nhân tạo

ra sự thay đổi của các làng nghề thủ công, về tiềm năng phát triển, cũng như một

số phương hướng trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề Việt Nam [77]

Bên cạnh đó, các tác giả như Bùi Văn Vượng với Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam [126], nhà nghiên cứu Lâm Bá Nam cùng hàng chục công

trình nghiên cứu về làng nghề đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về quy trình sản xuất các sản phẩm thủ công, vai trò của làng nghề truyền thống Việt Nam nói chung

và Hà Nội nói riêng trong đời sống kinh tế, xã hội của người dân bản địa và tác động của quá trình đổi mới đối với các làng nghề [58], [59], [60]

Sách Hà Nội như tôi hiểu của G.S Trần Quốc Vượng được xuất bản năm

2005 những nghiên cứu công phu của tác giả về lịch sử hình

Trang 19

thành, quá trình phát triển của Thăng Long - Hà Nội, về nghề thủ công và các làng nghề, phố nghề Hà Nội [131]

Để chuẩn bị sự kiện cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, trong

“Tủ sách Thăng Long 1000 năm” có nhiều sách, công trình khoa học nghiên cứu

về làng nghề và những biến đổi của văn hóa làng nghề, trong đó phải kể đến các

công trình: Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển do

Vũ Quốc Tuấn chủ biên [110] Hai công trình nằm trong Chương trình khoa học

cấp Nhà nước KX.09 là công trình Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội do Nguyễn Chí Bền chủ biên [6] và công trình Bảo tồn

và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Thăng Long - Hà Nội do Võ Quang

Bài viết của Huy Anh đăng trên Báo điện tử VGP News Hà Nội - không

để mai một nghề truyền thống khẳng định tầm quan trọng của làng nghề thủ công

truyền thống Hà Nội hiện nay Tác giả nhấn mạnh: bên cạnh việc đóng góp cho

sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương, của đất nước; làng nghề còn là nơi bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống quý giá từ lâu đời

mà bao thế hệ cha ông đã dày công tạo dựng Huy Anh nêu lên chính sách của nhà nước trong thời gian qua đã giúp các làng nghề Hà Nội phát triển một cách bền vững hơn

Trang 20

Đặc biệt, với Tổng tập Nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam do

PGS.TS Trương Minh Hằng chủ biên bao gồm 6 tập đã tổng hợp rất nhiều bài viết, , làng nghề truyền thống

Mỗi tập được phân chia khá chi tiết Về nghề mộc, tập 3 trong Tổng tập nêu, mặc dù xuất hiện sớm, nhưng vào khoảng thế kỷ XIV, XV các làng nghề mộc ở châu thổ sông Hồng mới dần hình thành và nằm rải rác ở nhiều nơi, trên khắp mọi vùng miền của đất nước đều có các làng nghề mộc, như xứ Đoài có làng mộc Chàng Sơn, làng mộc Sơn Đồng, Dư Dụ (nay thuộc các huyện Thạch Thất, Hoài Đức, thành phố Hà Nội); xứ Bắc có làng mộc Phù Khê, Đồng Kỵ (nay thuộc Bắc Ninh), Thiết Úng (nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội); xứ Nam

có làng mộc La Xuyên (Nam Định), làng mộc Cao Đà (Hà Nam), xứ Đông có làng mộc Cúc Bồ (Hải Dương), làng mộc Hà Cầu (Hải Phòng)… Tuy nhiên, các tác giả cũng nhận định, do lịch sử nghề mộc không được các nhà ghi chép lịch sử biên chép cẩn thận, nên cho đến nay các công trình nghiên cứu về nghề và làng nghề mộc chưa nhiều và chưa thực sự đầy đủ [26]

Về nghề dệt, tập 5 trong tổng tập cho thấy, nghề dệt xuất hiện từ thời Hùng Vương, điều đó chứng minh qua một số công cụ dệt làm từ chất liệu gốm (di chỉ gò Cây Táo, Thanh Trì, Hà Nội) giúp các nhà nghiên cứu xác định chính xác đây là thời kỳ mà người Việt cổ đã biết dệt và dùng sản phẩm dệt để làm thành trang phục cho mình Các tác giả khẳng định, cùng với nghề đúc đồng, đan lát, chế tác vàng bạc…, nghề dệt là một trong những nghề thủ công quan trọng của nước ta

1.1.2 Nghiên cứu về biến đổi văn hóa, biến đổi văn hóa làng, biến đổi văn hóa làng nghề thời kỳ đổi mới

Sách Tổng quan về các làng nghề Hà Nội của G.S Trần Quốc Vượng viết

về sự ra đời các làng nghề từ rất xa xưa, với nghề đầu tiên là nghề đá, sau là nghề gốm và lần lượt là các nghề mây tre đan, nghề mộc… Mặc dù là tổng quan, nhưng cuốn sách được G.S Trần Quốc Vượng đề cập đến những thay đổi về cảnh quan, quy trình chế tác sản phẩm, mẫu mã, thị trường cho sản phẩm Đây là

Trang 21

công trình nghiên cứu sớm nhất về sự biến đổi của văn hóa làng nghề ở Hà Nội từ khi đổi mới (năm 1986) [127]

Bài viết của Trương Duy Bích đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6,

