Facebook @ThiNganHang www facebook com/ThiNganHang www ThiNganHang com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1/166 TÀI LIỆU THAM KHẢO THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ Phần I Đánh giá năng lực khách hàng[.]
Trang 1TÀI LIỆU THAM KHẢO
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Phần I Đánh giá năng lực khách hàng vay vốn
I.1 Đánh giá khách hàng vay vốn
1 Năng lực pháp lý
Để đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng vay vốn, điều quan trọng là phải biết được khách hàng thuộc loại hình doanh nghiệp nào, thành phần kinh tế nào, và những luật nào sẽ điều chỉnh việc thành lập cũng như hoạt động của khách hàng Do
đó, cần căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, đối chiếu với những văn bản pháp qui (luật, nghị định, thông tư, quyết định, và các văn bản dưới luật khác) điều chỉnh từng loại hình doanh nghiệp, để từ đó đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng vay vốn Đến thời điểm hiện nay, phạm vi điều chỉnh của một số bộ luật liên quan tới hoạt động của các loại hình doanh nghiệp được tóm tắt như sau:
- Phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân; doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội khi được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần;
- Phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp nhà nước: Công ty nhà nước;
đối với doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần nhà nước, công ty TNHH nhà nước một hoặc hai thành viên trở lên, Luật DNNN chỉ quy định về thẩm quyền của chủ sở hữu nhà nước trong việc quyết định thành lập mới,
tổ chức lại, giải thể và chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp này với tư cách là chủ sở hữu và quy định về quan hệ giữa chủ sở hữu nhà nước với người được uỷ quyền đại diện phần vốn góp của nhà nước và công ty nhà nước Việc tổ chức quản lý hoạt động
và thực hiện các thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp;
- Phạm vi điều chỉnh Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, và hợp đồng hợp tác kinh doanh có bên nước ngoài tham gia;
2 Một số điểm cần lưu ý khi xem xét, đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng
Sự mở rộng của khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước: Nhằm tạo tiền đề và tiến tới hình thành một khung pháp lý thống nhất, bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 đã mở rộng khái niệm doanh nghiệp nhà nước hơn so với Bộ luật DNNN ban hành năm 1995, theo đó có 3 loại doanh nghiệp nhà nước, cụ thể như sau:
Trang 2- (1) DNNN có 100% vốn nhà nước, hoạt động theo Luật DNNN mới (năm 2005) được gọi là Công ty nhà nước (để phân biệt với DNNN có 100% vốn nhà nước nhưng hoạt động theo các luật khác);
-(2) Công ty cổ phần, công ty TNHH một hoặc hai thành viên trở lên có 100% vốn Nhà nước, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; và
- (3) Công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên có cổ phần chi phối hoặc vốn góp chi phối của nhà nước, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Chính vì có sự mở rộng khái niệm DNNN, nên nếu dùng chung một khái niệm
TNHH (dù có 100% vốn nhà nước hay vốn nhà nước chi phối), vẫn hoạt động theo Luật doanh nghiệp hoặc Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, từ việc thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đối ở hữu, tổ chức quản lý và hoạt động của các công ty này
không qui định chồng chéo với Luật Doanh nghiệp hoặc Luật Đầu tư nước ngoài tại
diện vốn nhà nước tại các công ty cổ phần, công ty TNHH, mà mối quan hệ này chưa
