1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài thi học phần phương pháp nghiên cứu khoa học

14 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài thi học phần phương pháp nghiên cứu khoa học
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Phương pháp nghiên cứu khoa học
Thể loại Bài thi
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 458,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Họ tên SV/HV Đoàn Ngọc Thương Mã LHP 2164SCRE0111 Trang 1/14 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HỌC KỲ I NĂM HỌC 2021 – 2022 (Phần dành cho sinh viên/ học viên) Bài thi học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học[.]

Trang 1

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 1/14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HỌC KỲ I NĂM HỌC 2021 – 2022

(Phần dành cho sinh viên/ học viên)

Bài thi học phần: Phương pháp nghiên cứu

khoa học

Mã số đề thi: 41

Ngày thi: 24/12/2021 Tổng số trang: 14

Số báo danh: 118 Lớp: 2164SCRE0111

Họ và tên: Đoàn Ngọc Thương

Điểm kết luận:

GV chấm thi 1: …….………

GV chấm thi 2: …….………

Câu 1

1 Sự cần thiết phải chọn mẫu và quy trình chọn mẫu:

1.1 Sự cần thiết phải chọn mẫu

Trong nghiên cứu nói chung và nghiên cứu định lượng nói riêng thì việc chọn mẫu là rất quan trọng, nó quyết định đến chất lượng kết quả nghiên cứu Nghiên cứu tập chung vào mục đích tìm hiểu các đặc điểm, tập tính chung của một đám đông, bộ phận tuy nhiên khi tiến hành nghiên cứu, ta chỉ chọn một nhóm nhỏ được gọi là mẫu thuộc đám đông đó

(tổng thể) Bởi:

Tính khả thi của nghiên cứu: đôi khi, việc nghiên cứu tổng thể là bất khả thi do đặc

điểm của đối tượng tượng nghiên cứu hay tính đặc thù của đề tài, khi này nhà nghiên cứu

sẽ phải sử dụng mẫu nghiên cứu (chọn nhóm nhỏ) Ví dụ như nghiên cứu về tập tính săn mồi của loài báo đen Châu Phi, nhà nghiên cứu không thể quan sát hết thảy những con

báo đen có mặt trên châu lục này, khi ấy chỉ lấy mẫu nghiên cứu với số lượng nhất định phù hợp với nghiên cứu mà người ta có thể tiếp cận

Nhà nghiên cứu có thể sử dụng các công cụ thống kê suy diễn: Ước lượng, kiểm định,

mô hình hóa,… để từ mẫu suy ra các tham số của tổng thể Ví dụ như việc các nghiên cứu

Trang 2

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 2/14

sử dụng mô hình hồi quy mẫu để kiểm định mối tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, từ đó suy ra mô hình hồi quy tổng thể

Ngân sách và thời gian nghiên cứu: Số phần tử nghiên cứu càng lớn thì chi phí nghiên

cứu càng cao và căng thêm mất thời gian Ví dụ như nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm online tại Việt Nam, người dân là rất đông, vì vậy để phiếu khảo sát đến tay của từng người cũng như thu được câu trả lời sẽ tốn nhiều chi phí, ngoài ra rất mất thời gian, để nhanh chóng cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, tổ chức cung cấp dịch vụ mua sắm online nắm bắt và có sự điều chỉnh kịp thời, việc giới hạn số phần tử nghiên cứu là cần thiết

Kết quả chính xác hơn: khi thu thập thông tin sơ cấp, ta thường gặp phải 2 loại sai số, đó

là sai số do chọn mẫu và sai số không do chọn mẫu Sai số do chọn mẫu là sai số sảy ra

khi điều tra một nhóm nhỏ (mẫu) nhưng lại ước lượng cho tổng thể, tuy nhiên sai số này chỉ sảy ra khi vi phạm các nguyên tắc chọn mẫu, chọn mẫu không đủ đại diện hoặc khi chọn mẫu ngẫu nhiên, thường không lường trước được hướng chung của tổng thể, nhiều hay ít hơn thực thế, sai số này có thể giảm dần khi số lượng mẫu đủ lớn, đủ tin cây và tiến

đến 0 khi mẫu tiến tới đám đông Sai số không do chọn mẫu là sai số xảy ra ở tất cả các

nghiên cứu, nguyên nhân là do người nghiên cứu cân đo, đong đếm sai, ghi chép sai, nhiều yếu tố chủ quan, phần tử nghiên cứu cung cấp sai thông tin, khi này mẫu càng lớn thì nhà nghiên cứu càng khó kiểm soát dẫn đến sai số lớn hơn và kết quả nghiên cứu kém tin cậy hơn Ví dụ như nghiên cứu mức độ hài lòng về dịch vụ thuê trọ của sinh viên Đại học Thương mại với 5 biến độc lập và 35 biến quan sát, nhà nghiên cứu tuân thủ theo nguyên tắc chọn mẫu như về cỡ mẫu tối thiểu chẳng hạn, cần tuân thủ:

Theo Hair & ctg : n = 5 x m = 5x35 = 175

Trong đó: n là mẫu

m là số biến quan sát

Theo Tabachnick & Fidell: n = 8*m+50 = 8x5+50 = 90

Trong đó: n là mẫu

m là số biến độc lập

chọn n lớn hơn, vậy mẫu tối thiểu là 175 sinh viên cho nghiên cứu Như vậy tiếp tục tuân thủ các quy tắc khác có thể giảm thiểu sai số do chọn mẫu

Trang 3

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 3/14

Nhưng đối với sai số không do chọn mẫu, chọn mẫu càng lớn sai số càng cao do nhà nghiên cứu không thể kiểm soát được thông tin mà các sinh viên cung cấp, như là khảo sát về tiền thuê trọ với thu nhập, có những sinh viên khai thu nhập 2 triệu đồng/tháng song thuê trọ cũng là 2 triệu đồng/tháng, việc lấy mẫu vừa đủ giúp nhà nghiên cứu có thể kiểm soát thông tin và cũng giúp nhà nghiên cứu chọn được những sinh viên đủ tin cậy để thu thập thông tin

1.2 Quy trình chọn mẫu

Quy trình chọn mẫu gồm có 5 bước:

Bước 1: xác định tổng thể cần nghiên cứu

Bước đầu tiên này thực chất đã được thực hiện khi thiết kế nghiên cứu, đôi lúc là khi nhà nghiên cứu có ý tưởng nghiên cứu, ví dụ như nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên Đại học Thương mại về cơ sở vật chất nhà trường, thì tổng thể nghiên cứu được xác định ngay

từ khi xác định nghiên cứu đề tài rồi hoặc khi đề tài là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà thì tổng thể nghiên cứu đã được xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu rồi

Bước 2: Xác định khung mẫu

Khung mẫu là khung các đặc điểm cơ bản của mẫu phù hợp với nghiên cứu, ví dụ như nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của sinh viên hậu Covid 19, lấy khung mẫu như sau:

Khung mẫu

Lấy ý kiến sinh viên về ý định du lịch hậu Covid

Tổng thể nghiên cứu: toàn bộ sinh viên trên địa bàn Hà Nội Phần tử: Sinh viên các trường trên địa bàn Hà nội

Tuổi: 18 – 24 Giới tính: nam, nữ, khác Năm học: 1 đến 4

Trường: các trường thuộc địa bàn Hà Nội Ngành học: các ngành thuộc đào tạo chính quy, chất lượng cao và liên kết quốc tế

Trang 4

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 4/14

Hình 1.1 Khung mẫu “lấy ý kiến sinh viên về ý định đi du lịch hậu Covid 19

Bước 3: Xác định kích thước mẫu:

Xác định kích thước mẫu là bước làm quan trọng, nó ảnh hưởng tới dữ liệu và sai số, độ tin cậy của kết quả nghiên cứu Trong nghiên cứu định lượng, kích thước mẫu tối thiểu là

30 và nhỏ hơn 1/7 kích thước tổng thể, đảm bảo tính tin cậy, ý nghĩa thống kê và mức sai

số chấp nhận được Việc lấy mẫu trên thực tế phụ thuộc vào từng nghiên cứu cụ thể, vào mục đích nghiên cứu và các công cụ xử lý dữ liệu

Bước 4: Xác định phương pháp chọn mẫu:

Sau khi xác định kích thước mẫu, cần phải lựa chọn phương pháp chọn mẫu phù hợp Có hai phương pháp chọn mẫu chính là phương pháp chọn mẫu xác suất và phi xác suất

Chọn mẫu xác suất là chọn mẫu xác suất (ngẫu nhiên) là phương pháp chọn mẫu mà khả năng được chọn của các phần tử trong đám đông tổng thể để đưa vào mẫu là như nhau Ví

dụ khi giao viên kiểm tra bài cũ gọi bất kì, dựa theo danh sách lớp, mỗi học sinh được đánh số thứ tự riêng, khả năng được gọi là như nhau

Chọn mẫu phi xác suất (phi ngẫu nhiên) là phương pháp chọn mẫu mà các phần tử không

có khả năng để được chọn vào mẫu ngang bằng nhau Ví dụ như khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên Thương mại về học bổng, nhà nghiên cứu đứng trong khuôn viên trường vào một buổi sáng thứ 2 và lấy mẫu là bất kì sinh viên nào đi ngang qua, nhưng không phải tất cả sinh viên đều đi học vào sáng thứ hai hoặc đi ngang qua nhà nghiên cứu, vì vậy khả năng được chọn là khác nhau