2005, Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam: sự đa dạng và sự chậm biến đổi nêu lên

con số thống kê chưa đầy đủ về số lượng làng nghề hiện có trên cả nước Bên cạnh sự phong phú về các ngành nghề, tác giả cũng nêu lên sự chậm biến đổi của các nghề thủ công mỹ nghệ như chậm biến đổi về tư duy và quy mô sản xuất, phương thức hành nghề và truyền dạy nghề, chậm biến đổi phương tiện và kỹ thuật sản xuất, mẫu mã sản phẩm Đặc biệt, tác giả còn chỉ ra những biến đổi của nghề thủ công trong thời kỳ thay đổi của nền kinh tế thị trường như: ô nhiễm môi trường do rác thải, bụi, tiếng ồn, nước thải ở một số làng nghề Vân Hà, Triều Khúc, Phú Đô, Bát Tràng ; hay nạn tranh mua, tranh bán, sản phẩm làm

ẩu, làm giả, làm nhái ngày càng xuất hiện nhiều ở một số làng nghề Đồng Sâm, Huê Cầu… Sự biến đổi đó từ bao đời nay được ghi trong các hương ước, văn bia của làng, của xã nay đã bị xóa nhòa, đảo lộn [7]

Sách “Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay” (Trường hợp làng Đồng

Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) của Nguyễn

Thị Phương Châm nghiên cứu và đưa ra những lập luận về các lý thuyết, khái niệm biến đổi văn hóa Đây là một đề tài với nhiều lý thuyết về biến đổi văn hóa của các nhà nghiên cứu nước ngoài được [9]

Sách Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận chỉ ra rằng: để phục hồi và duy trì

sự phát triển của các làng nghề thì vấn đề quan trọng Nhà nước cần quan tâm là kinh phí Bên cạnh đó cần có chính sách hỗ trợ, phát triển thị trường, thiết kế sản phẩm, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cần ưu tiên phát triển các ngành nghề truyền thống tại địa phương [15]

Đề tài khoa học cấp bộ do Lê Hồng Lý chủ biên cùng các nhà nghiên cứu

Trương Minh Hằng, Trương Duy Bích Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng sông Hồng - tiềm năng, thực trạng và một số kiến nghị : thời kỳ phong kiến, thủ

Trang 22

công nghiệp Việt Nam là nền sản xuất nhỏ, trải qua các cuộc chiến tranh, nhiều thời kỳ bị gián đoạn, nghề thủ công chưa có những thay đổi hay ảnh hưởng lớn nào về tư duy, phương thức hành nghề Việc thay đổi tư duy và hình thức sản xuất của thợ thủ công theo các tác giả được bắt đầu từ sự thay đổi của nền kinh

tế Sự thay đổi đó đặt ra nhiều vấn đề trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa, môi trường sinh thái, nếp nghĩ, nếp sống, sản xuất của thợ thủ công làng nghề [52]

Nguyễn Đình Phan với bài Phát triển môi trường kinh doanh cho các làng nghề in trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam nêu lên vai trò của môi trường kinh doanh đối với sự phát triển

của các làng nghề, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa nông thôn và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Theo tác giả, môi trường kinh doanh cho các làng nghề là môi trường kinh tế, chính trị, khoa học, môi trường văn hóa - xã hội, môi trường tự nhiên - sinh thái

Không chỉ dừng lại ở những phân tích trên, Nguyễn Đình Phan còn đưa ra bốn giải pháp phát triển môi trường kinh doanh, đó là: hình thành và phát triển đồng bộ thị trường; hoàn thiện hệ thống luật, chính sách để tạo lập, phát triển môi trường thể chế cho phát triển làng nghề; hình thành, phát triển các tổ chức đại diện và tổ chức tư vấn, dịch vụ để hỗ trợ, giúp đỡ các cơ sở sản xuất - kinh doanh ở các làng nghề và giải pháp thứ tư là bảo vệ môi trường sinh thái [69]

Đề cập đến biến đổi văn hóa ở một số làng xã trên địa bàn Hà Nội hiện

nay, có sách Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô

Hà Nội trong thời kỳ đổi mới (2007) của Ngô Văn Giá [22], Sự biến đổi của làng

xã hiện nay ở đồng bằng sông Hồng (2000), bài viết của Nguyễn Thanh Hương đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7, Những biến đổi ở làng nghề Sơn Đồng, Hoài Đức [37] những nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống

của các làng nghề trải qua nhiều thế kỷ được các thế hệ , vun đắp

Sách Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và

những giá trị truyền thống của các làng nghề trong huyện vẫn còn được bảo lưu

và gìn giữ [18]

Trang 23

Kỷ yếu hội thảo Phát triển bền vững làng nghề Hà Tây - Thực trạng và giải pháp được UBND tỉnh Hà Tây in, phục vụ cho hội thảo ngày 02/11/2006 tại Hà

Đông là nguồn tài liệu mang tính thực tiễn cao Trong bài viết của mình, các tác giả khái quát lịch sử hình thành, quá trình phát triển của mỗi làng nghề thủ công; vai trò,

vị trí của làng nghề đối với đời sống xã hội Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu nêu thực trạng sản xuất của các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa có sự đầu tư thích đáng cho khoa học công nghệ để phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm Nhiều ý kiến nêu ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhân dân Tuy nhiên, để đưa ra những giải pháp mang tính khả thi, các bài viết chưa nêu được giải pháp cụ thể, mới chỉ nêu các giải pháp chung chung như đầu tư kinh phí, xây dựng đề án, quy hoạch bảo tồn và phát triển làng nghề [86]

