Truyền thông vệ tinh sử dụng Vệ tinh thông tin: là các vệ tinh nhân tạo nằm trong không gian dùng cho các mục đích viễn thông sử dụng sóng radio ở tần số vi ba, có chức năng chuyển tiếp
Trang 1
ĐỒ ÁN CÁC HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG
Giảng Viên: Thầy Trương Tấn Quang HK2 - Năm học: 2020-2021
TÊN ĐỒ ÁN:
TRUYỀN THÔNG VỆ TINH
Communications Satelite
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Trang 2Nhận xét của giảng viên:
Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm ………
Giảng viên kí tên
Trang 3Mục lục
Giới thiệu
Phần I: Tổng quan về hệ thống truyền thông vệ tinh:
1 Mở đầu:
2 Lịch sử:
Phần II: Nguyên lý hoạt động:
1 Giới thiệu chung:
2 Cấu tạo và cách vận hành:
3 Các Loại Vệ Tinh Thông Tin:
4 Quĩ Đạo Vệ Tinh:
5 Phân bố tần số cho các hệ thống thông tin vệ tinh:
6 Các hệ thống thông tin di động vệ tinh:
Phần III: Đánh giá:
1 Ưu điểm:
2 Nhược điểm:
Phần IV: Ứng dụng:
1. Điện thoại:
2. Truyền hình vệ tinh:
3. Vệ tinh di động (Ăng ten di động DBS):
4. Radio vệ tinh hay SR (Subscription Radio):
5. Ứng dụng trong quân đội :
6. Liên hệ thực tế tại Việt Nam:
Phần V: Nguồn tham khảo:
Trang 4Phần I: Tổng quan về truyền thông vệ tinh
1. Mở đầu:
Truyền thông vệ tinh là một nhánh của Truyền thông không dây, bắt đầu phổ biến từ những năm 1957, cho đến nay Truyền thông vệ tinh đã phục vụ rất nhiều dịch vụ viễn thông khác nhau và hứa hẹn sẽ phát triển cung cấp thêm rất nhiều tiện ích nữa cho các lĩnh vực trong cuộc sống Nó thể hiện từ các chảo anten truyền hình gia đình cho đến các hệ thông thống tin toàn cầu truyền các khối lượng số liệu và lưu lượng thoại lớn cùng với các chương trình truyền hình
Truyền thông vệ tinh sử dụng Vệ tinh thông tin: là các vệ tinh nhân tạo nằm trong không gian dùng cho các mục đích viễn thông sử dụng sóng radio ở tần
số vi ba, có chức năng chuyển tiếp và khuếch đại tín hiệu radio liên lạc thông qua một máy tiếp sóng; từ đó tạo ra một kênh truyền giữa nguồn phát và thiết bị thu ở những vị trí khác nhau trên Trái Đất Vì một vệ tinh có thể phủ sóng cho một vùng rộng lớn trến trái đất, nên một bộ phát đáp trên vệ tính có thể cho phép nối mạng nhiều trạm mặt đất từ các vùng địa lý cách xa nhau trên trái đất Các vệ tinh đảm bảo đường truyền thông tin cho các cho các vùng dân cư xa xôi hẻo lánh khi
mà các phương tiện thông tin khác khó đạt đến
Tử nghiên cứu các số liệu quan trắc hơn 20 năm của nhà thiên văn Tycho Brahe, Johannes Kepler đã chứng minh rằng các hành tinh quay quanh mặt trời trên các quỹ đạo elip chứ không phải tròn Ông đã tổng kết các nghiên cứu của mình trong ba định luật chuyển động hành tinh Hai định luật đầu đã được công bố trong tạp chí New Astromy vào năm 1609 và định luật thứ ba được công
bố trong cuốn sách Harmony of The World vào năm 1619 Ba định luật này được trình bầy như sau:
Định luật 1 Quỹ đạo cuả một hành tinh có dạng elip với mặt trời nằm tại tiêu điểm
Định luật 2 Bán kính của vectơ nối hành tinh và mặt trời quét các diện tích bằng nhau trong
khoảng thời gian bằng nhau
Định luật 3 Bình phương chu kỳ quay quanh quỹ đạo của hành tinh tỷ lệ với lập phương bán
trục chính của elip
Ba định luật này là cơ sở để mô tả quỹ đạo của vệ tinh quay quanh trái đất trong đó vệ tinh
đóng vai trò hành tinh còn trái đất đóng vai trò mặt trời
Đến nay nhiều hệ thống thông tin vệ tinh đã được thiết lập với các quỹ đạo vệ tinh khác nhau, trong đó chỉ có vệ tinh Molnya của Liên xô cũ là sử dụng quỹ đạo elip, còn các vệ tinh còn lại đều sử dụng quỹ đạo tròn Hiện nay không chỉ có các hệ thống thông tin vệ tinh cho các đối tượng cố định mà các hệ thống thông tin vệ tinh di động cũng đã được thiết lập và đưa vào khai
Trang 5thác Ngày càng có xu thế tích hợp thông tin vệ tinh với thông tin mặt đất.
