Các intron chiếm phần lớn trong cấu trúc hầu hết các gene của cơ thể eukaryote.. Hình 4: Cấu trúc chi tiết của một gene Vì hầu hết các gene của cơ thể eukaryote gồm chủ yếu là các đoạn i
Trang 1Cấu trúc của gene
1 Các intron và exon
Cấu trúc intron và exon của gene là một đặc điểm để phân biệt giữa ADN của sinh vật eukaryote và prokaryote Các intron chiếm phần lớn trong cấu trúc hầu hết các gene của cơ thể eukaryote
Các đoạn intron này sẽ được các enzyme cắt một cách chính xác ra khỏi các phân tử mRNA trước khi chúng đi ra khỏi nhân tế bào Vị trí cắt của các enzyme được xác định bởi các đoạn ADN được gọi là các đoạn đồng nhất (consensus sequences) (đoạn này có tên như vậy vì được thấy phổ biến ở tất
cả các cơ thể eukaryote) nằm cạnh mỗi đoạn exon
Trang 2Hình 4: Cấu trúc chi tiết của một gene
Vì hầu hết các gene của cơ thể eukaryote gồm chủ yếu là các đoạn intron nên cho phép người ta nghĩ đến việc các đoạn này có thể có một chức năng nào
đó Hiện nay chức năng của các intron vẫn còn đang được nghiên cứu, người
ta cho rằng có thể những đoạn intron do làm tăng thêm chiều dài của gene sẽ tạo thuận lợi cho sự tái sắp xếp của các gene trên cặp NST tương đồng qua quá trình trao đổi chéo giữa các NST này trong giảm phân hoặc ảnh hưởng đến thời gian nhân đôi và phiên mã của ADN
Một số intron lại mang trong nó các gene được phiên mã mà không liên quan
gì tới chức năng gene mang chính các intron đó Ví dụ như các intron trên gene gây bệnh u xơ thần kinh type 1 (NF1) chứa 3 gene được phiên mã theo hướng ngược với gene NF1 và không có mối liên hệ chức năng nào với gene NF1
2 Các loại ADN
Mặc dù ADN mang thông tin mã hóa cho các protein nhưng trong thực tế chỉ
có ít hơn 5% trong số 3 tỷ cặp nucleotide trong genome của người thực sự
Trang 3làm chức năng này, còn lại phần lớn vật liệu di truyền chưa được biết chức năng Người ta chia ADN thành các loại sau:
ADN độc bản (single - copy ADN):
ADN độc bản chiếm khoảng 45% genome và gồm các gene mã hoá cho các protein Các đoạn ADN loại này chỉ được thấy một lần duy nhất (hoặc vài lần) trong genome Tuy nhiên phần mã hóa cho protein chỉ chiếm một phần nhỏ trên loại ADN này mà thôi, phần lớn còn lại là các intron hoặc là các đoạn ADN nằm xen giữa các gene
ADN lặp (repetitive ADN):
ADN lặp chiếm 55% còn lại của genome, đây là các đoạn ADN được lập đi lập lại có thể lên tới hàng ngàn lần trong genome, có 2 loại chính:
ADN vệ tinh (satellite ADN)
Loại ADN này chiếm khoảng 10% genome và tập trung ở một số vùng nhất định trên NST, ở đó chúng sắp xếp nối đuôi nhau, cái này tiếp theo cái kia ADN vệ tinh được chia thành 3 loại nhỏ:
- ADN vệ tinh alpha: có kích thước 171 bp, lập đi lập lại nhiều lần với chiều dài hàng triệu bp hoặc hơn Loại này được thấy cạnh tâm động của NST
- ADN tiểu vệ tinh (minisatellite ADN): có kích thước từ 14 - 500 bp, lập đi lập lại với chiều dài khoảng vài ngàn bp
- ADN vi vệ tinh (microsatellite ADN): có kích thước từ 1 - 13 bp, lập đi lập lại với tổng chiều dài không quá vài trăm bp
Hai loại ADN tiểu và vi vệ tinh có sự khác nhau rất lớn trong chiều dài giữa
Trang 4người này với người khác và điều này làm chúng trở nên rất hữu ích trong việc lập bản đồ gene ADN tiểu vệ tinh và vi vệ tinh được gặp với tần số trung bình là 1 trên mỗi 2 kb trong genome và chúng chiếm khoảng 3% genome
ADN lập lại rải rác:
Loại ADN này chiếm khoảng 45% genome, gồm 2 loại:
- Các yếu tố rải rác có kích thước ngắn (SINEs: short interspersed elements): kích thước từ 90 - 500bp
- Các yếu tố rải rác có kích thước dài (LINEs: long interspersed elements): kích thước 7.000 bp
Theo DT y học