Sách Du lịch Thăng Long - Hà Nội do Trương Sỹ Vinh chủ biên đưa ra

một trong số những giải pháp để phát triển du lịch Hà Nội là phải quan tâm đến bảo tồn và phát triển làng nghề, đưa loại hình du lịch làng nghề đến gần hơn với

du khách, để du khách tham gia vào quá trình làm ra sản phẩm [124]

Công trình Phát huy tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử - văn hóa phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 do Phùng Hữu Phú

chủ biên, là công trình nằm trong chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.09 Nội dung cuốn sách đã đưa ra định hướng phát triển cho nghề thủ công như sau:

Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề cần hỗ trợ phát triển trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại Điều đó cho thấy việc áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại là việc làm cần thiết cho sự phát triển các làng nghề, và như vậy, việc phát triển đó tất yếu

sẽ dẫn đến sự biến đổi về văn hóa ở các làng nghề thủ công Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng [71, tr.207]

Sách Kinh tế - xã hội đô thị Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII, XVIII, XIX

của Nguyễn Thừa Hỷ xuất bản năm 2010 đã tham khảo

ghi chép của các quan chức, giáo sĩ, phóng viên, thương gia nước ngoài thời

kỳ làm việc và buôn bán tại Thăng Long - Hà Nội Tác giả nhấn mạnh, điểm

Trang 24

mạnh của kinh tế hàng hóa Thăng Long - Hà Nội chính là chất lượng sản phẩm hàng thủ công do những người thợ có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao làm ra, hấp dẫn không chỉ người Việt Nam, mà còn cả khách nước ngoài Song tác giả cũng đề cập đến mặt hạn chế của các ngành nghề thủ công truyền thống khiến cho nhiều sản phẩm chưa vươn rộng được ra nhiều nước trên thế giới, đó là quy

mô sản xuất vẫn mang tính chất của nền sản xuất nhỏ [36]

Tiếp đó là cuốn sách Thủ công nghiệp, công nghiệp từ Thăng Long đến

Hà Nội của Nguyễn Lang viết về quá trình phát triển của nghề thủ công truyền

thống Hà Nội, sau đó phát triển thành các xí nghiệp công nghiệp với sự ra đời các hiệp hội doanh nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, mấu chốt của vấn đề được tác giả nêu rõ: cần đưa sản xuất tiểu thủ công nghiệp của các làng nghề lên trình độ cao hơn, phải thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, thay đổi mẫu

mã để vừa mang tính hiện đại, nhưng vẫn giữ được yếu tố truyền thống [46]

Luận án tiến sĩ của Vũ Diệu Trung (tháng 5/2013), “Sự biến đổi văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng từ năm 1986 đến nay (qua khảo sát trường hợp một số làng: Sơn Đồng, Bát Tràng (Hà Nội), Đồng Xâm (Thái Bình) khái quát

bối cảnh chung về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong các làng nghề từ năm

1986 đến nay Cùng với bối cảnh đó là sự biến đổi các thành tố trong văn hóa làng nghề ở Sơn Đồng, Bát Tràng và Đồng Xâm (bao gồm biến đổi về: không gian, cảnh quan di tích, hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác, phương thức truyền nghề, giữ nghề, quan hệ xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội) Tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm mục đích bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới Đây là một công trình mới nhất, có giá trị để NCS tham khảo về văn hóa làng nghề

Trang 25

lịch, các nghệ nhân trực tiếp cho ra đời các sản phẩm thủ công Các bài viết cũng chỉ ra nguyên nhân làm cho du lịch làng nghề chưa phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của mỗi làng nghề, nhưng bài viết vẫn chưa nê

[87]

Hai đề án Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề Hà Nội giai đoạn từ 2010

Hà Nội về Phát triển sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của làng nghề Hà Nội giai đoạn 2013-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định

số 7430/QĐ-UBND ngày 09/12/2013 của UBND thành phố Hà Nội) đã tổng

hợp: hiện nay thành phố Hà Nội có 1.350 nghề và làng nghề, chiếm gần 59% tổng số làng Đề án nhận định, trong điều kiện hiện nay, các làng nghề có xu hướng chuyển động tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng “công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp” ngay trên địa bàn nông thôn

Bên cạnh nghiên cứu của các học giả trong nước, còn có một số học giả nước ngoài nghiên cứu về vấn đề này: Luận án tiến sỹ của Iwai Misaki tại Đại

học Hitotsubashi:“Sự biến đổi của làng xã ở vùng châu thổ sông Hồng Việt Nam trước và sau đổi mới, lấy trung tâm là hợp tác xã nông nghiệp làng Trang Liệt, tỉnh Bắc Ninh” Trước đó, vào năm 1994, Iwai Misaki đã sống một thời gian

tương đối dài tại làng Trang Liệt Ba năm sau đó, ông đã quay trở lại vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và làng Trang Liệt nhiều lần, khảo sát thực trạng sự thay đổi đời sống của người dân trong quá trình làm thêm nghề phụ khi việc phân chia ruộng đất đang được tiến hành tại các làng xã Trong luận án, Iwai Misaki phân tích đặc điểm của làng xã châu thổ sông Hồng Đặc biệt, ông đi s