Ngày nay ứng dụng của truyền thông vệ tinh có mặt ở mọi khía cạnh đời sống: điện thoại, tin nhắn fax, chương trình TV, tín hiệu radio hay thậm chí là trong lĩnh vực quân sự
Có khoảng 2,000 vệ tinh truyền thông đang bay theo quỹ đạo xung quanh Trái Đất được dùng bởi các tổ chức tư nhân và nhà nước Phần lớn các vệ tinh đó nằm trong quỹ đạo địa tĩnh cách 35,785 km so với đường xích đạo dẫn tới các vệ tinh nhìn như là đang đứng yên ở một điểm trên bầu trời, và nhờ đó mà các đĩa antenna truyền thông vệ tinh trên mặt đất có thể luôn luôn nhắm vào các
vệ tinh địa tĩnh mà không phải lần theo quỹ đạo di chuyển
2 Lịch sử hình thành
Ý tưởng nền tảng của vệ tinh liên lạc địa tĩnh được đề xuất lần đầu bởi Arthur C Clarke, xây dựng hoạt động bởi Kóntantin Tsiolkovsky và năm 1929 thực hiện bởi Herman Potočnik Vào tháng
10 năm 1945 Clarke xuất bản một bài viết mang tựa đề "Extra-terrestrial Relays" trên tạp chí Anh
"Wireless World" Bài báo đã miêu tả nền tảng đằng sau sự pháp triển của vệ tinh nhân tạo trên quỹ đạo địa tĩnh nhằm mục đích tiếp âm cho tín hiệu radio Vì vậy Arthur C.Clacke thường được bầu là người phát minh ra vệ tinh địa tĩnh
Vệ tinh Trái Đất nhân tạo đầu tiên là Sputnik 1 của Liên Xô Đưa vào quỹ đạo vào ngày 04 tháng mười năm 1957 và được trang bị cùng với máy phát radio làm việc trên hai tân số 20,005 và 40,002 MHz.
Vệ tinh đầu tiên để liên lạc của Mĩ là kế hoạch SCORE năm 1958 sử dụng băng từ để ghi tin nhắn âm thanh Nó được sử dụng để ghi và gửi một lời chúc mừng giáng sinh đến thế giới của tổng thống Mĩ Dwight D Eisenhower
NASA phóng vệ tinh Echo vào năm 1960; một quả cầu 30m được mạ lớp PETfilm năm 1960 Courier 1B được xây dựng bởi Philco cũng được phóng lên vào năm 1960 và là vệ tinh nhắc chủ động đầu tiên trên thế giới
Telstar là vệ tinh liên lạc tiếp âm trực tiếp và động đầu tiên Thuộc về công ty điện thoại, điện báo Mỹ (AT&T) như là một phần của hợp đồng đa quốc gia giữa AT&T, phòng thí nghiệm điện thoại Bell, NASA, bưu điện Anh, viễn thông Pháp để phát triển vệ tinh liên lạc, nó được phóng lên bởi NASA từ mũi Canaveral vào ngày 10 tháng 7 năm 1962, là cuộc phóng vào không gian của tư nhân đầu tiên Telstar được đặt trên một quỹ đạo elip (hoàn thành một chu kỳ sau 2 giờ và 37 phút), quay ở một góc 45° trên xích đạo
Một tiền lệ trực tiếp của vệ tinh địa tĩnh là Huges Syncom 2 được phóng lên vào 26 tháng 7 năm 1963 Syncom 2 quay quanh Trái Đất mỗi lần một ngày với tốc độ không đổi, nhưng do vẫn còn có sự vận động bắc-nam, vẫn cần có thiết bị đặc biệt để theo dõi nó
Trang 6Phần II: Nguyên lý hoạt động
1 Giới thiệu chung
Một vệ tinh truyền thông liên lạc là một vệ tinh nhân tạo có chức năng chuyển tiếp và khuếch đại tín hiệu radio liên lạc thông qua một máy tiếp sóng; từ đó tạo ra một kênh truyền giữa nguồn phát và thiết bị thu ở những vị trí khác nhau trên Trái Đất Các vệ tinh truyền thông thường được sử dụng cho truyền hình vô tuyến (TV), điện thoại, radio, internet và ứng dụng trong quân sự