Bước 5: tiến hành chọn mẫu

Là bước cuối cùng, khi này nhà nghiên cứu chọn mẫu dựa trên những quy tắc đã xác lập ở

4 bước trên

2 Phân tích phương pháp chọn mẫu theo xác suất

Chọn mẫu theo xác suất (ngẫu nhiên) như đã nêu ở trên, là phương pháp mà các phần tử

trong đám đông có cơ hội được chọn ngang bằng nhau Vì cơ hội được chọn là như nhau nên mẫu chọn theo phương pháp xác suất thường có tính khách quan cao, có độ tin cậy cao khi đại diện cho tổng thể, từ đó kết quả nghiên cứu cũng có độ tin cậy cao

Trang 5

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 5/14

Tuy nhiên phương pháp này thường khó áp dụng vì phải xác định danh sách cụ thể của tổng thể đám đông, đây sẽ là một việc rất phức tạp và tốn kém rất nhiều chi phí và thời gian khi tổng thể là một thành phố lớn, hay một quốc gia, thậm chí là một khu vực, châu lục

Chọn mẫu xác suất (ngẫu nhiên) được thực hiện thông qua 4 phương pháp chọn mẫu sau:

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản: các phần tử được đánh số thứ tự theo một trật tự quy

ước rồi bốc thăm ngẫu nhiên hoặc hoặc dùng các chương trình random của máy tính Chẳng hạn như nhà nghiên cứu có tổng thể nghiên cứu 3000 nghìn phần tử, nhà nghiên cứu cần 500 phần tử làm mẫu, khi này nhà nghiên cứu có thể dùng phần mềm random của máy tính để chọn

Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống: các phần tử vẫn được đánh số thứ tự theo một trật tự

quy ước Nhà nghiên cứu xác định trước tỉ lệ lấy mẫu giả sử cỡ tối đa 1/7, và chọn một phần tử ngẫu nhiên từ 1 đến 7, sau đó chọn phần tử thứ 2 với bước nhảy là 7 kể từ phần tử thứ nhất, các phần tử tiếp theo lấy tương tự cho đến khi đủ mẫu

Phương pháp phân tầng: phân chia các phần tử trong tổng thể thành các nhóm theo 1

hay nhiều tiêu chí có ý nghĩa với nghiên cứu Đây là phương pháp có thể lấy mẫu đại diện tốt nhất cho nghiên cứu Như khi có mẫu 1000 phần tử, nhà nghiên cứu sẽ chia thành các nhóm A, B, C,… để thuận tiện cho nghiên cứu phát hiện các đặc điểm riêng của từng nhóm, từ đó có thể phát hiện ra tính mới

Phương pháp chọn mẫu theo cụm: hay còn được gọi là phương pháp chọn mẫu theo

nhiều giai đoạn, thường được áp dụng khi tổng thể hoặc phạm vi nghiên cứu rộng lớn Có thể nói phương pháp chọn mẫu theo cụm là bao hàm của 3 phương pháp kể trên, vì vậy nó cũng phức tạp nhất Giai đoạn đầu tiên giống với phương pháp chọn mẫu phân tầng, chia tổng thể thành các nhóm đơn vị cấp 1, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp 1 để tiến hành phân chia mẫu cấp 2, khi chọn mẫu đơn vị, sử dụng 3 phương pháp chọn mẫu kể trên để chọn,

cứ như vậy đến khi lấy được mẫu mong muốn Ví dụ như chọn ra 10.000 trong số gần 80.000 công ty ở Bình Dương để khảo sát chất lượng bữa ăn cho công nhân, đánh số thứ

tự cho 9 khu công nghiệp lớn, chọn ra 5 khu bất kì, mỗi khu chia 4 hướng đông, tây, nam bắc, đánh số lần lượt cho các công ty, mỗi hướng thuộc mỗi khu lấy ra 500 công ty

