1 anhchị hãy trình bày mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của CNDVBC từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong hoạt động bản thân 2 1 Trình bày nội dung và ý nghĩa phươ. 3
Trang 11/ anh/chị hãy trình bày mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của CNDVBC từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong hoạt động bản thân
2/ 1 Trình bày nội dung và ý nghĩa phương pháp luận 6 cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật
2 Trình bài nội dung và ý nghĩa phương pháp luận 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
3/ 1 Nhà nước XHCN có những đặc trưng gì khác với các hình thức nhà nước khác ở điểm nào?
2 Nhà nước có vai trò như thế nào trong nền kinh tế thị trường định hướng CNXH? Tại sao?
anh/chị hãy trình bày mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của CNDVBC từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong hoạt động bản thân.
1 Theo quan điểm triết học Mác – Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng,
trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.
*Vật chất quyết định ý thức
- Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức Vật chất sinh ra ý thức, vì ý thức xuất hiện
gắn liền với sự xuất hiện của con người, mà con người là kết quả của một quá trình phát triển, tiến hóa lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên, của thế giới vật chất Con người do giới
tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên, ý thức – một thuộc tính của bộ phận con người – cũng
do giới tự nhiên, vật chất sinh ra
- Vật chất quyết định nội dung của ý thức Ý thức dưới bất kì hình thức nào đều là phản
ánh hiện thực khách quan Ý thức mà trong nội dung của nó là kết quả của sự phản ánh hiện thực khác quan vào trong đầu óc con người
- Vất chất quyết định bản chất của ý thức Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không
tách rời trong bản chất của ý thức Sự phản ánh của con người là phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn.Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới vật chất
là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người – là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo
- Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức Mọi sự tồn tại phát triển của ý
thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất, vật chất thay đổi sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo Con người – một sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển cả thể chất và tinh thân, thì ý thức – một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển cả về nội dung và hình thức phản ánh của nó
*Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
- Tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất
vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một cách máy mọc vào vật chất Ý thức một khi ra đời có tính độc lập tương đối, tác động trở lại thế giới vật
Trang 2chất Ý thức có thể thay đổi nhanh, chậm, đi song hành so với hiện thực, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm so với sự biến đổi của thế giới vật chất
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi điều kiện, hoàn cảnh vật chất,
thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc sống của con người Còn tự bản thân ý thức thì không thể biến đổi được hiện thực Con người dựa trên những tri thức
về thế giới khách quan, hiểu biết về những quy luật khác quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã xác định
- Vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động của con người, nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại
Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác cho hiện thực, có thể hình thành nên những lý luận định hướng đúng đắn và những lý luận này được đưa vào quần chúng sẽ góp phần động viên, cổ vũ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, từ đó sức mạnh vật chất được nhân lên gấp bội Ngược lại ý thức có thể tác động tiêu cực khi nó phản ánh sai lạc, xuyên tạc hiện thực
- Xã hội càng ngày phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cách mạng khoa học và cộng nghê hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuẩt trực tiếp
2 Ý nghĩa của phương pháp luận: Tôn trọng tính khác quan kết hợp phát huy tính năng động chủ quan
- Phải luôn xuất phát từ hiện thực khách quan, từ điều kiện, tiền đề vật chất hiện có trong mọi hoạt động Phải tôn trọng và hành động theo qui luật khác quan Nhận thức sự
vật hiện tượng phải chân thực, đúng đắn, tránh tô hồng hoặc bôi đen đối tượng, không được gán cho đối tượng cái mà nó không có
- Phát huy tính năng động, sáng tạo, sức mạnh to lớn của yếu tố con người Chống tư
tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính sáng tạo; phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng công tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng, coi trọng giáo dụ lý luận chủ nghĩa Mác Đồng thời phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoa học, củng
cố, bồi dưỡng nhiệt tình, ý chí cho bản thân, nhất là trong điều kiện nền văn mình trí tuệ, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa hiện nay Coi trọng việc giữ gìn, rèn luyện phẩm chất đạo đức
- Phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích , phải biết kết hợp hài hòa
lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, phải có động cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, không vụ lợi trong nhận thức và hành động của mình
Trang 3Đề bài:
1 Trình bày nội dung và ý nghĩa phương pháp luận 6 cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật
2 Trình bài nội dung và ý nghĩa phương pháp luận 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Câu 1:
Cái riêng và cái chung
*Nội dung
- Cái riêng và cái chung tồn tại khách quan Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng
- Các cái riêng tồn tại trong mối quan hệ, tác động qua lại với nhau từ đó xuất hiện cái chung
- Cái riêng là cái toàn bộ, cái chung là cái bộ phận, cái riêng phong phú hơn cái chung nhưng cái chung là cái sâu sắc hơn
- Sự chuyển hóa cái đơn nhất thành cái chung và ngược lại
+ Cái đơn nhất là cái đặc thù, không đứng yên một chỗ mà nó sẽ vận động và khi nó vận động sẽ trở thành cái chung và ngược lại trong điều kiện nhất định nó sẽ trở thành cái đơn nhất
+ Có những cái chung trong điều kiện nhất định chuyển hóa thành cái đơn nhất
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Vận dụng cái chung phải phù hợp với từng cái riêng cụ thể
- Trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tọa điều kiện thuận lợi để cái “đơn nhất”
có lợi cho con người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trở thành cái đơn nhẫn
Nguyên nhân và kết quả
*Nội dung
- Những sự tác động ( nguyên nhân) từ đó tạo ra những biến đổi ( kết quả)
- Mối liên hệ nhân – quả có tính khách quan, tính phổ biển và tính tất yếu
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả về mặt thời gian Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nhau về thời gian đều là quan hệ nhân quả
- Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn nhau
- Tính phức tạp của mối quan hệ nhân quả
+ Một nguyên nhân gây ra nhiều kết quả
+ Một kết quả do nhiều nguyên nhân gây ra
*Ý nghĩa phương pháp luận
Trang 4- Tìm nguyên nhân phải tìm trước kết quả và phải xác định hiện tượng nào sinh ra kết quả thì
đó mới là nguyên nhân của nó
- Một kết quả do nhiều nguyên nhân sinh ra cho nên phải xác định nguyên nhân nào chủ yếu quyết định đến kết quả
- phải có cách nhìn toàn diện và lịch sử cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan
hệ nhân quả
Tất nhiên và ngẫu nhiên
*Nội dung
- Đều tồn tại khách quan và có vai trò xác định, không có tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại thuần túy, Có thể chuyển hóa cho nhau
- Tất nhiên và ngẫu nhiên là hai mặt vừa thống nhất vừa đối lập Ranh giới giữa chúng
có tính tương đối
- Tất nhiên và ngẫu nhiên trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hoá cho nhau
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong hoạt động thực tiễn, phải dựa vào cái tất nhiên, song cần có phương án dự phòng để chủ động đáp ứng những sự biến ngẫu nhiên có thể xảy ra
- Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau, vì vậy cần tạo ra những điều kiện nhất định để cản trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của chúng theo mục đích nhất định
Nội dung và hình thức
*Nội dung
- Nội dung và hình thức thống nhất với nhau, song sự thống nhất bao hàm sự khác biệt
- Nội dung quyết định hình thức trong quá trình phát triển của sự vật
*Ý nghĩa phương pháp luật
- Không được tách rời, tuyệt đối hóa nội dung và hình thức Chống chủ nghãi hình thức
- Để nhận thức và cải tọa sự vật, phải căn cứ vào nội dung Phải thường xuyên đối chiếu giữa nội dung và hình thức để tạo điều kiện cho hình thức phù hợp với nội dung
để thúc đẩy nội dung phát triển
Bản chất và hiện tượng
*Nội dung:
- Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan
- Bản chất hiện ra Hiện tượng là có tính bản chất
+ Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau Về căn bản, bản chất và hiện tượng là phù hợp với nhau
- Tính chất mâu thuần của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