đưa ra những đánh giá khoa học, có căn cứ về sự biến đổi văn hóa của người dân đồng bằng sông Hồng qua nghiên cứu trường hợp HTX nông nghiệp làng Trang Liệt [38]

Sách Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ do Papin

Philippe và Oliver Tessier chủ biên) viết về xã hội nông thôn truyền thống

Trang 26

của người nông dân đồng bằng sông Hồng thông qua cơ cấu tổ chức, hoạt động kinh tế, thiết chế xã hội tại mỗi làng xã Biểu hiện cụ thể của các làng xã được Papin Philippe và Oliver Tessier nghiên cứu là mối quan hệ chặt chẽ giữa các gia đình, dòng họ, phe giáp, phường hội, phường nghề, phong tục tập quán, đình chùa, miếu mạo [68]

Tác giả lấy dẫn chứng việc biến đổi của làng Triều Khúc và Thiết Úng cả

về mặt tích cực lẫn hạn chế như: nhà cao tầng ngày càng nhiều, đường làng, ngõ xóm rộng rãi, khang trang, sạch sẽ Song môi trường ô nhiễm ở Triều Khúc cũng vào bậc nhất Đó là ô nhiễm tiếng ồn của những khung cửi, ô nhiễm nguồn nước trong quá trình rửa lông gà, lông vịt, nhiều người dân mắc các bệnh về tai, bệnh ngoài da Còn ở Thiết Úng, với đặc thù là nghề chạm khắc gỗ, do vậy với tính chất nghề, việc quy hoạch khu sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, các hộ làm nghề ngay tại gia đình làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, đáng kể là tỷ lệ mắc bệnh hô hấp của trẻ mới sinh cho đến 4 tuổi chiếm đến 90 - 95% dân số trong làng, trong xã [6]

1.1.3.1 Những bài viết về biến đổi văn hóa làng nghề Triều Khúc

Trên Báo Tiểu thủ công nghiệp ngày 8/1/1976 có bài viết Nghề dệt quai thao ở Triều Khúc của Trần Quỳnh Theo tác giả, ng Triều Khúc phát triển từ thế kỷ XVII với nhiều sản phẩm dành cho phụ nữ như áo the, quạt yếm,

Trang 27

bao thắt lưng, độn tóc đuôi gà… Đến thế kỷ XVIII, Vũ Đức Uý được triều

Triều Khúc còn được gọi là làng Đơ Thao vì chuyên dệt quai thao cho những chiếc nón làm duyên được các chị em ưa dùng Xã hội thay đổi, văn hoá phương Tây du nhập, nón quai thao không còn được sử dụng rộng rãi, người dân

, quân h Thế nhưng nghề dệt quai thao truyền thống xưa kia của cha ông vẫn luôn là niềm tự hào của các thế hệ con cháu Triều Khúc ngày nay [83]

Bài viết “Làng Triều Khúc - Truyền thống và biến đổi” của Ngô Đức Thịnh in trong tập sách “Tình hình hiện nay (nhân loại học về quá trình biến động) của vùng Đông Nam Á” đã nêu lên những giá trị truyền thống trong văn

hóa của người Triều Khúc luôn được bảo lưu, gìn giữ qua nhiều thế hệ, qua nhiều biến động của lịch sử Tác giả cũng có những nghiên cứu mới về biến đổi của làng Triều Khúc từ sau thời kỳ đổi mới năm 1986 và cho rằng đó là xu hướng chung của sự phát triển [101]

Sách Nghề dệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam của Lâm Bá Nam

in trong Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam có những nghiên

cứu về lịch sử nghề dệt đồng bằng Bắc Bộ, trong đó làng Triều Khúc:

Làng thủ công Triều Khúc nổi tiếng về sự đa nghề (cho đến những năm 1930 của thế kỷ này ở đây có tới trên 30 nghề thủ công khác nhau), trong đó nghề dệt đóng vai trò quan trọng, nổi tiếng nhất với sản phẩm quai thao [26, tr.729]

Luận văn thạc sĩ Những vũ điệu trong hội làng Triều Khúc (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội) của Phạm Hùng Thoan đã đi sâu vào

nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị văn hóa truyền thống của các điệu múa cờ, múa bồng của người Triều Khúc Qua luận văn của mình, Phạm Hùng Thoan đã mang lại cho người đọc một cảm giác được sống lại và hòa mình vào những điệu múa rộn ràng, mang đậm dấu ấn văn hóa của làng quê vùng châu thổ Bắc Bộ [103]

Trang 28

Bài viết Năng động làng nghề Triều Khúc của tác giả Anh Thư đăng trên báo Hànộimới viết về sự năng động, sáng tạo trong suy nghĩ và cách làm của

người dân Triều Khúc, từ đó có hướng phát triển mới cho làng nghề, tạo ra nhiều sản phẩm phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng, khắt khe của thị trường [105]

Bài viết của Nhật Linh Dệt Triều Khúc - Thăng trầm những bước đi đăng

trên Tạp chí Truyền hình Hà Nội số 89, ngày 16/6/2012, khái quát về lịch sử ra đời của nghề dệt ở Triều Khúc, sản phẩm ban đầu là dệt the, dệt thao, đến nay người Triều Khúc sản xuất ra hàng trăm mẫu mã sản phẩm thủ công, nhất là các sản phẩm phục vụ cho lực lượng vũ trang và dân sự [50]