Có khoảng 2,000 vệ tinh truyền thông đang bay theo quỹ đạo xung quanh Trái Đất được dùng bởi các tổ chức tư nhân và nhà nước Phần lớn các vệ tinh đó nằm trong quỹ đạo địa tĩnh cách 35,785 km so với đường xích đạo dẫn tới các vệ tinh nhìn như là đang đứng yên ở một điểm trên bầu trời, và nhờ đó mà các đĩa antenna truyền thông vệ tinh trên mặt đất có thể luôn luôn nhắm vào các
vệ tinh địa tĩnh mà không phải lần theo quỹ đạo di chuyển
2 Cấu tạo và cách vận hành
Một vệ tinh nhân tạo cơ bản là một hệ thống truyền thông khép kín có khả năng thu nhận tín hiệu gửi từ Trái Đất và truyền ngược lại những tín hiệu đó trở về sử dụng các máy tiếp sóng – thiết
bị được tích hợp từ máy thu và máy phát các tín hiệu radio
Một vệ tinh nhân tạo phải chịu được những va chạm mạnh trong lúc được phóng lên quỹ đạo lên đến 28,100 km/h và môi trường ngoài không gian khắc nghiệt với khả năng bị tiếp xúc với phóng xạ và những nhiệt độ tột cùng Thêm vào đó thì các vệ tinh phải nhẹ do chi phí phóng của vệ tinh phụ thuộc vào cân nặng Và để đáp ứng những nhu cầu đó thì vệ tinh phải được cấu tạo bằng những vật liệu nhẹ và bền
Chúng phải có độ tin cậy 99.9% hoặc hơn khi hoạt động trong chân không ngoài vũ trụ và không cần phải sữa chữa và bảo trì
Bộ phận chính của vệ tinh nhân tạo bao gồm các antenna và máy tiếp sóng có nhiệm vụ thu nhận và chuyển tiếp tín hiệu tạo nên một hệ thống truyền thông, hệ thống năng lượng bao gồm các tấm pin năng lượng mặt trời có nhiệm vụ cung cấp năng lượng, hệ thống phản lực bao gồm những tên lửa giúp di chuyển vệ tinh
Một vệ tinh bất kỳ cần hệ thống phản lực để có thể đi vào đúng vị trí quỹ đạo bay và thỉnh thoảng điều chỉnh vị trí trong lúc quỹ đạo Những vệ tinh có quỹ đạo địa tĩnh có thể di chuyển lệch vài độ từ bắc vào nam do lực hút của Mặt Trăng và Mặt Trời Vòng đời của các vệ tinh được xác định bởi lượng nhiên liệu còn lại để điều khiển hệ thống phản lực Một khi nhiên liệu hết thì cũng là lúc chúng trôi dạt từ từ ra ngoài vũ trụ và trở thành mảnh vụn ngoài không gian
Một vệ tinh đang bay trong quỹ đạo phải hoạt động liên tục trong vòng đời của nó Nó yêu cầu một nguồn năng lượng có sẵn để hoạt động các thiết bị, hệ thống điện tử và thực hiện chức năng giao tiếp, truyền tín hiệu Nguồn năng lượng chính đến từ Mặt Trời thu được từ các tấm pin năng lượng Mặt Trời Ngoài ra, vệ tinh còn có pin dự trữ năng lượng được sạc khi có ánh sáng Mặt Trời
và cung cấp năng lượng cho các thiết bị hoạt động khi Mặt Trời bị Trái Đất che mất
Trang 7Những vệ tinh hoạt động ở nhiệt độ từ −150 °C đến 150 °C và có thể chịu ảnh hưởng bởi phóng xạ ngoài không gian Những bộ phận mà có khả năng phơi nhiễm với phóng xạ sẽ được bao bọc bởi nhôm và các vật liệu kháng phóng xạ khác Ở bên trong một vệ tinh nhân tạo còn có hệ thống điều chỉnh nhiệt độ để có thể đối phó với sự thay đổi nhiệt độ và giữ nhiệt độ của các thiết bị điện tử nhạy cảm ở tráng thái tối ưu Ngoài ra, nó còn có thể kích hoạt cơ chế làm mát hoặc làm nóng khi nhiệt độ của các bộ phận quá nóng hoặc quá lạnh