Trang 5+ Bản chất phản ánh cái chung, cái tất yếu, hiện tượng phản ánh cái riêng, cái cá biệt Bản chất sâu sắc, hiện tượng phong phú Bản chất tương đối ổn định, hiện tượng thường xuyên biến đổi
+ Bản chất là mặt bên trong, hiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan Bản chất được biểu hiện ở nhiều hiện tượng khác nhau, hiện tượng biểu hiện bản chất dưới dạng đã biến đổi, thậm chí xuyên tạc bản chất
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Phải phân tích, tổng hợp sự biến đổi của nhiều hiện tượng, nhất là những hiện tượng điển hình mới hiểu rõ bản chất của sự vật
- Nhận thức không chỉ dừng ở hiện tượng mà phải tiến đến nhận thức được bản chất sự vật
- Trong hoạt động thực tiễn, phải dựa vào bản chất sự vật để xác định phương thức hoạt động cải tạo sự vật, không được dựa vào hiện tượng
Khả năng và hiện thực
*Nội dung
- Khả năng và hiện thực có quan hệ chặt chẽ, thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật Song quan hệ này có tính phức tạp
- Trong những điều kiện mới, sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới, đồng thời mỗi khả năng cũng thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện
- Để khả năng biến thành hiện thực, không chỉ cần 1 điều kiện mà là một tập hợp nhiều điều kiện
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào hiện thực để định ra chủ trương, phương hướng hành động
- Phải tính đến các khả năng để đề ra chủ trương, kế hoạch cho sát hợp
- Trong xã hội, phải chú ý đến phát huy nguồn lực con người để biến khả năng thành hiện thực
Câu 2:
Phủ định của phủ định
*Nội dung
- Trong quá trình vận động của sự vật, những nhân tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân
tố cũ, sự phủ định biện chứng diễn ra Sự vật đó không còn nữa và bị thay thế bởi sự vật mới, trong đó có những nhân tố tích cực được giữ lại Song sự vật mới này sẽ lại bị phủ định bởi
sự vật mới khác
- Sự vật mới khác ấy dường như là sự vật đã tồn tại, song không phải là sự trùng lặp hoàn toàn, mà nó có được bổ sung những nhân tố mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích cực, thích hợp với sự phát triển tiếp tục của nó Sau khi sự phủ định diễn ra 2 lần thì sự phủ định của phủ định được thực hiện, sự vật mới hoàn thành một chu kỳ phát triển Sự phát triển biện
Trang 6chứng thông qua những lần phủ định biện chứng như trên là sự thống nhất hữu cơ giữa lọc
bỏ, bảo tồn và bổ sung thêm những nhân tố tích cực mới Do vậy, thông qua những lần phủ định biện chứng của bản thân, sự vật sẽ ngày càng phát triển
- Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hoá giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và mặt phủ định Sự phủ định lần thứ nhất diễn ra làm cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với cái khẳng định ban đầu Sự phủ định lần thứ hai, sự vật mới với tư cách là cái phủ định của phủ định đối lập với cái phủ định và trở lại cái ban đầu nhưng không giống nguyên vẹn như cái cũ mà trên cơ sở cao hơn, tốt hơn
*Ý nghĩa phương pháp luận
- chỉ rõ sự phát triển là khuynh hướng chung, là tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng nhưng quanh
co phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định, nhiều khâu trung gian Điều đó giúp chúng
ta tránh được cách nhìn phiến diện, giản đơn trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội, và do vậy cần phải kiên trì đổi mới, khắc phục khuynh hướng bi quan, chán nản, dao động trước những khó khăn của sự phát triển
- Quy luật phủ định của phủ định cũng khẳng định tính tất thắng của cái mới, vì cái mới là cái ra đời phù hợp với quy luật phát triển của sự vật Mặc dù khi mới ra đời, cái mới có thể còn non yếu, song nó là cái tiến bộ hơn, là giai đoạn phát triển cao hơn về chất so với cái cũ Vì vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cần có nhận thức đúng về cái mới
và có thái độ đúng đối với cái mới đồng thời chủ động phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển
Quy luật chuyển hóa từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại (Quy luật lượng chất):
*Nội dung:
- Mọi sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng vượt qua giới hạn của
độ (tới điểm nút) sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới, sẽ tạo điều kiện cho sự biến đổi lượng- chất tiếp theo … Quá trình này diễn ra liên tục làm sự vật không ngừng biến đổi
Ví dụ: Nước (H2O) biến đổi chất (trạng thái) dưới sự biến đổi của lượng (nhiệt độ) Từ 0 đến
100 độ C, nước ở trạng thái lỏng, ta có thể hiểu khoảng nhiệt này chính là độ của nước Khi nhiệt độ đạt đến điểm nút ( 0 độ C hoặc 100 độ C) thì sẽ tạo ra những bước nhảy Những bước nhảy làm cho chất cũ mất đi, chất mới ra đời, làm cho nước chuyển từ dạng lỏng sang dạng khí hoặc dạng lỏng sang dạng rắn
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Phải tích lũy đủ về lượng thì chất mới đổi => khắc phục bệnh chủ quan, nóng vội,…
- Khi lượng đã tích lũy đủ phải thực hiện thay đổi về chất => khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, không dám làm cách mạng,…
Trang 7- Con người có thể chủ động tác động vào điều kiện để sự thay đổi về lượng nằm trong giới hạn nhất định nhằm duy trì nhằm duy trì một sự vật nào đó nhằm phục vụ mục đích con người
- Trong hoạt động phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy và biết cách tác động vào phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật để làm chất thay đổi
Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn):
*Nội dung:
- Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và
tư duy Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong thế giới Theo triết học duy vật biện chứng của Engels thì tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau Ví dụ như: Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân hay trong sinh vật thì có sự đồng hoá và dị hoá, trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập
- Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau theo hướng trái ngược nhau, xung đột lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy
là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức Mâu thuẫn biện chứng không phải là ngẫu nhiên, chủ quan, cũng không phải là mâu thuẫn trong lôgic hình thức Mâu thuẫn trong lôgic hình thức là sai lầm trong tư duy
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì sự vật là thể thống nhất của các mặt đối lập cho nên nhận thức sự vật là nhận thức mâu thuẫn của sự vật
- Thống nhất là tương đối tạm thời, đấu tranh là tuyệt đối, do đó phải đấu tranh như thế nào
để có thể thống nhất mới cao hơn Chống hai khuynh hướng tả và hữu, tả khuynh tàn phá tiêu cực, hữu khuynh là ngại đấu tranh
- Các hình thức đấu tranh cũng rất đa dạng phong phú, cho nên chúng ta phải phân tích mâu thuẫn, phân tích các mặt đối lập, phân biệt các mâu thuẫn để tìm ra các giải pháp phù hợp
- Con đường đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn, đây là con đường duy nhất, đúng đắn và đây cũng là lẽ sống
Trang 8Đề bài:
1 Nhà nước XHCN có những đặc trưng gì khác với các hình thức nhà nước khác ở điểm nào?
2 Nhà nước có vai trò như thế nào trong nền kinh tế thị trường định hướng CNXH? Tại sao?
………
Câu 1:
Các kiểu nhà nước trên cơ bản giống nhau ở chỗ: đều là công cụ thống trị của giai cấp thống trị.Tuy nhiên nhà nước vô sản có sự khác biệt về chất với các kiểu nhà nước khác ở chỗ: nó là nhà nước đặc biệt, nhà nước của số đông thống trị số ít Giai cấp vô sản liên minh với giai cấp nông dân, tâng lớp tri thức tiến bộ và các tâng lớp nhân dân lao động khác duy trì sự thống trị của mình đối với toàn xã hội
Câu 2:
Các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy nhà nước đã dần được cơ cấu lại theo hướng mở rộng xã hội hóa, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cộng đồng, Nhà nước chỉ đảm nhiệm những công việc thực sự cần thiết để đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, vì sự phát triển của toàn xã hội hoặc những gì mà mỗi cá nhân công dân không thể tự mình giải quyết nếu thiếu sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước Trong mối quan hệ với công dân, bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước đang dần chuyển từ tư duy lãnh đạo, quyền uy - phục tùng sang tư duy về nhà nước phục vụ, cán bộ, công chức có nghĩa vụ, trách nhiệm phục
vụ nhân dân, thực sự trở thành “công bộc” của nhân dân
Chính những thay đổi trong tư duy về vai trò, chức năng của Nhà nước, tổ chức bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức trên đây đã góp phần đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của quá trình đổi mới đất nước Trong lĩnh vực kinh tế, đã phân định rõ nhiệm vụ quản lý, định hướng của Nhà nước với vai trò sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, thành phần kinh tế Nhà nước không can thiệp mà tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, đồng thời kiểm soát chặt chẽ và xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội Trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, với việc phát huy nhân tố con người, coi con người là trung tâm của sự phát triển, Nhà nước đã xây dựng và thực hiện chính sách về các lĩnh vực này phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Trong lĩnh vực đối ngoại, nước ta tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với các nước trên thế giới Đồng thời, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bảo đảm ổn định và phát triển