Tác giả Phạm Nga với bài Ô nhiễm môi trường ở làng nghề Triều Khúc đăng trên báo điện tử Pháp luật và Xã hội ngày 11/01/2012 viết: Triều Khúc nổi

tiếng là làng nghề thủ công: thêu, dệt the, dệt khăn mặt, tơ lụa, nhuộm áo… Ngoài ra, Triều Khúc xưa nay còn được biết đến bởi nghề thu gom phế liệu, thu mua lông gà, lông vịt làm thà để phục vụ con người Theo Phạm Nga: làng Triều Khúc có khoảng 600 hộ dân làm nghề dệt thổ cẩm, chổi lông gà… trong đó thu gom phế liệu, tái chế nhựa, chủ yếu vẫn sả

Được sự quan tâm của nhà nước, Triều Khúc đã được đầu tư dự án cụm công nghiệp Tân Triều để vừa phát triển làng nghề, vừa bảo vệ môi trường, nhưng dự án còn nhiều bất cập, vì vậy vấn đề môi trường chưa được giải quyết triệt để [61]

Bài viết của Nghĩa Lê Hợp tác xã dệt công nghiệp Triều Khúc (Hà Nội) - gìn giữ tinh hoa truyền thống đăng trên báo điện tử Thời báo Kinh doanh ngày

17/5/2012 HTX công nghiệp dệt Triều Khúc Cho đến nay, sau hơn 50 năm hoạt động, HTX công nghiệp dệt Triều khúc vẫn duy trì và ngày càng phát triển Ngoài mặt hàng truyền thống là vải, HTX còn sản xuất các sản phẩm: túi đựng tiền cho ngành ngân hàng, băng phù hiệu cấp hiệu, băng huân huy chương, dây chiến thắng, dây mũ kêpi phục vụ cho công an, quân đội và dân sự [48]

Trang 29

1.1.3.2 Những bài viết về biến đổi văn hóa làng nghề Thiết Úng

Bài viết Làng chạm gỗ Thiết Ứng của Chu Quang Trứ và Đỗ Thiên Du in trong Tổng tập nghề và làng nghề viết về lịch sử làng nghề, các sản phẩm được

thị trường ưa chuộng gồm sập gụ, tủ chè, giá gương, cây đèn và đồ chơi mỹ nghệ

là 80 mẫu tượng khác nhau Bên cạnh đó, tác giả nêu lên sự đổi thay về ngành nghề của người dân Thiết Úng trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa thời

Bài viết Làng nghề điêu khắc gỗ mỹ nghệ Thiết Úng trên trang web:

www.lang nghe.org.vn giới thiệu về quy trình, yêu cầu kỹ thuật của người thợ Thiết Úng để làm ra một sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ hoàn thiện Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu về các di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật đã có từ hàng trăm năm trước (đình chùa Thiết Úng, nhà thờ họ Đỗ, nhà thờ họ Đồng) đều mang đậm dấu ấn và bàn tay khéo léo của những nghệ nhân tài hoa làng Thiết Úng

Bài Làng nghề điêu khắc gỗ mỹ nghệ Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh” đăng trong sách Làng nghề Hà Nội, tiềm năng và triển vọng phát triển do

UBND thành phố Hà Nội và Sở Công thương

về biến đổi trong sinh hoạt văn hóa của thợ thủ công Thiết Úng Ngoài ra, bài viết nêu lên sức lan tỏa, ảnh hưởng của làng ngh Thiết Úng sang các làng bên cạnh và nêu lên doanh thu từ nghề gỗ chỉ tính riêng năm 2008 chiếm đến 70% doanh thu toàn xã [114, tr.124]

Bài Hướng đi mới cho làng nghề Vân Hà của Hồng Quý đăng trên báo

điện tử Kinh tế nông thôn ngày 23/2/2009 viết về vai trò của làng chạm gỗ Thiết Úng qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, nay được nhân dân các làng khác trong vùng làm theo và mở rộng ra toàn xã [82]

Trang 30

Bài của Việt Nga Hướng phát triển mới của làng nghề Thiết Úng đăng

trên Baomoi.com ngày 22/7/2011 viết về sự năng động, sáng tạo của người Thiết Úng trong điều kiện đổi mới của đất nước Bằng việc nắm bắt nhu cầu sử dụng

đồ gỗ mỹ nghệ của người tiêu dùng, người Thiết Úng đã áp dụng kỹ thuật công nghệ mới kết hợp với kỹ thuật chạm khắc truyền thống, làm cho sản phẩm được đẹp hơn, tinh xảo hơn [62]

Gần đây nhất, vào tháng 12/2012, Ban chấp hành Đảng bộ xã Vân Hà đã

in và phát hành cuốn Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Vân Hà (1930 - 2010) Cuốn sách có 4 phần, trong đó phần thứ nhất viết về Vân Hà - vùng đất, con người và truyền thống lịch sử - văn hiến Ở phần thứ nhất này,

làng nghề chạm khắc Thiết Úng được các nhà viết sử xã Vân Hà viết khá chi tiết

về lịch sử ra đời, quá trình hình thành, phát triển, mở rộng làng nghề

1.1.4 Nhận xét chung

nêu trên, NCS rút ra một s nhận xét sau:

- Các học giả, nhà nghiên cứu đã giới thiệu được: sự phong phú, đa dạng,

sự hội tụ, kết tinh của nghề, làng nghề Thăng Long - Hà Nội

- Đa số các công trình, sách, bài viết đều tầm quan trọng của trong đời sống xã hội và cho rằng

tạo ra sản phẩm phong phú, độc đáo, đáp ứng nhu cầ

Trang 31

, nhưng vẫn mang phong cách đặc

- Những công trình nghiên cứu đã nói lên việc áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống, đó là: biến đổi về mẫu mã, loại hình, chất lượng sản phẩm về cảnh quan môi trường, phong tục tập quán, lễ hội; Biến đổi

về hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác, phương thức đào tạo nghề, truyền nghề và giữ bí quyết nghề; trong đó biến đổi được nhận diện rõ là biến đổi mối quan hệ xã hội

- Mỗi công trình đều có ngh dung biến đổi: một số công trình đi sâu vào vấn đề cần thiết phải thực hiện việc đa dạng hóa sản phẩm, thay đổi mẫu mã để vừa mang tính hiện đại, nhưng vẫn giữ được yếu

tố truyền thống; Một số công trình lại đi sâu vào việc nghiên cứu về tầm quan trọng của môi trường kinh doanh đối với sự phát triển,

T,

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Kế thừa một số khái niệm của các tác giả đi trước như khái niệm: Văn hóa, Văn hóa nghề; Làng nghề, Văn hóa làng nghề; Làng nghề truyền thống, Văn hóa làng nghề truyền thống NCS , đưa ra khái niệm

theo cách hiểu và nhìn nhận của bản thân Sau khi các khái

Trang 32

niệm đã được làm rõ, NCS đi vào phân tích cơ cấu văn hóa làng nghề truyền thống, về biến đổi v , giúp cho việc triển khai các vấn đề nghiên cứu ở chương tiếp theo

1.2.1 hái niệm và cấu trúc văn hóa làng nghề truyền thống

nghĩa văn hóa Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng có một

số điểm chung mà các nhà nghiên cứu đều thừa nhận, rằng văn hóa là phương thức tồn tại (tức hoạt động sáng tạo để mưu sinh, nối dài cuộc sống) chỉ có ở loài người, khác về cơ bản với tổ chức đời sống của các quần thể động vật trên trái đất Văn hóa

là cái do các thế hệ người trao truyền cho nhau bằng bắt chước, h

bẩm sinh theo con đường sinh học

“văn hóa” có nguồn La tinh “colere”, sau

n thành culture

mang ý nghĩa là vun trồng đất đai, cây cối trong nông nghiệp, sau đó chuyển sang nghĩa vun trồng tinh thần, trí là cái thiêng liêng, có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con người Đến thời Trung cổ, văn hóa được hiểu là tín ngưỡng Tín ngưỡng cũng là một điều thiêng liêng, là biểu hiện sự phát triển cao nhất của tinh thần con người

, tuy nhiên, qua nghiên , NCS

:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày

về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa

[30, tr.431]

Trang 33

a trên

,

n A.A.Radughin Văn hóa học - Những bài giảng:

Bản thân sản xuất vật chất cũng có thể xác định bằng những thuật ngữ của văn hóa học, tức là có thể nói tới văn hóa của sản xuất vật chất, nói tới mức độ hoàn thiện của nó, nói tới mức độ hợp lý và văn minh của nó, nói tới tính thẩm mỹ và tính sinh thái của những hình thức và phương thức thực hiện sản xuất vật chất, nói tới tính đạo đức và tính công bằng của mối quan hệ phân phối hình thành nên trong sản xuất vật chất Chính là theo ý nghĩa đó mà người ta nói tới văn hóa của công nghệ sản xuất, nói tới văn hóa của công tác quản lý và tổ chức sản xuất, nói tới văn hóa của những điều kiện sản xuất, nói tới văn hóa của việc trao đổi và phân phối v.v… [3, tr.111]

“Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội” [133,

tr.1192] Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng lại đưa ra khái niệm nghề như là những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau, được xếp thành một nhóm chuyên môn:

Trang 34

Nghề là tập hợp một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người [34, tr.11]

Từ các khái niệm trên, có thể hiểu rằng, nghề là một lĩnh vực lao động,

mà trong đó nhờ được đào tạo, con người tích lũy được kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng, trình độ để tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc sản phẩm tinh thần, nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội Nghề nào cũng hàm chứa hệ thống giá trị kiến thức,

kỹ năng, kỹ xảo, truyền thống nghề, hiệu quả mang lại

) như sau:

, đư

Việc phân loại nghề khá đa dạng và phức tạp, nhưng cơ bản nghề được phân loại theo hai lĩnh vực khái quát nhất, đó là phân theo lĩnh vực quản lý và phân theo lĩnh vực sản xuất Ở phạm vi đề tài của luận án, NCS phân loại theo lĩnh vực sản xuất; trong đó, nhóm nghề đưa ra là nghề thủ công truyền thống, nghề mà ở đó nhiều khâu sản xuất, nhiều công đoạn làm bằng tay, dùng sức người là chính

1.2.1.2 Làng nghề, Văn hóa làng nghề

GS Trần Quốc Vượng trong cuốn Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà

Nội và Phan Đại Doãn trong sách Làng Việt Nam một số vấn đề kinh tế xã hội đã

gặp nhau ở một số điểm chung khi đưa ra quan niệm về làng nghề, đó là: làng nghề là làng có nghề thủ công, nhưng vẫn làm nghề nông, vừa sản xuất, vừa buôn bán sản phẩm do gia đình hoặc phường hội sản xuất Nghĩa là cùng lúc