Đối với khách hàng là doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, trách nhiệm trả nợ
thời gian hoàn trả nợ vay, các hình thức bảo đảm tiền vay, đều phải được pháp nhân
vay, mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn vay trả, các hình thức bảo đảm tiền vay, ) đều phải được Hội đồng thành viên chấp thuận trước bằng văn bản
dung như: Chiến lược phát triển của công ty, phương án đầu tư, bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh giám đốc (tổng giám đốc) và cán bộ quản lý quan trọng khác của công ty
địa chỉ cư trú,
Trang 3Tất cả những lưu ý nêu trên để giúp cán bộ ngân hàng trong quá trình đánh giá năng lực pháp lý khách hàng
đánh giá được:
- Tên khách hàng vay vốn;
- Quyết định thành lập, cấp ra quyết định thành lập, ngành nghề lĩnh vực hoạt động Ngành nghề lĩnh vực hoạt động hiện tại có phù hợp với lĩnh vực của
dự án đầu tư mà khách hàng đặt vấn đề vay vốn tại ngân hàng hay không?;
- Người đại diện theo pháp luật của công ty;
- Chế độ hạch toán: Độc lập hay phụ thuộc
Từ đó kết luận: Khách hàng có đủ tư cách pháp nhân để xác lập mối quan hệ tín dụng với ngân hàng hay không? Trường hợp chưa đủ thì cần bổ sung những văn bản pháp lý gì
3 Phân tích tình hình sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính
3.1 Khung phân tích
gồm: bản thân khách hàng, các nhà cung cấp nguyên vật liệu, các tổ chức tín dụng, các công ty kiểm toán độc lập, và các nhà đầu tư Đối với các tổ chức tín dụng, thực hiện nội dung này nhằm mục tiêu:
ổn định/không ổn định, thuận lợi/khó khăn; đưa ra nhận định dự báo trong tương lai về tình hình hoạt động sxkd của khách hàng;
có thể ra quyết định đúng đắn và kịp thời khi cung cấp cáấngnr phẩm ngân hàng phục
vụ hoạt động sxkd của doanh nghiệp
cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính), báo cáo kiểm toán (nếu có), các
- Phân tích so sánh (Comparative financial statement Analysis);
- Phân tích cơ cấu (Common-size Analysis);
- Phân tích chỉ số (Ratio analysis);
Trang 4- Phân tích dòng tiền (Cash Flow Analysis); và
- Phân tích qua phương pháp định giá (Valuation)
Dưới đây sẽ đề cập tới những nội dung cụ thể của 5 công cụ/phương pháp nêu trên thường được dùng để phân tích một báo cáo tài chính doanh nghiệp
của nhiều năm liên tiếp để so sánh sự thay đổi của các tài khoản, của các chỉ tiêu,
Chính vì vậy, phương pháp này có hai kỹ thuật cơ bản, là: Phân tích sự thay đổi năm này qua năm khác (Year - to - Year Analysis) và phân tích xu hướng các chỉ
số (Index-Number Trend Analysis) Phân tích sự thay đổi qua các năm thường được thực hiện trong thời gian 2 đến 3 năm, cho biết sự thay đổi cả về số tuyệt đối và số tương đối của các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính qua các năm Phân tích xu hướng thường được sử dụng nhiều trong phân tích dài hạn, trên 3 năm; phương pháp phân tích này cho biết chiều hướng, tốc độ và sự thay đổi của xu hướng so với năm gốc nào đó Vì vậy, phương pháp phân tích này đòi hỏi phải lựa chọn được một năm làm năm gốc, số liệu các năm sau được so sánh đánh giá trên cơ sở số liệu năm được lựa chọn làm năm gốc Bên cạnh việc so sánh, đánh giá biến động và chỉ ra xu hướng biến động của cùng một chỉ tiêu qua các năm, còn có thể so sánh xu hướng biến động của các khoản mục/chỉ tiêu có liên quan Chẳng hạn, các khoản phải thu tăng 15%, trong khi đó doanh số bán chỉ tăng 5% hoặc doanh số bán tăng 10% nhưng chi phí vận chuyển lại tăng 20% Trong cả hai trường hợp này, cán bộ ngân hàng phải tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân phía sau của sự khác biệt giữa các chỉ tiêu có liên quan này Với đặc điểm phân tích sự thay đổi năm này quan năm khác của từng khoản mục, phương pháp phân tích