3 Ví dụ về phương pháp chọn mẫu xác xuất phân tầng

Trang 6

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 6/14

Thực hiện nghiên cứu đề tài các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà của người dân thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành chọn mẫu theo phương pháp phân tầng theo độ tuổi sẽ giúp nghiên cứu có kết quả mang tính tin cậy cao Bằng cách trong khung mẫu lấy tuổi từ 18-50, kích thước 3000 người đã lập gia đình hoặc chưa hoặc đã ly hôn hoặc đã tái hôn, kết quả nghiên cứu sẽ cụ thể cho từng đối tượng, ví dụ đối tượng từ 18-23, yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất có thể là “bố mẹ giàu”, độ tuổi 23-28 thì yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất

có thể là “có công việc ổn định lương cao”, “lập gia đình” hoặc “muốn ra ở riêng”, độ tuổi 31-50 có thể là “nâng cao chất lượng sống”,… như vậy, kết quả nghiên cứu rất rõ ràng cho từng nhóm phần tử, giảm thiểu sai số cũng như mặt hạn chế của đề tài

Câu 2 Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại”

1 Cụ thể mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, đối tượng

và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.1 Mục tiêu nghiên cứu

Các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam nói chung và trường Đại học Thương mại nói riêng mang trong mình một sứ mệnh to lớn, đó là nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên để sinh viên phát triển bản thân và đóng góp cho xã hộ sau này Và yếu tố quan trọng phản ánh được chất lượng đào tạo chính là đầu ra của nhà trường - kết quả học tập của sinh viên Đề tài này được thực hiện nhằm giúp các bạn sinh viên trường Đại học Thương mại hiểu hơn về bản thân, nâng cao kết quả học tập của bản thân, đồng thời giúp trường Đại học Thương mại hiểu hơn về sinh viên, từ đó có những biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo của trường, bằng cách hoàn thành các mục tiêu:

Mục tiêu tổng quát:

Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên Đại học Thương Mại Từ đó đề xuất các giải giải pháp giúp sinh viên cải thiện kết quả học tập cũng như giúp trường Đại học Thương mại có cơ sở phương hướng để nâng cao chất lượng đào tạo

Mục tiêu cụ thể:

+ Đề xuất mô hình và giả thiết nghiên cứu

+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại

+ Xác định chiều tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại

Trang 7

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 7/14

+ Xác định mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại

+ Đề xuất giải pháp giúp sinh viên trường Đại học Thương mại nâng cao kết quả học tập bản thân

+ Đề xuất giải pháp, phương hướng chung cho trường Đại học Thương mại nâng cao chất lượng đào tạo

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đáp ứng các mục tiêu đã đề ra, nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi:

Câu hỏi tổng quát:

+ Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại?

+ Có những biện pháp nào để nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại?

Câu hỏi cụ thể:

+ Yếu tố phương pháp giảng dạy có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại không?

+ Yếu tố phương pháp học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên

trường Đại học Thương mại không?

+ Yếu tố động cơ học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại không?

+ Yếu tố gia đình – xã hội có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại không?

+ Yếu tố nào tác động nhiều nhất?

+ Yếu tố nào tác động ít nhất?

+ Giải pháp nào là phù hợp cho sinh viên?

+ Phương hướng nào là phù hợp cho trường Đại học Thương mại?

1.3 Giả thiết và mô hình nghiên cứu

1.3.1 Giả thiết nghiên cứu

Trang 8

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 8/14

Trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu liên quan đến chủ đề các yếu tố tác động tới kết quả học tập của sinh viên và nâng cao chất lượng giảng dạy, dựa trên trải nghiệm của bản thân cũng như việc tiếp thu, kế thừa và phát triển, chúng tôi đưa ra các giả thiết như sau:

Sự phù hợp và đổi mới trong cách thức giảng dạy, truyền đạt của giảng viên sẽ khơi dậy niềm ham học của sinh viên, giúp sinh viên tích cực hơn trong việc nghe giảng, cũng như phát biểu xây dựng bài, từ đó tiếp thu tốt hơn và kết quả học tập được nâng cao, chúng tôi đưa ra giả thiết:

H1 Phương pháp giảng dạy có tác động (+) đến kết quả học tập của sinh viên

Khi đi học, dù ở cấp bậc nào, người học đều được khuyến khích tự học, tự tìm hiểu để hiểu sâu và ghi nhớ lâu hơn, đặc biệt là ở bậc Đại học, việc tự học, tự nghiên cứu để trau dồi bản thân là cần thiết hơn bao giờ hết, bởi chính những việc tự học, tự nghiên cứu đó

sẽ giúp sinh viên phát triển bản thân tốt hơn, là hành trang để sinh viên có tương lai rộng

mở sau khi ra trường, và để làm được điều đó, một phương pháp học tập phù hợp mang lại hiệu quả cao, tiết kiệm thời gian, giảm áp lực là cần thiết, chúng tôi đưa ra giả thiết:

H2 Phương pháp học tập có tác động (+) đến kết quả học tập của sinh viên

Trong lĩnh vực tâm lý học, khi nghiên cứu đến hành động của con người, câu hỏi luôn luôn có mặt là cái gì thúc đẩy con người thực hiện hành động đó hay nói cách khác là động cơ nào thúc đẩy con người thực hiện hành động đó Cũng như với thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow hay thuyết hành vi hoạch định (TPB) hành vi đều được đi đến bằng

ý định hành vi (động cơ) Đối với học tập cũng vậy, cần có động cơ để thúc đẩy sinh viên học tập, trau dồi kiến thức cũng như phát triển bản thân vượt qua những khó khăn, thách thức Động cơ học tập của sinh viên ở đây được hiểu là lòng ham muốn tham dự, học tập,

tự nghiên cứu những nội dung của môn học hay chương trình học, chúng tôi đưa ra giả thiết:

H3 Động cơ học tập có tác động (+) đến kết quả học tập của sinh viên

Việc học tập của sinh viên bị ảnh hưởng bởi rất nhiều thứ không chỉ ở bản thân mà còn đến từ môi trường xung quanh Việc lớn lên trong một gia đình hòa thuận và được ủng hộ việc học hành sẽ khiến sinh viên tích cực hơn và có tâm lý thoải mái hơn, môi trường xung quanh như bạn bè cũng có tác động không nhỏ, khi đó là những người mà không chỉ sinh viên mà hầu hết mọi người đều được tiếp xúc thường xuyên và dễ bị ảnh hưởng, chúng tôi đề xuất giả thiết:

H4 Gia đình – xã hội có tác động (+) đến kết quả học tập của sinh viên

1.3.2 Mô hình nghiên cứu

Từ những giả thiết trên, chúng tôi đề xuất mô hình nghiên cứu

Trang 9

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 9/14

Động cơ học tập

Gia đình – xã hội

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên

Đại học Thương mại

Trong đó:

+ Biến độc lập là: phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập, động cơ học tập, gia đình – xã hội

+ Biến phụ thuộc là: kết quả học tập

1.4 Đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố tác động đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương mại

1.5 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu: Trường Đại học Thương mại

Khách thể nghiên cứu: sinh viên trường Đại học Thương mại

Thời gian nghiên cứu: từ 24/12/2021 đến 22/03/2022

1.6 Thang đo

Chúng tôi đề xuất thang đo:

Phương pháp giảng dạy

Phương pháp học tập

Kết quả học tập

Trang 10

Họ tên SV/HV: Đoàn Ngọc Thương - Mã LHP: 2164SCRE0111 Trang 10/14

H1 Phương pháp giảng dạy

H1.1 Phương pháp giảng dạy dễ hiểu, hấp dẫn, sinh động

H1.2 Có phản hồi tích cực về phương pháp giảng dạy

H1.3 Có hướng dẫn sinh viên tự học trên lớp và tự nghiên cứu cụ thể rõ ràng

H1.4 khuyến khích sinh viên chủ động và sáng tạo

H1.5 bài thảo luận giúp sinh viên hiểu sâu vấn đề hơn

H1.6 Bài thảo luận giúp sinh viên đến gần thực tế hơn

H2 Phương pháp học tập

H2.1 Nghiên cứu bài ở nhà trước khi đến lớp

H2.2 Sử dụng nhiều hình thức học tập phong phú

H2.3 Chủ động phát biểu xây dựng bài trên lớp

H2.4 Đặt vấn đề để thầy cô giải đáp

H2.5 Tự xây dựng thời gian biểu học tập phù hợp

H3 Động cơ học tập

H3.1 Có động cơ học tập to lớn

H3.1 Cảm thấy hứng thú trong học tập

H3.3 Tìm thấy niềm đam mê trong nghiên cứu môn học

H3.3 Ý thức được tầm quan trọng to lớn của việc học

H4 Gia đình – xã hội

H4.1 Gia đình tao điều kiện thuận lợi cho việc học

H4.2 Gia đình là tấm gương giúp bản thân phấn đấu trong học tập

H4.3 Gia đình đủ điều kiện để chi trả học phí

H4.4 Bạn bè có thành tích học tập tốt

H4.5 Bạn bè là tấm gương để cố gắng

H4.6 Tham gia các hoạt động ở trường

H4.7 Tham gia các hoạt động ngoài trường

H5 Kết quả học tập

H5.1 Tôi tiếp thu được nhiều kiến thức qua các môn học

H5.2 Tôi phát triển được nhiều kỹ năng từ các môn học

H5.3 Tôi có thể vận dụng kiến thức đã học vào thực tế

H5.4 Tôi có điểm GPA ở mức khá trở lên

Bảng 1.1 Thang đo đề xuất

Ngày đăng: 09/02/2023, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w