Trang 35

người dân làng nghề vừa đóng vai trò thợ, vừa đóng vai trò người trao đổi sản phẩm

Tác giả Lê Thị Minh L Làng nghề và việc bảo tồn các giá trị văn

dsvh.gov.vn cho rằng: khái niệm về làng nghề theo cách nhìn văn hoá bao gồm các nội dung cụ thể, như: Làng nghề là một địa danh gắn với một cộng đồng dân

cư có một nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan toả mạnh mẽ;

Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm; Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế

hệ sau; Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hoá và xã hội liên quan tới chính họ [56]

Một số tác giả khác đưa ra khái niệm về làng nghề, tuy có khác nhau về câu từ, nhưng nhìn chung, các khái niệm vẫn bao hàm các thành tố cấu thành làng nghề như: Làng nghề là nơi hội tụ thợ thủ công, bao gồm những người thợ với quy trình, bí quyết làm nghề và truyền nghề; là một cộng đồng có sự liên kết với nhau về địa lý, quan hệ cùng huyết thống, quan hệ sản xuất, kinh tế; là nơi sản xuất ra những mặt hàng thủ công có tính mỹ nghệ mang đặc trưng văn hóa địa phương; là nơi có phong tục tập quán, nếp sống, lễ hội, tục thờ tổ nghề; là làng nghề không phải làng thuần nông, chuyên sống bằng sản xuất nông nghiệp

Các tác giả đưa ra quan niệm làng nghề theo cách mô tả dân tộc học như những dẫn chứng trên là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, sau khi tham khảo tài liệu

từ các nhà nghiên cứu trước, với thực tế khảo sát tại một số địa phương, xin đưa

ra quan niệm về làng nghề như sau: “Làng nghề là làng làm một hoặc một số nghề thủ công như một sinh kế hay một phần sinh kế”

trên, căn cứ vào những nghiên cứu của các nhà khoa học, qua tham khảo nguồn tài liệu của các học giả, xin nêu quan niệm về văn hóa làng nghề như sau:

Trang 36

Văn hóa làng nghề là một dạng đặc thù của văn hóa làng nói chung

với việc sản xuất, sinh sống bằng một nghề hay một số nghề thủ công nghiệp (không tính đến nghề nông) , v

Tính đặc thù của văn hóa làng nghề là đặc trưng của việc làm nghề, sinh sống bằng nghề ghi đậm dấu ấn trong văn hóa của làng nghề, các làng thuần nông không có sản phẩm riêng biệt để tạo nên tính văn hóa đặc thù

1.2.1.3 Làng nghề truyền thống, Văn hóa làng nghề truyền thống

Sách Làng nghề Việt Nam và môi trường do Đặng Kim Chi (chủ biên) và

Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lệ Minh viết: Làng nghề truyền thống là những làng nghề hình thành từ lâu đời, sản phẩm có tính cách riêng biệt đặc thù, có giá trị văn hóa lịch sử của địa phương, được nhiều nơi bi

cha truyền, con nối hoặc gia đình, dòng tộc) [11]

Theo Trần Minh Yến, khái niệm làng nghề truyền thống được khái quát dựa trên hai khái niệm nghề truyền thống và làng là:

Làng nghề truyền thống là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng

tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế

xã hội và gia tộc [26, tr.983 - 984]

Vũ Quốc Tuấn đưa ra khái niệm về làng nghề truyền thống với một số nội dung tương đối sát với khái niệm của Trần Minh Yến:

Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền, mà ở đó có các hộ nghề, tộc nghề chuyên sản xuất, chế tác, sinh sống bằng một nghề hoặc nhiều nghề, có khi chỉ bằng một công đoạn của nghề Đấy là nơi có những thế hệ nghệ nhân, thợ thủ công tài năng của địa phương, đã và đang

Trang 37

tạo ra những sản phẩm tinh xảo, độc đáo, đậm nét bản sắc văn hóa, có giá trị kinh tế, tư tưởng và thẩm mỹ cao, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước [110, tr.13]

Mặc dù mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một khái niệm riêng khác nhau, nhưng tinh thần chung trong các khái niệm về làng nghề truyền thống vẫn t

các nội dung sau, đó là: làng nghề truyền thống là làng có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, có các nghệ nhân và những người thợ giỏi chế tác ra các sản phẩm độc đáo, tinh xảo, mang đặc trưng văn hóa cộng đồng, có cùng tổ nghề, có bí quyết làm nghề, giữ nghề và truyền nghề, các thành viên trong làng phải tuân theo luật lệ làng nghề

Định nghĩa về văn hóa làng nghề truyền thống cũng có một số tác giả trong và ngoài nước đưa ra khái niệm văn hóa làng nghề truyền thống, nghĩa là: văn hóa làng nghề truyền thống là văn hóa của những làng có nghề truyền thống

bị quy định bởi nghề đó và được truyền lại cho đến hôm nay

Sau khi tham khảo các công trình, sách, các khái niệm, định nghĩa về nghề, làng nghề, làng nghề truyền thống, NCS xin đưa ra khái niệm về văn hóa

làng nghề truyền thống như sau: “Văn hóa làng nghề truyền thống là một kiểu văn hóa làng nghề được quy định bởi việc sản xuất, buôn bán và sinh sống bằng