này, trong nhiều trường hợp, còn được gọi là Phân tích theo chiều ngang
(Horizantal Analysis)
b Phân tích cơ cấu (Common-size Analysis): Tính toán được tỷ trọng của các khoản mục/tài khoản chi tiết trong việc hình thành nên những khoản mục chính của báo cáo tài chính cũng rất hữu ích trong phân tích tài chính doanh nghiệp Chẳng hạn, khi phân tích bảng cân đối kế toán, thông thường giá trị tuyệt đối của tổng tài sản (hay tổng nguồn vốn) được chuyển qua và tính bằng giá trị tương đối
là 100%, sau đó các tài khoản thuộc nhóm tài sản (hay nguồn vốn) sẽ được tính toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng so với giá trị của tổng tài sản (hay nguồn vốn) Trong phân tích báo cáo thu nhập, doanh số bán/doanh thu thường được chuyển đổi thành số tương đối 100%, các số liệu còn lại trong báo cáo thu nhập (giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động, ) được biểu diễn dưới dạng phần trăm của doanh thu; như vậy, tổng các khoản mục trong báo cáo thu nhập sẽ là 100%
Phương pháp phân tích này, trong nhiều trường hợp, còn được gọi là Phân tích
theo chiều dọc (Vertical Analysis)
và được sử dụng khá rộng rãi trong phân tích tài chính Tuy nhiên, việc tính toán
Trang 5các chỉ số đơn thuần chỉ là thao tác tính toán về số học, hiểu được ý nghĩa của từng chỉ số sau khi tính toán ra mới là điều quan trọng Để hiểu được ý nghĩa một cách đầy đủ, ý nghĩa kinh tế và mối tương quan giữa các chỉ số với nhau phải được đề cập tới một cách đầy đủ Chẳng hạn, có một sự quan hệ trực tiếp và quan
bộ phân tích phải chú ý tới các sự kiện kinh tế, các yếu tố ngành, chính sách quản
phương pháp LIFO và giá đầu vào tăng lên, chỉ số khả năng thanh toán hiện thời
chỉ tiêu chi phí hoạt động trên doanh thu bằng cách giảm những chi phí khuyến khích bán hàng (ví dụ như chi phí nghiên cứu và phát triển R & D) Tuy nhiên, cắt giảm những loại chi phí này sẽ dẫn tới việc giảm doanh số trong dài hạn hoặc thị phần Vậy, có vẻ như việc cải thiện được chỉ tiêu về khả năng sinh lời trong ngắn hạn lại có thể dẫn tới ảnh hưởng đến triển vọng của công ty trong tương lai Trong hệ thống các chỉ số đánh giá tài chính doanh nghiệp, nhiều chỉ
số có sự thay đổi quan trọng tương tự như các chỉ số khác Do vậy, không nhất thiết phải tính toán tất cả các chỉ số có thể tính toán được để phân tích cùng một vấn đề Các chỉ số, cũng như nhiều kỹ thuật phân tích tài chính khác, không thể thích ứng một cách độc lập; thay vào đó, sẽ là có ý nghĩa hơn nếu chúng được so sánh với: (a) chỉ số của những thời đoạn trước đó, (b) những tiêu chuẩn định trước, và (c) chỉ số của các đối thủ cạnh tranh Cuối cùng, sự thay đổi của một
chỉ số qua thời gian cũng tương tự quan trọng như xu hướng của chúng Có 6
nhóm chỉ tiêu chính trong phân tích tài chính doanh nghiệp, cụ thể là:
- Các chỉ tiêu về thanh khoản (Liquidity ratios): Đánh giá khả năng thanh toán
các nghĩa vụ nợ ngắn hạn;
- Các chỉ tiêu về cấu trúc vốn và đòn bẩy tài chính (Capital structure and
financial leverage ratios): Đo lường cơ cấu nợ so với vốn chủ sở hữu và tổng qui mô nguồn vốn hoạt động;
- Tỷ số trang trải lãi vay (Coverage ratios): Đo lường khả năng của khách hàng
trong việc trả lãi vay đến hạn;
- Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động (Operating performance): Đánh giá hiệu
quả sử dụng tài sản của khách hàng;