Hệ thống đo lường và kiểm soát từ xa là một kết nối hai chiều giữa vệ tinh và mặt đất Điều này cho phép các trạm điều khiển ở mặt đất có thể kiểm soát và điều chỉnh hệ thống phản lực,hệ thống nhiệt độ và các hệ thống khác Nó còn có thể quan sát nhiệt độ, điện thế và các thông số quan trọng khác của một vệ tinh truyền thông nhân tạo
Vệ tinh truyền thông phân loại từ siêu nhỏ có trọng lượng ít hơn 1 kg cho đến lớn nặng hơn 6,500 kg Nhờ các cải tiến về kỹ thuật thu nhỏ và số hóa thì khả năng chứa của các vệ tinh đã tăng lên đáng kể
Vệ tinh nhân tạo hoạt động ở 3 quỹ đạo chính: quỹ đạo thấp (Low Earth orbit – LEO), quỹ đạo trung bình (Medium Earth orbit – MEO) và quỹ đạo địa tĩnh (Geostationary Earth orbit – GEO) Vệ tinh LEO thường nằm ở vị trí có độ cao từ 160 đến 1,600 km so với bề mặt Trái Đất Vệ tinh MEO hoạt động ở độ cao 10,000 đến 20,000 km so với mặt đất (Những vệ tinh nằm ở giữa LEO và MEO không hoạt động do môi trường khó khăn đối với các thiết bị điện tử do vành đai bức xạ Van Allen.)
Vệ tinh GEO được đặt ở độ cao 35,756 km so với bề mặt Trái Đất và có chu kỳ quỹ đạo 24 giờ dẫn đến chúng dường như là đứng yên so với trạm quan sát ở Trái Đất Chỉ cần có 3 vệ tinh GEO để phủ sóng toàn cầu, trong khi đó thì phải cần tới 20 hoặc hơn cho vệ tinh LEO và cần 10 hoặc hoặc hơn cho vệ tinh MEO Ngoài ra, khi giao tiếp với các vệ tinh LEO và MEO thì cần phải theo dõi sự di chuyển của các vệ tinh để có kết nối không gián đoạn
Một tín hiệu được phản lại từ vệ tinh GEO cần 0.22 giây với vận tốc ánh sáng để truyền từ Trái Đất đến vệ tinh truyền thông và trở lại Sự trì hoãn này làm cho các dịch vụ điện thoại và thu âm gặp khó khăn nên hầu hết các điện thoại di động và dịch vụ thu âm sử dụng các vệ tinh LEO và MEO để tránh tình trạng trì hoãn ở vệ tinh GEO Mặt khác, các vệ tinh GEO thường dùng để phát thanh và các dịch vụ về dữ liệu do diện tích mà chúng bao phủ lớn
Để phóng một vệ tinh nhân tạo yêu cầu một tên lửa mạnh nhiều giai đoạn để có thể đạt được ví trí hợp lý Các bệ phóng tên lửa cung cấp những tên lửa độc quyền để phóng nhiều vệ tinh lên quỹ đạo ở những vị trí như Trung Tâm Vũ Trụ Kennedy tại Mũi Canaveral, Florida, Baikonur Cosmodrome tại Kazakhstan, Kourou tại French Guiana, Căn Cứ Không Quân Vandenberg tại California, Xichang tại Trung Quốc và đảo Tanegashima tại Nhật Bản
Các vệ tinh truyền thông sử dụng dải tần số rất cao từ 1-50 gigahertz để thu nhận và truyền dữ liệu Các dải tần được chia theo chữ cái L-, S-, C-, X-, Ku-, Ka- và V- Ở phần thấp của dải tần (từ L-, S- và C-) thì tín hiệu được truyền đi với công suất thấp nên cần antenna to để có thể thu nhận dữ liệu Ở phần cao của dải tần (từ X-, Ku-, Ka- và V-) thì tín hiệu được truyền đi có năng lượng cao hơn nên các đĩa antenna nhỏ, đường kính khoảng 45 cm là có khả năng thu nhận tín hiệu Ở dải cao nhất định thì phù hợp với việc truyền thông tận nhà, truyền thông dữ liệu dải rộng, liên lạc điện thoại
và nhiều ứng dụng dữ liệu
Trang 8Liên đoàn Viễn thông Quốc tế (International Telecommunication Union – ITU), một cơ quan chuyên trách của Liên minh Châu Âu có nhiệm vụ kiểm soát việc truyền thông vệ tinh ITU có trụ
sở ở Geneva, Thụy Sĩ tiếp nhận và chấp thuận đơn xin các vị trí quỹ đạo dành cho vệ tinh Cứ mỗi
từ 2 đến 4 năm thì ITU tổ chức Hội nghị truyền thông vô tuyến thế giới, nơi chịu trách nhiệm cho việc phân công các tần số hoạt động của các ứng dụng trên từng vùng khắp thế giới Mỗi cơ quan kiểm soát viễn thông của mỗi nước sẽ tuân thủ các quy định được nêu và phân loại tần số cho người
sử dụng
3 Các Loại Vệ Tinh Thông Tin
Có hai loại vệ tinh truyền thông chính, thụ động và chủ động Vệ tinh thụ động chỉ phản xạ tín hiệu đến từ nguồn, về hướng của máy thu Với vệ tinh thụ động, tín hiệu phản xạ không được khuếch đại ở vệ tinh, và chỉ có một lượng rất nhỏ năng lượng truyền tới máy thu Vì vệ tinh ở rất xa Trái đất nên tín hiệu vô tuyến bị suy giảm do mất đường truyền trong không gian tự do , do đó tín hiệu nhận được trên Trái đất rất rất yếu Mặt khác, các vệ tinh chủ động sẽ khuếch đại tín hiệu nhận được trước khi truyền lại cho bộ thu trên mặt đất. Vệ tinh thụ động là vệ tinh liên lạc đầu tiên, nhưng hiện nay ít được sử dụng. Telstar là vệ tinh liên lạc chuyển tiếp trực tiếp hoạt động thứ hai Thuộc
về AT&T như một phần của thỏa thuận đa quốc gia giữa AT&T, Phòng thí nghiệm Điện thoại Bell , NASA, Tổng cục Bưu điện Anh và PTT Quốc gia Pháp (Bưu điện) để phát triển thông tin liên lạc vệ tinh, nó đã được NASA phóng từ Cape Canaveral vào tháng Bảy 10 năm 1962, trong lần phóng vào không gian đầu tiên do tư nhân tài trợ. Relay 1 được phóng vào ngày 13 tháng 12 năm 1962, và nó trở thành vệ tinh đầu tiên truyền qua Thái Bình Dương vào ngày 22 tháng 11 năm 1963.
4 Quĩ Đạo Vệ Tinh
Trang 9Các vệ tinh liên lạc thường có một trong ba loại quỹ đạo chính , trong khi các phân loại quỹ đạo khác được sử dụng để xác định rõ hơn chi tiết quỹ đạo Tuỳ thuộc vào độ cao so với mặt đất các quỹ đạo của vệ tinh trong hệ thống thông tin vệ tinh được chia thành :
• HEO (Highly Elpitical Orbit): quỹ đạo elip cao
• GSO (Geostationary Orbit) hay GEO (Geostatinary Earth Orbit): quỹ đạo địa tĩnh
• MEO (Medium Earth Orbit): quỹ đạo trung
• LEO (Low Earth Orbit): quỹ đạo thấp
Vệ tinh địa tĩnh có quỹ đạo địa tĩnh (GEO), đó là 22.236 dặm (35.785 km) từ bề mặt của Trái đất. Quỹ đạo này có điểm đặc biệt là vị trí biểu kiến của vệ tinh trên bầu trời khi được quan sát viên mặt đất quan sát không thay đổi, vệ tinh dường như “đứng yên” trên bầu trời. Điều này là do chu kỳ quỹ đạo của vệ tinh giống với tốc độ quay của Trái đất. Ưu điểm của quỹ đạo này là anten mặt đất không phải theo dõi vệ tinh trên bầu trời, chúng có thể được cố định để chỉ vào vị trí trên bầu trời
mà vệ tinh xuất hiện Tiết kiệm thiết bị mặt đất còn được nhiều hơn cả chi phí đắt đỏ đưa vệ tinh lên quỹ đạo địa tĩnh cao và có thể tổ điều hành hiệu quả không cần những thiết bị đắt tiền để theo dõi chuyển động của vệ tinh
Vệ tinh quỹ đạo Trái đất trung bình (MEO) gần Trái đất hơn. Độ cao quỹ đạo nằm trong khoảng từ 2.000 đến 36.000 km (1.200 đến 22.400 mi) so với Trái đất
Khu vực bên dưới quỹ đạo trung bình được gọi là quỹ đạo Trái đất thấp (LEO) và cách Trái đất khoảng 160 đến 2.000 km (99 đến 1.243 mi) Việc phóng vệ tinh Quỹ đạo Trái Đất tầm thấp không tốn phí bằng việc phóng vệ tinh địa tĩnh, và vì ở gần mặt đất nên không đòi hỏi tín hiệu có cường độ lớn
5 Phân bố tần số cho các hệ thống thông tin vệ tinh
Phân bố tần số cho các dịch vụ vệ tinh là một quá trình rất phức tạp đòi hỏi sự cộng tác quốc tế và có quy hoạch Phân bố tần được thực hiện dưới sự bảo trợ của Liên đoàn viễn thông quốc tế (ITU) Để tiện cho việc quy hoạch tần số, toàn thế giới được chia thành ba vùng:
Vùng 1: Châu Âu, Châu Phi, Liên xô cũ và Mông Cổ
Vùng 2: Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Đảo Xanh
Vùng 3: Châu Á (trừ vùng 1), Úc và Tây nam Thái Bình Dương
Trong các vùng này băng tần được phân bổ cho các dịch vụ vệ tinh khác nhau, mặc dù một dịch vụ có thể được cấp phát các băng tần khác nhau ở các vùng khác nhau Các dịch vụ do vệ tinh cung cấp bao gồm:
Các dịch vụ vệ tinh cố định (FSS)
Các dịch vụ vệ tinh quảng bá (BSS)
Trang 10 Các dịch vụ vệ tinh di động (MSS)
Các dịch vụ vệ tinh đạo hàng
Các dịch vụ vệ tinh khí tượng
Từng phân loại trên lại được chia thành các phân nhóm dịch vụ; chẳng hạn dịch vụ vệ tinh cố định cung cấp các đường truyền cho các mạng điện thoại hiện có cũng như các tín hiệu truyền hình cho các hãng TV cáp để phân phối trên các hệ thống cáp Các dịch vụ vệ tinh quảng bá có mục đích chủ yếu phát quảng bá trực tiếp đến gia đình và đôi khi được gọi là vệ tinh quảng bá trực tiếp (DBS:direct broadcast setellite), ở Châu Âu gọi là dịch vụ trực tiếp đến nhà (DTH: direct
to home) Các dịch vụ vệ tinh di động bao gồm: di động mặt đất, di động trên biển và di động trên máy bay Các dịch vụ vệ tinh đạo hàng bao gồm các hệ thống định vị toàn cầu và các vệ tinh cho các dịch vụ khí tượng thường cung cấp cả dịch vụ tìm kiếm và cứu hộ
Bảng 1.1 liệt kê các ký hiệu băng tần sử dụng chung cho các dịch vụ vệ tinh
Băng Ku là băng nằm dưới băng K còn băng Ka là băng nằm trên K Ku là băng hiện nay được
sử dụng cho các vệ tinh quảng bá trực tiếp và nó cũng được sử dụng cho một số dịch vụ vệ tinh cố định Băng C được sử dụng cho các dịch vụ vệ tinh cố định và các dịch vụ quảng bá trực tiếp không được sử dụng băng này Băng VHF được sử dụng cho một số dịch vụ di động và đạo hàng và để truyền số liệu từ các vệ tinh thời tiết Băng L được sử dụng cho các dịch vụ di động và các hệ thống đạo hàng Đối với các dịch vụ vệ tinh cố định trong băng C, phần băng được sử dụng rộng rãi nhất
là vào khoảng từ 4 đến 6 GHz Hầu như các tần số cao hơn được sử dụng cho đường lên và thường băng C được ký hiệu là 6/4 GHz trong đó con số viết trước là tần số đường lên Đối với dịch vụ quảng bá trực tiếp trong băng Ku, dải thường được sử dụng là vào khoảng từ 12 đến 14 GHz và được ký hiệu là 14/12 GHz Mặc dù các ấn định tần số được thực hiện cụ thể hơn và chúng có thể nằm ngoài các giá trị được trích dẫn ở đây (chẳng hạn các ấn định tần số băng Ku có thể là 14,030 GHz và 11,730 GHz), các giá trị gần đúng được đưa ra ở trên hoàn toàn thoả mãn cho các tính toán