Với quan niệm trên, văn hóa làng nghề truyền thống các yếu tố sản xuất, buôn bán, sinh sống, gồm văn hóa vật chất và tinh thần của người dân làng nghề, bằng nghề truyền thống của làng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Các yếu

tố trên là đặc văn hóa mỗi làng nghề truyền thống Như vậy, có thể khái quát đặc trưng văn hóa làng nghề truyền thống theo 2 nội dung chính: làng làm nghề thủ công truyền thống và văn hóa của làng đó được bảo tồn trong lịch sử

Cũng như văn hóa làng, văn hóa làng nghề gồm 3 thành tố tạo nên cơ cấu, cụ thể như sau:

Trang 38

Văn hóa vật chất ): gồm không gian tồn tại nghề, không gian giao lưu hàng hóa của làng nghề; , : chọn, mua nguyên liệu, công cụ sản xuất; , hệ thống các di tích lịch sử thờ tổ nghề, nhà ở của người dân làng nghề, cơ sở sản xuất, sản phẩm làng nghề

thể chế tổ chức làng: bao gồm các quy định giữa người làm nghề với nhau; là mối quan hệ giữa bạn hàng, thầy trò, giữa các thành viên trong gia đình, giữa các phường hội, thợ thủ công

ng văn ho , NCS

1.2.2 Lý thuyết về biến đổi văn hóa

Biến đổi văn hóa (cultural change) là chủ đề nghiên cứu rộng của nhiều

C

ng ,

một số : Thế kỷ XIX, các nhà khoa học khởi xướng thuyết tiến hóa luận là E.B.Tylor và L Morgan cho rằng:

Trang 39

Sự phát triển tiến bộ tiến hóa của các nền văn hóa là xu hướng chính trong lịch sử loài người Xu hướng phát triển này là rất hiển nhiên, vì rằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của nó có thể sắp xếp vào một trật tự xác định, mà không thể làm ngược lại [141, tr.53]

Cuối thế kỷ XIX, thuyết truyền bá luận ra đời và phát triển phổ biến ở các

nước Âu - Mỹ Tác giả Ph.Ratxen, người Đức trong cuốn Địa lý học nhân loại, Nhập môn dân tộc học đã có những kết luận về sự truyền bá các nền văn hóa

trong không gian, về sự hình thành và nguồn gốc của chúng Ph.Ratxen cho rằng: nguồn gốc cơ bản của những biến đổi trong các nền văn hóa là ở những tiếp xúc qua lại giữa chúng Còn đại biểu của xu hướng truyền bá luận lập luận: truyền bá, tiếp xúc, đụng chạm, hấp thụ, thiên di văn hóa là nội dung chủ yếu của quá trình lịch sử Nhìn vào đánh giá trên cho thấy, quan điểm nghiên cứu về biến đổi văn hóa của các nhà truyền bá luận đối lập với quan điểm của các nhà tiến hóa luận

Từ năm 1920 đến năm 1950, một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa

có ảnh hưởng lớn đối với nước Anh là thuyết chức năng, trong đó phải kể đến hai nhà nghiên cứu Radcliffe Brown và Malinowski Theo quan điểm của hai ông, một nền văn hóa thay đổi khi nó chịu những tác động bên ngoài Đưa ra quan điểm này, các nhà khoa học không có ý định nghiên cứu sự thay đổi các mối quan hệ xã hội, mà ý định chính của họ là nghiên cứu mối quan hệ qua lại

về chức năng của các hệ thống văn hóa, xã hội, chứ không phải nghiên cứu cách thức hệ thống này được thay đổi

Đến năm 1955, phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa khác trong nhân học Bắc Mỹ về sinh thái văn hóa đã được Julian Steward khởi xướng, năm 1960 phương pháp này đã có ảnh hưởng lớn ở cả khu vực và trên thế giới Julian Steward cho rằng, biến đổi có thể là sự kiện tình cờ do tiếp xúc giữa các nền văn hóa với nhau, hoặc có thể là một sản phẩm ngẫu nhiên của lịch sử Julian Steward đưa ra nhiều nghiên cứu để chứng minh rằng, biến đổi văn hóa có thể

Trang 40

được giải thích chủ yếu xét về sự thích nghi tiến bộ của một nền văn hóa nào đó với môi trường của

Biến đổi văn hóa diễn ra theo nhiều chiều và nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, đã có sự tương đối thống nhất về định nghĩa trong cuốn Từ điển Các khái niệm nhân học văn hóa, Robert H.Winthdrop đã nêu rõ:

Biến đổi văn hóa bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đổi tương đối lâu dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xã hội nào cũng biểu lộ những sự biến đổi, cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi [143, tr.11]

Trong công trình Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)

(2009), Nguyễn Thị Phương Châm đã chia cuốn sách thành 3 chương, t

dành hẳn chương 1 viết về Biến đổi văn hóa: Những tiền đề lý thuyết và thực tiễn, theo Nguyễn Thị Phương Châm:

Dù còn rất nhiều quan điểm, những sự phân tích khác nhau về toàn cầu hóa và văn hóa, nhưng các nhà nghiên cứu có chung thống nhất cho rằng sự biến đổi văn hóa là xu hướng tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa, sự biến đổi ấy đã và đang diễn ra rất đa dạng, ở nhiều cấp độ

và diễn ra theo nhiều chiều hướng khác nhau [9, tr.17]

:

: “1

Ngày đăng: 21/02/2023, 14:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN