1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

FILE 20211113 201206 HUONG các BIỆN PHÁP tự vệ THƯƠNG mại TRONG WTO FINAL

73 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các biện pháp tự vệ trong thương mại trong khuôn khổ WTO - Thực tiễn áp dụng ở một số nước trên thế giới và thực tiễn Việt Nam
Tác giả Huong
Năm xuất bản 2021
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các biện pháp tự vệ theo nghĩa trên là rất rộng, được áp dụngtrong nhiều trường hợp khác nhau và chịu sự giám sát của các Hiệp định đa biên củaWTO, chẳng hạn như các biện pháp kiểm dịch

Trang 1

CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ TRONG THƯƠNG MẠI TRONG KHUÔN KHỔ WTO – THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

g

Việt Nam (giai đoạn 2009 – 2020)

1 Biểu đồ 3.1 Số lượng các vụ việc khởi xướng và áp dụng các

biện pháp tự vệ của các thành viên WTO (2008 –2020);

53

2 Biểu đồ 3.2 Số lượng vụ việc điều tra tự vệ do các thành viên

WTO khởi xướng theo mặt hàng

57

Trang 3

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương

ASEAN : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

ASEM : Diễn đàn hợp tác Á-ÂU

CEPT : Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung khu vực ASEAN

EU : Liên minh Châu âu

GATS : Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

GATT : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

MOFTEC : Bộ Ngoại thương và Hợp tác kinh tế (Trung Quốc )

METI : Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (Nhật)

MOF : Bộ Tài Chính

TRIPS : Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại củaquyền sở hữu trí tuệ

SETC : Uỷ ban Kinh tế và Thương mại nhà nước Trung Quốc

USITC : Uỷ ban Thương mại quốc tế Mỹ

WTO : Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 6

1.1 Khái niệm, lịch sử phát triển và vai trò của các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế 6

1.1.1 Khái niệm, lịch sử phát triển và vai trò của các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế 6

1.1.2 Lịch sử phát triển của các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế 9

1.1.3 Vai trò của các biện pháp tự vệ 12

1.2 Các biện pháp tự vệ theo hiệp định đa biên của WTO 13

1.2.1 Các biện pháp thuế quan 14

1.2.2 Các biện pháp phi thuế quan 16

1.3 Nguyên tắc và thủ tục áp dụng các biện pháp tự vệ 17

1.3.1 Điều kiện áp dụng 17

1.3.2 Nguyên tắc áp dụng 19

1.3.3 Thủ tục, thời hạn và một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng các biện pháp tự vệ 21

Chương 2: THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN KHU VỰC THẾ GIỚI 27

2.1 Thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ thương mại ở Mỹ 27

2.1.1 Lịch sử ra đời các biện pháp tự vệ ở Mỹ 27

2.1.2 Thủ tục điều tra và áp dụng các biện pháp tự vệ 29

2.1.3 Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ 30

2.1.4 Thực tế một số trường hợp về việc áp dụng các biện pháp tự vệ ở Mỹ 31

2.2 Thực tiễn áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại ở EU 36

2.2.1 Sơ lược về Quy chế 3258/94/EC – Quy chế về các biện pháp tự vệ của EU 36

2.2.2 Thủ tục áp dụng các biện pháp tự vệ của EU 37

2.2.3 Thực tế một số trường hợp áp dụng các biện pháp tự vệ của EU 39

Trang 5

2.3 Thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ ở Trung Quôc 412.3.1 Khái quát về chính sách Tự vệ thương mại của Trung Quốc 412.3.2 Áp dụng các biện pháp tự vệ 42

Chương 3: THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC NÀY TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY 46

3.1 Thực trạng về tự vệ thương mại ở Việt Nam trong thời gian qua 463.1.1 Về chính sách tự vệ thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế 463.1.2 Nguyên nhân của thực trạng trên 493.1.3 Thực trạng pháp luật về tự vệ thương mại của Việt Nam 523.2 Thực trạng áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại trong bối cảnh Covid 19 hiệnnay 543.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tự vệ thương mại 593.3.1 Sự cần thiết và phương hướng hoàn thiện pháp luật về tự vệ thương mại 593.3.2 Một số kiến nghị nhằm thực hiện tốt công tác tự vệ thương mại trong nhập khẩuhàng hoá nước ngoài vào Việt Nam 61

KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

Có thể thấy rằng trong giai đoạn hiện nay toàn cầu hóa và khu vực hóa đangdần trở thành một xu thế tất yếu trên thế giới Từ đó khoảng cách giữa các quốc giađang dần trở nên thu hẹp theo sự phân công lao động toàn cầu và sự phát triển củathương mại quốc tế Tự do hóa thương mại đang dần tiến tới gỡ bỏ từng phần hayhoàn toàn các rào cản đối với thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và các hoạtđộng đầu tư Bởi các quốc gia có thể xâm nhập vào thị trường bên ngoài một cách tự

do, bình đẳng

Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới,trong đó có các nền kinh tế lớn như: Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Trung Quốc vàNhật Bản, các quốc gia đó cũng đều là thanh viên của Tổ chức Thương mại thế giới

Và vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổchức này

Việc gia nhập tổ chức này tạo cho nền kinh tế Việt Nam có những khởi sắcđáng kể cùng với những thành tựu của tiến trình hội nhập sâu rộng hơn đời sống kinh

tế quốc tế này Điều đó đồng thời đặt ra với Việt Nam những thách thức không nhỏtrong tiếp cận các biện pháp sử dụng trong thương mại quốc tế nhằm bảo hộ sản xuấttrong nước như: Chống bán phá giá, Thuế đối kháng và chống trợ giá; Bảo vệ cán cânthanh toán và áp dụng các Biện pháp tự vệ Trong đó biện pháp tự vệ được sử dụngtrong trường hợp cần thiết để hạn chế sự gia tăng đột biến của một loại sản phẩm cụthể nào đó Mỗi nước Mỗi nước nhập khẩu khi là thành viên của WTO đều có quyền

áp dụng biện pháp tự vệ, nhưng khi áp dụng thì phải tuân theo các quy định của WTO(về điều kiện, thủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ) Biện pháp này tác động vàlàm ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích xuất khẩu của các quốc gia xuất khẩu Chính vìvậy, nên các quốc gia phải cân nhắc cẩn trọng trước khi quyết định có hay không, nênhay không áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng nhập khẩu

Thực hiện chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tếdần dần hội nhập kinh tế một cách hiệu quả trên cơ sở đảm bảo độc lập tự chủ thì việcxây dựng một văn bản pháp lý có giá trị cao để điều chỉnh các nguyên tắc cơ bản khitham gia vào hội nhập nền kinh tế thế giợi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh

1

Trang 7

nghiệp của nước ta và ngoài nước tham gia vào hoạt động ngoại thương là rất cầnthiết Đồng thời việc nghiên cứu và học tập một cách nghiêm túc những quy định quốc

tế, học tập kinh nghiệm của các nước đi trước để vận dụng vào điều kiện của ViệtNam trong đó có việc áp dụng các biện pháp tự vệ trong khuôn khổ WTO là rất cầnthiết

Xuất phát từ thực tiễn thương mại về bảo hộ hàng hoá nói chung và tự vệthương mại nói riêng ở Việt Nam, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề nàytrên cơ sở đó có thể đóng góp một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu quả củahoạt động bảo hộ tự vệ thương mại cũng như của pháp luật về tự vệ thương mại ở Việt

Nam, em đã quyết định chọn đề tài: “Các biện pháp tự vệ trong khuôn khổ

WTO-Thực tiễn sử dụng ở một số nước trên thế giới và Việt Nam” làm đề tài Khoá luận của

mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu về các biện pháp tự vệ trong thương mại được rất nhiều cácnhà nghiên cứu quan tâm Đến nay, ở các mức độ khác nhau, trực tiếp và gián tiếp đã

có nhiều công trình nghiên cứu được công bố như luận văn, luận án, sách chuyênkhảo, tham khảo, bình luận, giáo trình… như sau:

Về sách, giáo trình

Một là, cuốn sách “Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế các hiệp định và

nguyên tắc của WTO” do phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam xuất bản năm

2008 Cuốn sách đã giới thiệu những nét cơ bản về Biện pháp tự vệ là gì? Tại sao biệnpháp tự vệ được thừa nhận trong WTO? Doanh nghiệp cần đối phó với các biện pháp

tự vệ ở nước ngoài như thế nào? Ở Việt Nam, biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nướcngoài được quy định như thế nào? giúp người đọc có thể hiểu hơn về những thôngtin liên quan đến biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế trong khuôn khổ WTO

Hai là, cuốn sách “Báo cáo phòng vệ thương mại năm 2020 của Cục Phòng vệ

thương mại – Bộ công Thương” xuất bản năm 2021 “Cục Phòng vệ thương mại đã

xây dựng Báo cáo thường niên về Phòng vệ thương mại năm 2020 nhằm cung cấp cácthông tin về xu hướng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của các nước trongkhu vực và trên thế giới cũng như công tác thực thi pháp luật phòng vệ thương mạicủa Việt Nam”

2

Trang 8

Về các công trình nghiên cứu khoa học

Một là, Vũ Thị Phương Thảo (2003), “Các biện pháp tự vệ trong thương mại –

thực tiễn sử dụng ở một số nước trên thế giới và Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp,Trường Đại học ngoại thương Hà Nội Khóa luận tìm hiểu nội dung chế định về tự vệthương mại theo quy định của Tổ chức thương mại thế giới, tìm hiểu lý thuyết và thựctiễn áp dụng biện pháp tự vệ ở một số nước và khu vực điển hình trên thế giới qua đó

sẽ làm rõ nội dungncác quy định của pháp luật quốc tế cũng như các quy định của luậtpháp Việt Nam về vấn đề này để từ đó đề xuất ra những giải pháp khắc phục, hoànthiện hơn nữa cũng như góp phần minh bạch hoá chính sách và các quy định phápluật của Việt Nam

Hai là, Nguyễn Cửu Đức Bình (2006), Các biện pháp tự vệ thông khuôn khổ tổ

chức thương mại thế giới – WTO”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại họcquốc gia Hà Nội “Luận văn nghiên cứu khái quát nhất về các biện pháp tự vệ đượcphép sử dụng trong khuôn khổ tổ chức Thương mại thế giới trên cơ sở quy định củahiệp định và các tài liệu chính thức của Tổ chức này So sánh rút ra những điểm khácbiệt của các biện pháp tự vệ trong tương quan so sánh với các biện pháp đối khángkhác Và tất yếu rõ ràng phạm vi áp dụng các trường hợp được phép áp dụng biệnpháp tự vệ”

Về tạp chí nghiên cứu khoa học

Một là, Phan Phương Nam và Kim Thị Hạnh (2020), “Biện pháp tự vệ trong

phòng vệ phương mại”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (số 12) “Bài viết này phân tích

chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam trong quy định về biệnpháp tự vệ và đề xuất kiến nghị hoàn thiện các quy định này nhằm bảo vệ sản phẩmtrong nước trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới”

Hai là, Trương Vĩnh Xuân và Nguyễn Việt Anh (2021), “Nâng cao hiệu quả

thực hiện quy định của pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại ở Việt Nam”,Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (số 21) “Bài viết đề cập đến vấn đề khi hội nhập kinh tếquốc tế, các biện pháp phòng vệ thương mại được Việt Nam quy định và hoàn thiệnnhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước và Việt Nam cần đẩy mạnh các giải pháp đểthực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng vệ thương mại, nhất là nâng cao nhận thức

về phòng vệ thương mại trong cơ chế thực thi về các biện pháp phòng vệ thương mại”

3

Trang 9

Ngoài ra còn một số công trình, bài viết đăng trên các tạp chí đề cập đến vấn đềcần nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể vàchuyên sâu về vấn đề pháp lý có liên quan các biện pháp tự vệ thương mại trongkhuôn khổ WTO Tác giả trên cơ sở kế thừa những nội dung trên và phát triển mộtcách có hệ thống và toàn diện về hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luậtViệt Nam.

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu mà đề tài hướng tới là:

- Làm sáng tỏ về các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

- Phân tích thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ ở một số nước và trên khuvực thế giới

- Thực tiễn về tự vệ thương mại ở Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiệncông tác này trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp tự vệ thương mại trong khuônkhổ WTO, vấn đề sử dụng biện pháp này ở các nước trên thế giới và Việt Nam

4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu đề tài, báo cáo sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp phân tích hệthống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê… cụ thểnhư sau:

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên cứumột cách có hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu

- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ mức độ tương quan giữa cácquy định, các quan điểm để từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan về nộidung nghiên cứu

- Phương pháp phân tích: được sử dụng để làm sáng tỏ những nội dung thuộcphạm vi nghiên cứu

4

Trang 10

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo gồm 3chương:

Chương 1: Khái quát chung về những biện pháp tự vệ trong thương mại quốc

tế

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các biện pháp tự vệ ở một số nước và khu vực

thế giới

Chương 3: Thực tiễn về tự vệ thương mại ở Việt Nam và một số kiến nghị

nhằm thực hiện tốt công tác này trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

5

Trang 11

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ

TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ1.1 Khái niệm, lịch sử phát triển và vai trò của các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

1.1.1 Khái niệm, lịch sử phát triển và vai trò của các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

và thực tiễn thực thi Hiệp định chung về thương mại và thuế quan – GATT 1947 (chỉgiới hạn thương mại và hàng hóa1)

Khi tham gia WTO ngoài những lợi thế khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế,các nước cũng phải chấp nhận và chịu những rủi ro nhất định Và cũng không phảingẫu nhiên mà các nước lại dựng lên những hàng rào làm cản trở đến sự lưu thông củahàng hoá các quy tắc chung của WTO đặt ra những ngoại lệ cho phép các doanhnghiệp trong nước và Chính phủ của họ thực hiện những hành động nhất định nhằmbảo vệ quyền lợi của mình khi bị tác động bởi chính sách tự do hoá thương mại Đóchính là các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

Tác giả Yong Shik Lee đã đưa ra “thuật ngữ ‘biện pháp tự vệ’ được sử dụng để

đề cập đến hạn chế nhập khẩu, nhưng lại khác so với biện pháp chống bán phá giá và trợ cấp, vốn cũng được xem là hạn chế nhập khẩu, nhưng có sự tồn tại của hành vi thương mại không lành mạnh bởi những nhà xuất khẩu Tự vệ được áp dụng như là một biện pháp tạm thời khi có sự gia tăng nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt

1 Trung Tâm WTO (2016), Giới thiệu ngắn gọn về WTO, truy cập tại trang https://www.mic.gov.vn ngày truy

cập 21/09/2021

6

Trang 12

hại đối với ngành sản xuất nội địa của sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp”2.

Dự án hỗ trợ thương mại đa biên – MUTRAP II, 2005, Từ điển chính sáchthương mại quốc tế 3có cách định nghĩa về hành động tự vệ như sau: “Tự vệ là cácbiện pháp tạm thời được đặt ra để giảm bớt nhập khẩu nhằm giúp một ngành sản xuấtnào đó tự điều chỉnh mình để thích ứng với sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các nhàsản xuất nước ngoài Theo WTO, các hành động tự vệ có thể được thực hiện theo cáchkhác nhau, tất cả các cách này đều phải tuân theo các điều kiện cụ thể để đảm bảorằng hành động tự vệ chỉ được thực hiện nếu có các nguyên nhân chính đáng Trongcách nêu trên4,… cách thứ tư, Điều XIX cho phép các nước tạm hoãn không thi hànhcác nghĩa vụ của mình hoặc sửa đổi các cam kết tự do hóa trong các trường hợp khônglường trước được và nếu bất cứ một sản phẩm nào được nhập khẩu với số lượng ngàycàng tăng có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra các thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sảnxuất trong nước cùng sản xuất một loại hàng hóa tương tự hoặc loại hàng hóa cạnhtranh trực tiếp Đó chính là những gì được định nghĩa về hành động tự vệ Có một têngọi khác cho hành động này, gọi là điều khoản nới lỏng Trừ một số trường hợp đượcđịnhnghĩa cụ thể, các biện pháp tự vệ được tiến hành theo Điều XIX cần phải nhằmvào một loại hàng hóa cụ thể, bất kể chúng có nguồn gốc từ đâu5…”

Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế có thể được hiểu theo hai nghĩa.Theo nghĩa rộng trong nghiên cứu của tác giả Yong Shik Lee và Từ điển chính sáchthương mại quốc tế, các biện pháp tự vệ bao gồm các biện pháp mà một nước sử dụngnhằm bảo hộ cho các nhà sản xuất hay hàng hoá của nước đó trước sự cạnh tranh của

2 Yong Shik Lee (2014), Safeguard Measures in world trade, The Legal Analysis, Third Edition.

3 Dự án hỗ trợ thương mại đa biên – MUTRAP II (2005), Từ điển chính sách thương mại quốc tế, tr.185-186

4 Cách thứ nhất được nêu trong Điều VI của Hiệp định GATT, cho phép các Chính phủ được tiến hành hành động

tự vệ nếu có xảy ra phá giá Các quy định của điều khoản này được làm rõ thêm trong Hiệp định về thực hiện Điều

VI của Hiệp định GATT (Hiệp định về chống bán phá giá) Cách thứ hai, theo Điều XII, trong trường hợp của các

nước đang phát triển theo Điều XVIII:B, các nước đang phát triển có thể hạn chế nhập khẩu để bảo vệ vị thế tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán Cách thứ ba, Điều XVIII:A và XVIII:C cho phép các nước đang phát triển

có sự trợ giúp của Chính phủ nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế

5 Cách thứ năm, có thể tiến hành đàm phán lại các cam kết theo Điều XXVIII của Hiệp định GATT với mục đích

giảm gánh nặng nhập khẩu Cách thứ sáu, các ngoại lệ chung và các ngoại lệ về an ninh theo GATS và Hiệp định

GATT cũng có thể coi như một hình thức tự vệ

7

Trang 13

hàng hoá nước ngoài Các biện pháp tự vệ theo nghĩa trên là rất rộng, được áp dụngtrong nhiều trường hợp khác nhau và chịu sự giám sát của các Hiệp định đa biên củaWTO, chẳng hạn như các biện pháp kiểm dịch thực vật, các biện pháp trợ cấp, cácbiện pháp chống bán phá giá…Cần lưu ý là các Hiệp định đa biên tương ứng chịutrách nhiệm giám sát việc thực thi các biện pháp trên trong những điều kiện chặt chẽchứ không nhằm mục đích tạo điều kiện cho các nước thành viên sử dụng thườngxuyên các biện pháp bảo hộ trên nhằm làm cản trở đến tự do hoá thương mại.

Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì các biện pháp tự vệ là các biện pháp thương mạikhẩn cấp do một nước áp dụng tạm thời để giúp làm giảm nhẹ gánh nặng cho ngànhcông nghiệp nội địa của mình khi ngành này bị tổn hại do hàng nhập khẩu gia tăng.Trong những điều kiện nhất định, một nước có thể áp dụng những biện pháp thươngmại nhằm hạn chế lượng hàng nhập khẩu của một sản phẩm nào đó để bảo vệ ngànhsản xuất nội địa đó của mình Đôi khi người ta còn gọi đó là “ điều khoản giải thoát”bởi vì nó giúp cho một nước “thoát khỏi” nghĩa vụ của mình trong những trường hợpđặc biệt Theo cách hiểu này thì khi tiến hành mở cửa thị trường và thực thi chính sách

tự do hoá thương mại, ngành sản xuất trong nước có thể bị suy yếu và gặp khó khănnghiêm trọng do gặp phải sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài Do vậy, ngành sảnxuất đó có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước mình về khả năng áp dụngcác biện pháp tự vệ để ngành này có thể thích nghi được với sự cạnh tranh Các biệnpháp tự vệ trong trường hợp này chịu sự điều chỉnh của Hiệp định về các biện pháp tự

vệ trong khuôn khổ WTO

Theo định nghĩa của trung tâm WTO: “Biện pháp tự vệ là việc tạm thời hạn

chế nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây

ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước Biện pháp tự vệ chỉ áp dụng đối với hàng hóa không áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ”.

Qua nghiên cứu có thể hiểu các biện pháp tự về là: “hành động khẩn cấp nhằm

hạn chế việc gia tăng nhập khẩu một loại sản phẩm nhất định, mà khi một thành viên nhận thấy quốc gia mình rơi vào ‘những diễn tiến không lường trước được’ hoặc ngoài dự đoán khi đặt ra cam kết, và chính những diễn tiến này đã đưa đến sự gia

8

Trang 14

tăng nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất nội địa”.

1.1.2 Lịch sử phát triển của các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

1.1.2.1 Theo quy định của GATT 1947

Các biện pháp bảo hộ thông qua con đường tự vệ thương mại có nguồn gốc từHoa kỳ Nó xuất hiện lần đầu tiên trong đạo luật về tự do hoá chính sách thương mạicủa Mỹ vào năm 1934 và được sử dụng trong Hiệp định thương mại giữa Mỹ vàMêxico năm 1943 Tổng thống Mỹ Truman đã đưa ra đề xuất về điều khoản miễn trừnghĩa vụ trong các Hiệp định thương mại của Mỹ mà chúng ta hiểu ngày nay đó làviệc cho phép dựng lên những rào cản tạm thời đối với hàng hoá nhập khẩu gia tănggây thiệt hại cho các ngành sản xuất nội địa6 Năm 1947, Mỹ và 21 quốc gia khác đãthoả thuận đàm phán về văn kiện GATT trong đó có chứa đựng điều khoản về hànhđộng trong trường hợp khẩn cấp

Các biện pháp tự vệ được quy định trong điều XIX, GATT 1947 (The GeneralAgrement and Trade): đây là phiên bản cũ của Hiệp định chung về thuế quan vàthương mại (trước phiên bản GATT năm 1994) Trước khi WTO ra đời, điều XIXGATT là co sở pháp lý để các thành viên GATT áp dụng các biện pháp tự vệ, Lí docủa điều khoản này là: các thành viên muốn áp dụng các biện pháp tự vệ chống lạiviệc số lượng hàng nhập khẩu gia tăng đột ngột Do vậy, có thể xem điều XIX GATT

có chức năng như một cái van an toàn7.GATT 1947 quy định rằng “nếu do hậu quả

của những diễn biến không lường trước được của các tình huống và do kết quả của các cam kết theo Hiệp định này, khi một sản phẩm được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết đó với số lượng tăng mạnh và với điều kiện gây tổn hại hay đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất sản phẩm tương tự hay cạnh tranh trực tiếp trong nước thì bên ký kết có thể dừng toàn bộ hay một phần các cam kết, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng về thuế quan, trong chừng mực liên quan đến sản phẩm đó

và trong thời gian cần thiết để dự liệu và khắc phục tổn hại đó”.

6 Xem cuốn Về hệ thống thương mại thế giới, Luật lệ và chính sách về quan hệ kinh tế quốc tế, John.H.Jackson,

bản dịch của Phạm Viên Phương & Huỳnh Thanh, NXB Thanh niên 2001.

7 Hoekman, Bernard M, Michel M Kostecki (2001), Political Economy of the World Trade System, Oxford

University Publisher, New York.

9

Trang 15

Tuy nhiên , GATT 1947 mới chỉ là bước mở đầu cho quan hệ giao thươngđược tự do phát triển Cùng với quá trình phát triển chung của thương mại toàn cầu nó

đã dần bộc lộ những hạn chế nhất định làm cơ sở cho một số Quốc gia lợi dụng để từ

bỏ các nghĩa vụ trong các cam kết của họ thông qua những nội dung sau:

Một là, trong GATT năm 1947 chỉ có điều XIX quy định về tự vệ trong việc

nhập khẩu hàng hóa Đồng thời văn bản này thiếu các quy định về giải thích các thuật

ngữ như: “sự gia tăng quá mức và không thể lường trước được, thiệt hại nghiêm

trọng, ngành sản xuất trong nước” dẫn đến việc sử dụng một cách tùy tiện mang tính

sử dụng một cách thường xuyên và liên tục

Ba là, việc thực thi quy chế Tối huệ quốc không mang ý nghĩa tích cực do bênnhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ “vùng xám” hay còn gọi là biện pháp hạn chế xuấtkhẩu tự nguyện dẫn đến việc đối xử không công bằng trong quan hệ thương mại giữacác Quốc gia Điều này đi ngược lại nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của WTO nóichung và GATT nói riêng

Theo tác giả Patrick Juillard & Dominique carreauManuel sự tồn tại những hạn

chế trên đã dẫn tới: “Trước khi diễn ra vòng đàm phán Uruguay đã có hơn 150 vụ

tranh chấp8” liên quan đến đến việc vận dụng điều XIX của GATT 1947

1.1.2.2 Theo quy định của WTO

Năm 1994, cùng với việc thành lập ra tổ chức thương mại thế giới (WTO), một

hệ thống các quy tắc thương mại đa biên đã được thiết lập và ngày càng được hoànthiện hơn Mục tiêu của hệ thống WTO là tạo cơ hội cho các sản phẩm hàng hoá vàdịch vụ của các nhà xuất khẩu có thể thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách

tự do mà không gặp phải các rào cản thương mại và tạo điều kiện cho các doanhnghiệp của các Quốc gia khác nhau có thể cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng và

8 Patrick Juillard & Dominique carreau (1998), Manuel Droit international économique, Bản tiếng pháp, NXB

Paris.

10

Trang 16

không bị gián đoạn bởi việc áp đặt các hạn chế GATT 1994 và Hiệp định về các biệnpháp tự vệ vẫn bảo lưu các quy định của GATT 1947 đồng thời cũng có những sửađổi bổ sung cho phù hợp nhằm đảm bảo cho việc trao đổi, giao lưu thương mại giữacác quốc gia diễn ra thuận lợi, đảm bảo cho các quốc gia nhập khẩu không phải chịunhững thiệt hại do tác động khi tham gia thương mại toàn cầu Bên cạnh đó, Hiệp địnhcũng có quy định việc bảo vệ quyền lợi của các nước cung ứng hàng hoá khi bị nướcnhập khẩu áp dụng các biện pháp tự vệ So với quy định của GATT 1947, GATT

1994 và các hiệp định về tương trợ khác có những thay đổi cơ bản sau: “Hiệp định vềcác biện pháp tự vệ đã giải thích cụ thể các điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ đồngthời làm rõ các khái niệm mà Hiệp định chung GATT 1947 không quy địnhchặt chẽ Việc giải thích này đã phần nào hạn chế việc sử dụng tuỳ tiện cáckhái niệm dựa trên ý chí chủ quan của nước nhập khẩu; Hiệp định xóa bỏ biện pháphạn chế xuất khẩu tự nguyện, hay bất kỳ các biện pháp tương tự nào khác muộn nhất

là đến ngày 01/01/1999 trừ trường hợp đặc biệt không quá một năm nhưng phải được

sự đồng ý của Tổ chức thương mại thế giới; các nước thành viên nhập khẩu khi ápdụng biện pháp tự vệ phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Uỷ ban tự vệ của WTO, đồngthời phải tiến hành tham vấn các bên có liên quan để các bên này có quyền trình bày ýkiến, quan điểm và đưa ra chứng cứ bảo vệ quyền lợi của mình trong trường hợp cầnthiết để ngăn chặn thiệt hại thì nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp tự vệ tạmthời trong một thời hạn hợp lý với điều kiện các biện pháp điều tra vẫn được tiến hànhsau đó Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ không kéo dài như trước đây mà giớihạn trong thời gian tối đa là 8 năm GATT cho phép tự do áp dụng các biện pháp thuếquan và phi thuế quan trong GATT 1994 khuyến khích áp dụng các biện pháp thuếquan và tiến tới hạn chế áp dụng các biện pháp phi thuế quan”

Ngoài ra các nguyên tắc về việc sử dụng biện pháp tự vệ được quy định hạiHiệp định tự vệ (Hiệp định SG hoặc SG Agreement) hay được ký kết tại vòng đàmphán Uruguay Các nước thành viên khi xây dựng pháp luật nội địa về các biện pháp

tự vệ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc này của WTO Các vụ kiện, việc điều tra và

áp dụng biện pháp tự vệ trên thực tế được tiến hành theo pháp luật nội địa của từngnước nhập khẩu, phù hợp với quy định liên quan của WTO Những nội dung chúng

của Hiệp định về biện pháp tự vệ: “Nhóm các quy định về điều kiện được áp dụng các

11

Trang 17

biện pháp tự vệ; Nhóm các quy dịnh về thủ tục điều tra và cách thức áp dụng các biện pháp tự vệ; Nhóm các quy định về biện pháp bồi thường; Nhóm các quy định ưu tiên dành cho các nước đang phát triển9”.

1.1.3 Vai trò của các biện pháp tự vệ

Thứ nhất, các biện pháp tự vệ nhằm giảm nhẹ hay trợ giúp khắc phục thiệt hại

gây ra do việc nhập khẩu hàng hoá tăng một cách bất thường, không thể lường trướcvào thị trường nội địa Khi thực hiện các cam kết về tự do hoá thương mại, các nướcphải chấp nhận từ bỏ sự bảo hộ của mình đối với các mặt hàng sản xuất trong nước vàchấp nhận rằng hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào sẽ được hưởng các lợi íchtương tự và bình đẳng như hàng hoá trong nước theo nguyên tắc đối xử Quốc gia Tuynhiên, trong các quy định của WTO còn có những ngoại lệ nhất định nhằm đảm bảoquyền lợi của các thành viên trong những trường hợp khẩn cấp như cho phép các bêntham gia ký kết sử dụng các biện pháp tự vệ trong một khoảng thời gian hạn chế nhấtđịnh không nhằm mục đích bảo hộ lâu dài cho sản xuất nội địa mà chỉ để khắc phụchay giảm nhẹ những thiệt hại cho các doanh nghiệp trong nước trước tình huống bấtthường từ việc hàng hoá nước ngoài nhập khẩu không hạn chế về số lượng vào thịtrường nội địa của họ Các biện pháp tự vệ sẽ chấm dứt khi mối nguy hiểm trong tìnhhuống đặc biệt không còn nữa

Thứ hai, các biện pháp tự vệ góp phần tăng cường, khuyến khích tính cạnh

tranh thông qua việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất chứ không phải vì mục đích ưu đãi,bảo hộ ngành sản xuất trong nước hay hạn chế sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoàitrong thị trường nội địa Đây là một quy định mang tính chất nhân nhượng và ưu đãidành cho các nước đang phát triển, các nước đang trong thời kỳ chuyển tiếp mà nềncông nghiệp của họ chưa sẵn sàng và cũng chưa đủ sức đương đầu với cạnh tranhquốc tế Theo đó, một khoảng thời gian hợp lý sẽ dành cho họ để họ tháo gỡ nhữngkhó khăn trước mắt, tìm ra đối sách lâu dài để nâng cao sức hấp dẫn của sản phẩm mà

họ làm ra, thúc đẩy cạnh tranh với hàng nhập khẩu thông qua những biện pháp thíchhợp thu hút sự lựa chọn của người tiêu dùng đối với hàng nội địa, thông qua chiếnlược tự điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất , cải tiến quy trình

9 Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2008), Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế các hiệp định

và nguyên tắc của WTO, tr.8.

12

Trang 18

công nghệ để có thể thích ứng được với sự thay đổi trên Do vậy, các biện pháp tự vệchỉ mang tính chất nhất thời và từng bước Trong thời hạn áp dụng sẽ được giảm nhẹ

và dần tiến tới xoá bỏ Mặt khác, những quy tắc của GATT cũng thừa nhận rằngChính phủ của các nước đang phát triển, trong khi theo đuổi những chương trình vàchính sách phát triển kinh tế có thể thấy cần hỗ trợ cho những ngành sản xuất mớihoặc cho sự phát triển hơn nữa những ngành sản xuất hiện có được quyền áp dụng cácbiện pháp tự vệ Các quy tắc về tự vệ cho mục đích này thường chứa đựng những điềukiện nghiêm ngặt hơn so với mục đích trên

Bên cạnh những mặt tích cực khi áp dụng các biện pháp tự vệ còn tồn tạinhững hạn chế Đó là việc bảo hộ một cách tràn lan hàng hoá nội địa sẽ dẫn tới sự ỷlại của các nhà sản xuất trong nưóc, dẫn tới việc mất khả năng cạnh tranh, không tậndụng tốt các nguồn lực sẵn có và sự hao phí tài nguyên là không tránh khỏi Hạn chếthứ hai, như trên đã phân tích, đó là việc nước áp dụng biện pháp tự vệ phải hứng chịu

sự trả đũa của các nước khác và là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộcchiến tranh thương mại không cần thiết, gây bất lợi cho các bên

1.2 Các biện pháp tự vệ theo hiệp định đa biên của WTO

Tác giả Nguyễn Văn Ngọc định nghĩa về“Thương mại đa biên hay buôn bán

đa phương (multilateral trade) là khái niệm được dùng để chỉ các hoạt động thương mại quốc tế trong đó có tất cả các nước liên quan đều tham gia vào xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ10”

Còn trong giáo trình tài chính doanh nghiệp đã đưa ra định nghĩa về hiệp định

thương mại trong tiếng Anh là Trade Agreement Hiệp định thương mại là văn bản ngoại giao do hai hay nhiều quốc gia kí kết về những điều kiện để tiến hành hoạt động thương mại11”

Các loại hiệp định thương mại bao gồm: Hiệp định thương mại song phương,

đa phương và đa biên

Hiệp định thương mại đa biên là: “Là hiệp định thương mại do nhiều quốc gia

kí kết về các lĩnh vực hoạt động thương mại, trong đó các thành viên được quyền lựa

10 Nguyễn Văn Ngọc (2007), Từ điển Kinh tế học, Đại học kinh tế quốc dân.

11 Học viện tài chính (2015), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài Chính.

13

Trang 19

chọn một số lĩnh vực để cam kết, không cần có nghĩa vụ thực hiện tất cả các nội dung của hiệp định.”12.

Các quy định của Hiệp định về các biện pháp tự vệ cho phép các quốc gia sửdụng pháp thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước Theo đó, cácquốc gia sẽ lựa chọn, hoặc là tăng mức thuế đã cam kết vượt lên trên mức thuế trầnhay áp dụng các hạn chế định lượng như quota Khác với biện pháp chống lại cáchành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ được sử dụng thuế quan bổ sung, các biệnpháp tự vệ cho phép sử dụng các hạn chế định lượng Các nước khi sử dụng các biệnpháp tự vệ thì không được sử dụng các biện pháp khác như hạn chế xuất khẩu tựnguyện hay các công cụ của hàng rào kỹ thuật…Các quốc gia cũng có thể sử dụngbiện pháp tự vệ tạm thời với điều kiện phải tuân thủ các điều kiện của Hiệp định

1.2.1 Các biện pháp thuế quan

Theo Từ điển kinh tế học định nghĩa thuế quan là tiếng Anh là “(custom duty)

là khoản thuế đánh vào hàng nhập khẩu Khác với các loại thuế thu nhập khác (tariffs), loại thuế này được áp dụng với mục tiêu chủ yếu là tạo nguồn thu cho chính phủ, chứ không nhằm bảo hộ người sản xuất để chống lại sự cạnh tranh của nước ngoài”13

Biện pháp thuế quan được sử dụng một cách phổ biến và là công cụ bảo hộ lâuđời nhất vì nó có tác động sau:

Thứ nhất, điều tiết nhập khẩu lượng hàng hóa tràn vào trong thị trường nhất

định Lượng nhập khẩu hàng hóa đó giảm xuống khi thuế suất tăng cao Việc sử dụngthuế quan không dẫn tới triệt tiêu quan hệ thương mại như trường hợp sử dụng hạnngạch vì dù cho thuế suất có tăng cao đi chăng nữa thì hàng hoá nước ngoài vẫn có cơhội xâm nhập vào thị trường

Thứ hai, giúp cho các nhà sản xuất nội địa có thể bán hàng trên thị trường mà

không phải chịu sức ép cạnh tranh, phục vụ cho các mục tiêu kinh tế là bảo hộ sảnxuất Đây có thể xem là chức năng quan trọng nhất của biện pháp này

Thứ ba, tăng thu cho ngân sách Nhà nước, nhất là đối với những nước đang

phát triển thì thuế là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước

12 Học viện tài chính (2015), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài Chính.

13 Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân.

14

Trang 20

Thứ tư, công cụ phục vụ các mục tiêu phi kinh tế như giảm bớt việc nhập khẩu

các hàng hoá mà nhà nước không khuyến khích vì nó ảnh hưởng đến đời sống môitrường, đạo đức xã hội và điều tiết tiêu dùng trong xã hội

Bằng cách đánh thuế quan vào hàng hóa nhập khẩu, Nhà nước tạo áp lực tănggiá bán của hàng hóa nhập khẩu, qua đó giúp nhà sản xuất trong nước có lợi thế cạnhtranh về giá với hàng hóa nhập khẩu.Tuy nhiên biện pháp này không có lợi cho ngườitiêu dùng khi mà phục vụ lợi ích của các Nhà sản xuất trong nước Một mặt, nó bảo vệ

“người sản xuất” khỏi các đối thủ cạnh tranh, nhưng lại làm giảm nguồn cung và giá

cả trong nước tăng Những nguồn lực sẽ không được sử dụng một cách hiệu quả vìlàm giảm hiệu quả của tổng thể toàn bộ nền kinh tế

Hiện nay, theo yêu cầu chung của WTO, các Quốc gia thành viên đều có xuhướng và buộc phải cắt giảm thuế đến một mức tối thiểu, thậm chí là triệt tiêu hẳnthuế quan tạo điều kiện cho hàng hoá có thể lưu thông một cách tự do mà không bịhạn chế Các nước đều có một lộ trình cắt giảm để thực hiện nghĩa vụ trong mộtkhoảng thời gian nhất định Hệ quả của việc cắt giảm thuế quan này là hàng hoá nướcngoài được nhập khẩu tự do và không bị hạn chế gây ra bất lợi cho hàng hoá sản xuấttrong nước Trong trường hợp như vậy các nước được phép sử dụng biện pháp thuếquan bằng cách tăng thuế nhập khẩu nhằm mục đích tự vệ Mức thuế gia tăng trongtrường hợp này phải hợp lý, có tính đến việc không gây cản trở hơn cho hoạt độngthương mại giữa các nước, chỉ được duy trì mức tăng này trong một thời gian hợp lý

và dần phải được dỡ bỏ Hiệp định về các biện pháp tự vệ thừa nhận rằng các nướcnhập khẩu có quyền lựa chọn một trong hai biện pháp hoặc là biện pháp thuế quanhoặc là biện pháp phi thuế quan, trên cơ sở ưu tiên sử dụng biện pháp thuế quan

1.2.2 Các biện pháp phi thuế quan

Trong cuốn “Cẩm nang hội nhập kinh tế quốc tế các rào cản phi thuế quan

trong thương mại quốc tế” đã đưa ra khái niệm các biện pháp phi thuế quan là cácbiện pháp của chính phủ ngoài thuế quan làm hạn chế luồng thương mại, được quyđịnh cụ thể trong hệ thống chính sách pháp luật hay phát sinh từ thực tiễn quản lý hoạtđộng thương mại, có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hay nhập khẩu thì được gọi

là các biện pháp phi thuế quan Biện pháp này khi được sử dụng và cũng chỉ được sửdụng khi mà biện pháp thuế quan trở nên kém tác dụng do lượng hàng hoá nhập khẩu

15

Trang 21

vẫn tăng, không hề giảm xuống đáng kể, do vậy nguy cơ gây hại nghiêm trọng chongành sản xuất nội địa vẫn còn Biện pháp phi thuế quan còn được sử dụng khi mộtnước muốn phân biệt đối xử với một hàng hoá nhất định nhập khẩu từ nước khác cũng

có phân biệt đối xử với nước đó trong quan hệ thương mại quốc tế Trong WTO đã

định nghĩa“các biện pháp hạn chế số lượng xuất khẩu, nhập khẩu là các quy định do

một nước đưa ra nhằm hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng nhập khẩu, xuất khẩu từ nước đó”14.

Các biện pháp phi thuế quan bao gồm hạn ngạch, cấm nhập khẩu, giấy phépnhập khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện… Để hạn chế hàng hoá nước ngoài nhậpkhẩu vào lãnh thổ nước mình, các nước thường sử dụng công cụ thuế quan hoặc hạnngạch hoặc kết hợp cả hai kèm theo đó là những giấy phép bắt buộc phải có Trong

giáo trình quan hệ quốc tế định nghĩa về “hạn ngạch còn gọi là quota hay hạn chế số

lượng xuất nhập khẩu thuộc nhóm các biện pháp hành chính phi thuế quan Theo đó, hạn ngạch nhập khẩu là quy định của nước nhập khẩu về mức cao nhất của giá trị hay khối lượng hàng hoá được phép nhập khẩu từ một thị trường nhất định trong một thời hạn xác định15”

Điều XI “Hiệp đinh chung về Thuế quan và Thương mại” (GATT) của WTO

định nghĩa nguyên tắc chung là: “các thành viên WTO không được áp dụng các biện

pháp hạn chế số lượng dưới bất kì hình thức nào nhằm hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa” Như vậy các biện pháp này về nguyên tắc bị cấm hoàn toàn trong WTO.

Tuy nhiên, cũng có số ít những trường hợp ngoại lệ đó là biện pháp tự vệ các nước cóthể áp dụng “biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu” với tính chất là một biện pháp tự

vệ: “trước việc hàng hóa nước ngoài nhập khẩu ổ ạt, tăng đột biến về số lượng nhập

khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước”, việc áp dụng phải

tuân thủ điều kiện thủ tục của WTO

14 Trung tâm WTO (2010), Các câu hỏi liên quan đến cam kết về các biện pháp hạn chế số lượng xuất khẩu – nhập khẩu trong WTO”, truy cập tại trang https://trungtamwto.vn/ ngày truy cập 21/09/2021.

15 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế, Nxb Công an nhân dân.

16

Trang 22

1.3 Nguyên tắc và thủ tục áp dụng các biện pháp tự vệ

1.3.1 Điều kiện áp dụng

Điều kiện chung để áp dụng các biện pháp tự vệ là “việc tăng đột biến lượng

nhập khẩu thiệt hại nói trên phải là hiện tượng mà nước nhập khẩu không thể lường trước được khi đưa ra cam kết trong khuôn khổ WTO”.

Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hànhđiều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời của các điều kiện sau:

Thứ nhất, hàng hóa liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng.

Việc xác định sự gia tăng hàng hoá nhập khẩu phải căn cứ vào một số tiêu chí

cụ thể Đó là sự gia tăng một cách tương đối hay tuyệt đối về số lượng, khối lượng haygiá trị của loại hàng hoá đó so với số lượng, khối lượng hay giá trị của hàng hoá tương

tự hoặc hàng hoá cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước Sự gia tăng về sốlượng hàng hoá nhập khẩu đó phải là không lường trước được, nghĩa là sự biến đổi đóxảy ra sau khi các bên đã đàm phán và không có gì để khẳng định rằng các nhà đàmphán, những người đã đưa ra nhượng bộ, có thể hay lẽ ra phải dự đoán được sự biếnđổi đó Các quy tắc của WTO (điều XIX của Hiệp định GATT 1994 và SA) đềukhông đưa ra các tiêu chí cụ thể về việc xác định sự gia tăng hàng hoá nhập khẩu vì cóthể mức nhập khẩu tuy tăng nhẹ nhưng lại gây thiệt hại không hề nhỏ cho ngành sảnxuất nội địa Do vậy, việc đưa ra một mức cụ thể như vậy sẽ không thể phản ánh chínhxác được sự gia tăng bất thường của loại hàng hoá đó Các quy định này chủ yếu docác nước áp dụng xác định dựa trên số liệu thống kê hải quan

Trên cơ sở đó và khẳng định lại tính đặc biệt của chế độ tự vệ thương mại – chỉ

áp dụng trong trường hợp đặc biệt khẩn cấp, sự gia tăng hàng nhập khẩu đó phải thểhiện được tính hiện tại (recent), đột biến (sudden), nhanh (sharp) và mạnh mẽ(significant), đủ để gây thiệt hại nghiêm trọng hay đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọngđối với ngành sản xuất trong nước16

Thứ hai, ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp hàng hóa

đó bị đe dọa thiệt hại nghiêm trọng

16 … “The increase in import must have been recent enough, sudden enough, sharp enough anh significant enough, both quantitavely and qualitavitely, to cause or threaten to cause serious injury”, Báo cáo của AB, Argentina - Footwear WT/DS121/AB/R, đoạn 131

17

Trang 23

Đây là điều kiện quan trọng làm cơ sở cho việc đưa ra biện pháp tự vệ Điềukiện này phải hoàn toàn gắn với điều kiện về sự gia tăng đột biến hàng nhập khẩu Ởđây, thuật ngữ “tổn hại nghiêm trọng” được hiểu là sự suy giảm toàn diện đáng kể tới

vị trí của ngành công nghiệp nội địa Việc xác định tổn hại sẽ dựa trên kết quả điều tratheo đó cơ quan chức năng sẽ đánh giá những yếu tố kinh tế có liên quan đến tình hìnhsản xuất của ngành này bao gồm: Tốc độ và số lượng gia tăng nhập khẩu của sảnphẩm có liên quan một cách tương đối hay tuyệt đối; Thị phần trong nước của phầngia tăng nhập khẩu; ự giảm sút thực tế về sản lượng, doanh số, thị phần, lợi nhuận,năng suất, tỷ suất đầu tư…;Tác động đến tăng trưởng kinh tế xã hội…

Ngoài ra, thuật ngữ “ngành sản xuất nội địa” được hiểu là toàn bộ các nhà sảnxuất sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm trực tiếp cạnh tranh trong phạm vi lãnh thổmột nước, hoặc tập hợp các nhà sản xuất mà đầu ra của sản phẩm tương tự hoặc trựctiếp cạnh tranh của họ chiếm phần lớn trong tổng số sản xuất nội địa của loại sảnphẩm này Các nước nhập khẩu cũng có thể viện dẫn vào sự đe doạ gây ra thiệt hạinghiêm trọng làm căn cứ cho việc áp dụng biện pháp tự vệ Sự đe doạ này phải là hiểnnhiên, rõ ràng, có thể thấy được Nếu như không có những biện pháp ngăn chặn kịpthời việc nhập khẩu hàng hoá đó thì chắc chắn sẽ dẫn tới những thiệt hại nghiêm trọngnhư biểu hiện trên

Thứ ba, “có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và

thiệt hại đe dọa nói trên”

Các quốc gia khi tham gia vào WTO phải cam kết thực hiện những nghĩa vụ

mà tổ chức này đặt ra Một trong những cam kết đó là việc xoá bỏ các rào cản về thuếquan hay phi thuế quan có ảnh hưởng đến chính sách tự do thương mại Tự do hoáthương mại đồng nghĩa với việc hàng hoá nước ngoài sẽ tràn vào thị trường nội địacạnh tranh với các nhà sản xuất trong nước và có khả năng gây ra thiệt hại cho họ.Việc áp dụng các biện pháp tự vệ sẽ không được thực hiện nếu như không có mốiquan hệ nhân quả giữa việc gia tăng nhập khẩu một loại hàng hoá có liên quan và tổnhại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng Nếu có những yếu tố kháckhông phải là sự gia tăng nhập khẩu, xuất hiện cùng một thời gian, gây ra tổn hạinghiêm trọng hay đe doạ gây ra tổn hại thì những tổn hại này sẽ không được tính cho

sự gia tăng nhập khẩu

18

Trang 24

1.3.2 Nguyên tắc áp dụng

1.3.2.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử

Nguyên tắc không phân biệt đối xử theo quy định của Hiệp định về các biệnpháp tự vệ chính là nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc theo đó biện pháp tự vệ sẽ được

áp dụng đối với mọi sản phẩm nhập khẩu không phân biệt nguồn gốc xuất xứ của sảnphẩm đó

Hiệp định về các biện pháp tự vệ yêu cầu khi áp dụng biện pháp tự vệ hạn chế

số lượng, nước nhập khẩu phải phân bổ hạn ngạch giữa các nước xuất khẩu trên cơ sởtham khảo ý kiến của các nước này và xem xét thoả đáng lợi ích của các nhà cung cấp

mới Điều 5 khoản 2a của Hiệp định này có quy định trong trường hợp hạn ngạch

được phân bổ giữa các nước xuất khẩu, Thành viên áp dụng hạn chế này có thể tìm kiếm một thoả thuận liên quan tới việc phân bổ hạn ngạch cho tất cả các thành viên

có lợi ích chính yếu đối với sản phẩm Trong trường hợp không áp dụng được phương pháp này, Thành viên nhập khẩu sẽ phân bổ cho các Thành viên có lợi ích cung cấp chủ yếu đối với sản phẩm theo thị phần, tính theo tổng giá trị hay số lượng sản phẩm được nhập từ Thành viên này trong một thời gian đại diện trước đó và có tính đến bất

cứ yếu tố đặc biệt nào đã hoặc có thế ảnh hưởng đến thương mại hàng hoá này.

Các nước nhập khẩu cam kết không áp dụng biện pháp tự vệ chống lại hàng cóxuất xứ từ nước đang phát triển nếu thị phần từ một thành viên không vượt quá 3% vàtổng số thị phần riêng lẻ của các thành viên đang phát triển có thị phần nhỏ hơn 3%không vượt quá 9% tổng kim ngạch nhập khẩu của hàng hoá liên quan Các biện pháp

tự vệ chỉ được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định, cụ thể tối đa 8 năm đốivới các nước công nghiệp phát triển và 10 năm đối với các nước đang phát triển

1.3.2.2 Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ trong phạm vi và mức độ cần thiết

Theo điều 5 Hiệp định về các biện pháp tự vệ GATT 1994 quy định là: “Theo

nguyên tắc này thì nước nhập khẩu chỉ được áp dụng biện pháp tự vệ ở giới hạn cần thiết và chỉ nhằm để ngăn cản hay khắc phục những thiệt hại do lượng nhập khẩu tăng đột biến gây ra và nhằm tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất nội địa mà không phải nhằm bất cứ mục đích nào khác” Quy định này có nội dung bên

19

Trang 25

nhập khẩu chỉ được áp dụng biện pháp thuế quan và biện pháp hạn chế số lượng, cụthể là hạn ngạch và cấp phép nhập khẩu.

Trong trường hợp khẩn cấp hay nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, nướcnhập khẩu có thể áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời trước khi tiến hành điều tra để xácđịnh nguyên nhân Nước đó cũng phải đảm bảo điều tra việc áp dụng các biện pháp tự

vệ là có căn cứ hay không và biện pháp tự vệ được sử dụng chỉ là biện pháp tăng thuếnhập khẩu mà thôi

Các biện pháp tự vệ sẽ được chấm dứt nếu như căn cứ và điều kiện áp dụngkhông còn tồn tại nữa Nước nhập khẩu phải rà soát lại biện pháp tự vệ đã áp dụng vàtừng bước nới lỏng biện pháp đang áp dụng để có thể bình thường hoá quan hệ thươngmại Việc áp dụng hạn chế định lượng sẽ không làm giảm số lượng hàng hoá nhậpkhẩu ở mức độ trung bình của 3 năm gần đây nhất trừ khi có sự biện minh rằng cần cómột mức khác để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng Các thành viên sẽlựa chọn các biện pháp thích hợp nhất để thực hiện các mục tiêu trên với điều kiện làcác biện pháp áp dụng không dẫn tới việc triệt tiêu các quan hệ thương mại

1.3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo việc bồi thường tổn thất thương mại

Khác với các biện pháp chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh dohành động bán phá giá hay hành động trợ cấp của Chính phủ, một nước thành viên khi

áp dụng biện pháp tự vệ phải đảm bảo việc đền bù thoả đáng cho nước bị áp dụng biệnpháp tự vệ do tác động bất lợi đối với lợi ích thương mại của nước đó Việc đền bùthiệt hại dành cho nước cung cấp hàng hoá thường được thể hiện thông qua việc giảmthuế đối với một số hàng hoá có lợi ích xuất khẩu cho nước bị áp dụng biện pháp tự

vệ Mức độ đền bù phải tương đương đáng kể Trong trường hợp biện pháp tự vệ làtăng thuế thì có thể dễ dàng đánh giá mức độ tương đương đó Còn nếu biện pháp tự

vệ có tính chất hạn chế định lượng thì mức độ tương đương này cần phải được tínhdựa trên dự đoán xấp xỉ về số lượng nhập khẩu bị cấm sau khi áp dụng hạn chế Trênthực tế không dễ dàng đạt được mức độ tương đối chính xác, do đó các nước sẽ giảiquyết vấn đề này tuỳ theo tình hình thực tiễn

Nếu các bên không thể thoả thuận được mức bồi thường tương xứng thì cácnước bị áp dụng biện pháp tự vệ có thể áp dụng biện pháp trả đũa, thườnglà biện phápchấm dứt sự nhân nhượng hay chấm dứt việc thực hiện nghĩa vụ đã cam kết với nước

20

Trang 26

áp dụng biện pháp tự vệ Tuy nhiên, quyền thực hiện trả đũa thương mại chỉ được tiếnhành sau 3 năm kể từ khi biện pháp tự vệ thực hiện theo Hiệp định về các biện pháp tự

vệ có hiệu lực và biện pháp tự vệ đó chỉ được áp dụng do mức tăng tuyệt đối của hàngnhập khẩu chứ không phải do mức tăng tương đối so với sản xuất trong nước

1.3.3 Thủ tục, thời hạn và một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng các biện pháp tự vệ

1.3.3.1 Thủ tục điều tra

Khác với trường hợp các vụ kiện chống bán phá giá hay chống trợ cấp, WTOkhông có nhiều quy định chi tiết về trình tự, thủ tục kiện áp dụng biện pháp tự vệ Tuynhiên, Hiệp định về Biện pháp tự vệ của WTO có đưa ra một số các nguyên tắc cơ bản

mà tất cả các thành viên phải tuân thủ, ví dụ: “đảm báo tính minh bạch (Quyết địnhkhởi xướng vụ điều tra tự vệ phải được thông báo công khai; Báo cáo kết luận điều traphải được công khai vào cuối cuộc điều tra…); Đảm bảo quyền tố tụng của các bên(các bên liên quan phải được đảm bảo cơ hội trình bày các chứng cứ, lập luận củamình và trả lời các chứng cứ, lập luận của đối phương); Đảm bảo bí mật thông tin (đốivới thông tin có bản chất là mật hoặc được các bên trình với tính chất là thông tin mậtkhông thể được công khai nếu không có sự đồng ý của bên đã trình thông tin); Cácđiều kiện về biện pháp tạm thời (phải là biện pháp tăng thuế, và nếu kết luận cuốicùng của vụ việc là phủ định thì khoản chênh lệch do tăng thuế phải được hoàn trả lạicho bên đã nộp; không được kéo dài quá 200 ngày…)”

Trình tự điều tra áp dụng các biện pháp tự vệ được thể hiện như sau:

Bước 1: Đơn yêu cầu áp dụng các biện pháp tự vệ của ngành sản xuất nội địanước nhập khẩu;

Bước 2: Khởi xướng điều tra;

Bước 3: Điều tra và công bố kết quả điều tra về các yếu tố: tình hình nhậpkhẩu; tình hình thiệt hại và mối quan hệ

Bước 4: Ra quyết định áp dụng không áp dụng biện pháp tự vệ

Theo tài liệu của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (2008): “Việc

điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ, mặc dù có nhiều yếu tố giống một trình tự tố tụng

tư pháp (một vụ kiện tại tòa án) nhưng đây bản chất là một thủ tục hành chính, do một cơ quan hành chính nước nhập khẩu tiến hành, để xử lý một tranh chấp thương

21

Trang 27

mại giữa các nhà xuất khẩu nước ngoài (về nguyên tắc là từ tất cả các nước đang xuất khẩu hàng hóa liên quan vào nước nhập khẩu) và ngành sản xuất nội địa liên quan của nước nhập khẩu Việc này được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật nội địa nước nhập khẩu và về nguyên tắc không phải là công việc giữa các Chính phủ (Chính phủ các nước xuất khẩu và Chính phủ nước nhập khẩu)”17.

Điều 3 của Hiệp định về các biện pháp tự vệ năm 1994 quy định: “Một Thành

viên có thể áp dụng biện pháp tự vệ chỉ sau khi cơ quan có thẩm quyền của Thành viên đó tiến hành điều tra theo thủ tục được xây dựng và công bố phù hợp với Điều 10 của Hiệp định GATT 1994 Việc điều tra sẽ bao gồm việc thông báo công khai cho tất

cả các bên liên quan, thẩm vấn công khai hoặc các biện pháp thích hợp khác để nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, và các bên có liên quan có thể đưa chứng cứ, quan điểm của họ, bao gồm cả cơ hội được phản biện lý lẽ của bên kia và đưa ra quan điểm của mình nhằm xem xét việc áp dụng biện pháp này có phù hợp với lợi ích chung không.

Cơ quan có thẩm quyền sẽ công bố báo cáo kết quả điều tra của mình và các kết luận thỏa đáng trên cơ sở các vấn đề thực tế và pháp lý”.

Các thành viên khi tham gia WTO có thể thông qua tổ chức này để xử lý nhữngtrường hợp nước nhập khẩu tiến hành điều tra mà vi phạm WTO bởi hiệp định SG

1.3.3.2 Áp dụng các biện pháp tự vệ

Sau khi đã có kết quả điều tra của cơ quan có thẩm quyền quyết định về việc ápdụng hay không áp dụng các biện pháp tự vệ Khi áp dụng các biện pháp tự vệ phải

tuân thủ khoản 1 điều 5 Hiệp định về các biện pháp tự vệ năm 1994 như sau: “Một

Thành viên sẽ chỉ áp dụng biện pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết để ngăn cản hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh Nếu một biện pháp hạn chế định lượng được sử dụng, thì biện pháp này sẽ không làm giảm số lượng nhập khẩu dưới mức nhập khẩu trung bình của 3 năm đại diện gần nhất có số liệu thống kê, trừ khi có sự biện minh rõ ràng rằng cần có một mức khác để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng Các Thành viên sẽ chọn biện pháp thích hợp nhất để thực hiện được các mục tiêu này”.

17Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2008), Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế các hiệp định

và nguyên tắc của WTO, tr.16.

22

Trang 28

Khi được phép áp dụng biện pháp tự vệ, các thành viên phải nhanh chóng khắcphục thiệt hại và điều chỉnh lại cơ cấu của ngành sản xuất nội địa chứ không phảinhằm mục đích hạn chế cạnh tranh Trong trường hợp nếu có chứng cứ chứng minhngành sản xuất đó đang bị thiệt hại và nếu không áp dụng biện pháp tự vệ ngay lập tứcthì thiệt hại sẽ không thể khắc phục được thì nước nhập khẩu có thể áp dụng biện pháp

tự vệ tạm thời Các biện pháp tự vệ như vậy chỉ có thể được tiến hành dưới hình thứctăng thuế quan nhập khẩu, vì có thể hoàn trả lại được nếu như kết quả thẩm tra cuốicùng cho thấy rằng không có một bằng chứng nào cho thấy có sự thiệt hại hay đe doạgây nên thiệt hại nghiêm trọng hoặc là không có bất cứ mối liên quan nào giữa việctăng số lượng hàng hoá nhập khẩu với các tổn thất đó Việc bồi thườngchỉ có thể dựatrên mức thuế suất bổ sung mà nước cung ứng hàng hoá đã nộp Nước cung ứng hànghoá sẽ bị thiệt hại nếu biện pháp tự vệ là các biện pháp hạn chế số lượng vì sẽ khôngthể xác định được mức độ thiệt hại mà nước xuất khẩu phải chịu và nước nhập khẩu

có thể bồi thường ở mức thấp hơn hoặc có thể không bồi thường do không xác địnhđược mức độ thiệt hại

1.3.3.3 Thời hạn áp dụng

Trong điều 5 của Hiệp định về các biện pháp tự vệ năm 1994 quy định: “một

Thành viên sẽ chỉ áp dụng biện pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết để ngăn cản hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh” Như vậy,

việc áp dụng các biện pháp tự vệ cũng chỉ giới hạn ở mức độ và thời hạn nhất định

Còn theo điều 7 thời hạn rà soát các biện pháp tự vệ quy định: “Một Thành

viên sẽ chỉ áp dụng các biện pháp tự vệ trong tời hạn cần thiết để ngăn chặn hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và tạo điều kiện điều chỉnh Thời gian này không được vượt quá 4 năm, trừ khi được gia hạn theo khoản 2”.

Tại điều này cũng có quy định: “Toàn bộ thời gian áp dụng một biện pháp tự

vệ kể cả thời gian áp dụng biện pháp tạm thời, thời gian bắt đầu áp dụng và bất kỳ sự gia hạn nào không được vượt quá 8 năm18” Việc gia hạn thêm sẽ được tính đến nếunhư cơ quan có thẩm quyền quyết định rằng: “Biện pháp này vẫn đang là biện phápcần thiết phải áp dụng để phục hồi hoặc ngăn chặn những tổn thất nghiêm trọng và cónhững bằng chứng chỉ ra rằng ngành sản xuất nội địa hiện đang được điều chỉnh”

18 Khoản 3 điều 7 Hiệp định về các biện pháp tự vệ thương mại.

23

Trang 29

Điều 6 của Hiệp định này cũng quy định: Các nước nhập khẩu có thể áp dụngbiện pháp tự vệ tạm thời trước khi tiến hành điều tra Thời gian áp dụng trong trườnghợp này không được kéo dài quá 200 ngày Thời gian áp dụng biện pháp này sẽ đượctính vào thời gian ban đầu và được gia hạn Nếu như sau khi điều tra mà thấy việc ápdụng là không có căn cứ thì nước nhập khẩu phải hoàn trả khoản thuế đã thu cho nước

bị áp dụng biện pháp tự vệ

Đối với những nước đang phát triển cũng có những ưu đãi nhất định về mặtthời gian khi học có thể kéo dài 2 năm nữa để điều chỉnh cơ cấu sản xuất cho phù hợphơn nữa do các nước này gặp nhiều khó khăn hơn các nước khác trong việc điều chỉnh

cơ cấu và cũng do trình độ phát triển của các nước này là rất khác nhau Thời hạn tối

đa để áp dụng các biện pháp tự vệ là 10 năm Tuy nhiên, thời hạn áp dụng các biệnpháp tự vệ sẽ được điều chỉnh lại cho phù hợp khi những điều kiện áp dụng nó khôngcòn hoặc gây ra trở ngại đáng kể nào nữa Nhằm tạo điều kiện cho việc điều chỉnhtrong trường hợp áp dụng biện pháp tự vệ vượt quá 1 năm, thành viên sẽ phải từngbước nới lỏng biện pháp này trong thời hạn áp dụng và nếu vượt quá 3 năm thì saumột nửa thời hạn áp dụng thành viên nhập khẩu phải tiến hành rà soát để loại bỏ vàthúc đẩy nhanh tốc độ tự do hoá

Hiệp định còn ngăn cấm các nước vòng tránh giới hạn thời gian của các biệnpháp tự vệ bằng cách cấm việc tái áp dụng tự vệ đối với một sản phẩm trong thời gianbằng với thời gian của hành động tự vệ ban đầu Có nghĩa là biện pháp tự vệ chỉ đượctái diễn trong thời kì tiếp ngay sau đó 2 năm Các biện pháp tự vệ tạm thời được đặt ratrong 6 tháng hoặc ít hơn có thể được tái lập sau 1 năm chừng nào hành động đókhông được áp dụng quá hai lần trong 5 năm

1.3.3.4 Đình chỉ, rà soát, gia hạn và tái áp dụng biện pháp tự vệ

Đình chỉ áp dụng biện pháp tự vệ là việc áp dụng biện pháp tự vệ không nhằmmục đích hạn chế cạnh tranh, do vậy nó chỉ được thực hiện trong một thời gian nhấtđịnh Khi những điều kiện cho sự tồn tại của nó không còn nữa thì nước đã quyết định

áp dụng phải dỡ bỏ ngay hay đình chỉ biện pháp tự vệ đang được áp dụng đối với loạihàng hoá đó Việc đình chỉ áp dụng biện pháp tự vệ cũng sẽ được đưa ra nếu như việctiếp tục thi hành các biện pháp này gây thiệt hại nghiêm trong đến kinh tế xã hội trongnước

24

Trang 30

Rà soát việc áp dụng biện pháp tự vệ là nước nhập khẩu phải tiến hành rà soátcác biện pháp tự vệ để đảm bảo quyền lợi cho nước bị áp dụng đồng thời cũng để choviệc luân chuyển, lưu thông hàng hoá được diễn ra bình thường như trước Hiệp định

về các biện pháp tự vệ điều 7 khoản 4 quy định rằng: “nếu thời gian áp dụng biện

pháp tự vệ vượt quá 1 năm thì thành viên áp dụng sẽ từng bước nới lỏng biện pháp này trong thời gian áp dụng, nếu thời gian áp dụng biện pháp tự vệ vượt quá 3 năm thì thành viên áp dụng phải tiến hành rà soát, xem xét lại các biện pháp tự vệ này trước khi hết một nửa thời gian áp dụng để có thể kết luận về việc duy trì, loại bỏ, giảm nhẹ mức độ áp dụng hoặc đẩy nhanh tốc độ nới lỏng các biện pháp tự vệ này Một biện pháp khi được gia hạn thêm sẽ không được hạn chế hơn và phải tiếp tục được nới lỏng”.

Nếu như tình hình nhập khẩu hàng hoá có giảm nhưng các doanh nghiệp hayngành sản xuất chưa khắc phục được thiệt hại hay cơ cấu lại phương thức sản xuấtkinh doanh của mình thì biện pháp tự vệ vẫn được duy trì cho đến khi kết thúc thờihạn đã định hoặc sẽ giảm nhẹ mức độ áp dụng hay đình chỉ các biện pháp tự vệ đang

áp dụng tuỳ theo tình hình các doanh nghiệp đã khắc phục được thiệt hại hay chưa, cótiến triển trong việc điều chỉnh cơ cấu hay không…

Gia hạn áp dụng biện pháp tự vệ được thực hiện trong trường hợp đã hết thờihạn áp dụng biện pháp tự vệ mà tình huống khẩn cấp không có biến chuyển hay biếnchuyển đó còn chậm, thiệt hại chưa kịp khắc phục thì có thể gia hạn thêm thời hạn ápdụng biện pháp tự vệ Theo Hiệp định về các biện pháp tự vệ của WTO, một thànhviên khi mở rộng thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ sẽ phải thông báo ngay lập tức cho

Uỷ ban về các biện pháp tự vệ và phải cung cấp những chứng cứ sau: Chứng cứ chứngminh sự tồn tại của tổn hại nghiêm trọng hay đe doạ tổn hại nghiêm trọng gây ra do sựgia tăng của hàng hoá nhập khẩu;

Mô tả rõ ràng loại sản phẩm có liên quan, biện pháp dự kiến, thời điểm dự kiến

áp dụng và tiến độ thực hiện tự do hoá các biện pháp tự vệ này;

Vấn đề tái áp dụng: Đối với trường hợp tái áp dụng biện pháp tự vệ, theo quy

định của Hiệp định về các biện pháp tự vệ điều 7 khoản 5,6: “không biện pháp tự vệ

nào sẽ được áp dụng lại cho việc nhập khẩu một sản phẩm đã bị áp dụng một biện pháp này sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực trong thời gian bằng thời gian mà biện

25

Trang 31

pháp đó đã được áp dụng trước đây, với điều kiện khoảng thời gian không áp dụng ít nhất là 2 năm Ngoài những quy định vừa nêu, có thể áp dụng lại một biện pháp tự vệ đối với việc nhập một sản phẩm trong khoảng thời gian là 180 ngày hay ít hơn nếu: ít nhất là 1 năm sau khi biện pháp tự vệ này đã được áp dụng cho việc nhập

khẩu của sản phẩm đó; và biện pháp tự vệ này chưa được áp dụng hơn hai lần cho cùng một loại sản phẩm trong vòng 5 năm ngay trước ngày áp dụng biện pháp này”.

Nhìn chung, việc tái áp dụng các biện pháp tự vệ là nên hạn chế sử dụng vìkhoảng thời gian mà Hiệp định dành cho nhà sản xuất nội địa nhằm khắc phục thiệthại và cơ cấu lại ngành đó là đủ và không cần thiết phải tái áp dụng Trong nhữngtrường hợp như vậy thủ tục sẽ rất rườm rà, phức tạp và dễ dẫn đến những hậu quả xấutrong quan hệ thương mại với các nước khác

26

Trang 32

Chương 2: THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ Ở

MỘT SỐ NƯỚC TRÊN KHU VỰC THẾ GIỚI

2.1 Thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ thương mại ở Mỹ

2.1.1 Lịch sử ra đời các biện pháp tự vệ ở Mỹ

Sau khi tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời năm 1995, khái niệm hoạtđộng thương mại và quan hệ thương mại, xét theo cả khía cạnh pháp lý và thực tế, đãđược mở rộng, bao gồm cả hoạt động buôn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, bảo hộquyền sở hữu trí tuệ, đầu tư

Giới luật gia Mỹ không quan niệm cứng nhắc về khái niệm thương mại nóichung và ngành luật thương mại nói riêng Đối với họ, không có tranh luận nhiều vềranh giới của các ngành luật, về sự khác biệt giữa hợp đồng kinh tế - dân sự - thươngmại Do có quan niệm rất rộng và năng động về pháp luật thương mại như vậy,

nên…“các đạo luật điều chỉnh hoạt động thương mại của Hoa Kỳ rất đa dạng và

phức tạp19” Do đó, khi quan hệ thương mại với Mỹ cần hiểu biết và phải tuân theonhững qui định đặc thù này để tránh các xung đột bất lợi Trong lịch sử, tính kháchquan và lợi ích về thương mại quốc tế đã được nhiều nhà khoa học nổi tiếng xây dựng

và hoàn thiện thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh Mỹ theo đuổi một chính sách tự

do hóa thương mại thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc cạnh trạnh với hàng hóa từbên ngoài tràn vào Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, Mỹ và các nước phải đặt ra nhiềuquy tắc với tình trạng bán phá giá hay trợ cấp của các nước xuất khẩu bằng cáchthông qua đạo luật chống phá giá 1916 (thay thế bằng Luật năm 1921 và Luật thuếquan năm 1930) và Luật thuế bù giá (VCD) Trong bài viết trên trang PA Pham &

Associates (2013) đã đưa ra nhận xét cả hai luật này quy định rằng phần thuế bổ sung

sẽ được ấn định đối với hàng nhập khẩu nếu chúng bị phát hiện là được trao đổi không công bằng Cả hai luật bao gồm những thủ tục tương tự để tiến hành điều tra,

ấn định thuế, và sau đó là kiểm tra và có khả năng loại bỏ thuế20.

19 Uy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế GATT2000: Mở cửa thị trường dịch vụ, NXB CTQG, HN, 2000,

tr72.

20 PA Pham & Associates (2013), Khái quát về luật thương mại Mỹ, truy cập tại trang http://pham.com.vn ngày truy cập 22/09/2021.

27

Trang 33

Năm 1934, các biện pháp tự vệ của nước này xuất pháp từ “Những hiệp địnhthương mại tương hỗ” của Mỹ đến nay vẫn là một phần cơ bản trong chính sách của

Mỹ Nội dung của đạo luật này đề cập đến vấn đề tự do hóa thương mại nhưng vẫ cónhững “Điều khoản miễn nghĩa vụ”, “Điều khoản giải thoát” hay “điều khoản tựvệ” Điều khoản dạng này lần đầu tiên được Mỹ đưa vào trong Hiệp định thương mạitương hỗ với Mêhicô năm 1943.Năm 1947, khi Mỹ và 21 quốc gia khác bắt đầu đàmphán về các văn kiện của GATT và của một tổ chức gọi là ITO (InternationalTradeOrganisation) thì Tổng thống Mỹ Truman đã ban hành một Luật Quản lý yêu cầu rằngmột điều khoản tự vệ phải được đưa vào trong mọi Hiệp định Thương mại thuộc phạm

vi điều chỉnh của chương trình “những Hiệp định thương mại tương hỗ” của Mỹ

Cơ chế tự vệ quan trọng nhất của hệ thống thương mại quốc tế là điều khoản vềcác biện pháp tự vệ Cơ chế này tồn tại trong GATT ở điều XIX, còn trong luật Mỹ,điều khoản này nằm trong phần 201-luật Thương mại 1974 Và như đã nói ở trên, điềukhoản về các biện pháp tự vệ của GATT chủ yếu được rút ra từ những nội dung đã có

từ trước đó trong luật pháp của Mỹ có điều luật pháp Mỹ đã tiến triển qua một số vănkiện suốt trong hơn 30 năm lịch sử cuả GATT 1947 trong khi đó điều khoản này củaGATT thực ra không thay đổi gì nhiều so với điều khoản được nêu trong văn kiện banđầu của nó

2.1.2 Thủ tục điều tra và áp dụng các biện pháp tự vệ

Pháp luật về tự vệ của Mỹ được xây dựng trên các quy định của WTO Nghiêncứu một số đặc trưng dưới bảng sau theo tóm tắt của trung tâm WTO:

Cơ quan có thẩm quyền Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC): tiến

hành điều tra tự vệ, đề xuất biện pháp áp dụng lên Tổng thống

Tổng thống: có quyền quyết định cuối cùng có tiến

hành điều tra hay không, quyết định về hình thức và thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời/chính thức

Các thời hạn điều tra Khởi xướng điều tra:

- 120 kể từ ngày nhận được đơn kiện (180 ngày trong trường hợp nghiêm trọng),

28

Trang 34

- Trong trường hợp cực kỳ phức tạp 150 ngày kể từngày nộp đơn kiện (210 ngày trong trường hợp nghiêm trọng)

Áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời trong trường hợp

nghiêm trọng: 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu

Báo cáo kết quả điều tra của ITC: 180 ngày (240

ngày trong trường hợp nghiêm trọng)

Hành động thích hợp và khả thi để bảo vệ ngành sản xuất trong nước: 60 ngày kể từ ngày nhận được

báo cáo trên (50 ngày nếu đã áp dụng biện pháp tự vệtạm thời) Hành động này sẽ có hiệu lực trong vòng

15 ngày kể từ ngày Tổng thống tuyên bố hành động

đó (90 ngày nếu Tổng thống thấy cần phải đàm phán

120 ngày kể từ ngày nộp đơn kiện

Thông tin Các thông tin liên quan đến vụ kiện sẽ được đăng trên

Công báo liên bang(Nguồn: Trung tâm WTO Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam)

Trình tự điều tra của Uỷ ban thương mại quốc tế Mỹ (viết tắt USITC - UnitedState International Trade Committee) được tóm tắt như sau: trước hết khi nhận đượckiến nghị xin áp dụng biện pháp tự vệ thì USITC phải điều tra xem có tồn tại thiệt hạinghiêm trọng hoặc nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nướccạnh tranh với hàng nhập khẩu hay không như đã nêu trong kiến nghị Nếu câu trả lời

là có thiệt hại thì Uỷ ban sẽ tiếp tục xem xét liệu nhập khẩu gia tăng có là nguyênnhân chủ yếu của thiệt hại đó hayVà sau khi xác định được mối quan hệ nhân quả này,USITC phải đề cử với Tổng thống một hoặc nhiều hình thức cứu trợ tự vệ có tính chấtgợi ý nhằm ngăn chặn hay khắc phục thiệt hại cho các ngành sản xuất trong nước bịảnh hưởng bởi sự gia tăng của hàng nhập khẩu này

29

Trang 35

Các biện pháp cứu trợ tự vệ được đề nghị dưới một trong các hình thức sau:

“Tăng hoặc áp dụng thuế đối với mặt hàng nhập khẩu bị điều tra, áp dụng hạn ngạchthuế quan đối với mặt hàng nhập khẩu đó; Sửa đổi hoặc áp dụng các hạn chế địnhlượng đối với các mặt hàng này khi nhập khẩu vào Mỹ; Các thoả thuận Marketing cóthứ tự với các nước xuất khẩu nhằm hạn chế xuất khẩu từ những nước này đến Mỹ.Một sự kết hợp nào đó giữa các hình thức trên”

Tổng thống sau khi xem xét báo cáo và kiến nghị của Uỷ ban này sẽ tiến hànhlựa chọn hình thức áp dụng biện pháp tự vệ với thời gian và mức phù hợp để đưa raquyết định cuối cùng Tuy nhiên, quyết định này nếu khác với hình thức của USITCthì Quốc hội từ chối hành động này và yêu cầu Tổng thống tuyên bố biện pháp tự vệ

tại điều 203 Luật thương mại 1974 của Mỹ quy định rằng: “Tổng thống sẽ tiến hành

các biện pháp hợp lý và khả thi trong quyền hạn của mình khi ông ta xác định sẽ tạo thuận lợi cho các nỗ lực của ngành sản xuất nội địa trong việc thực hiện các điều chỉnh thích hợp đối với cạnh tranh nhập khẩu và mang lại nhiều lợi ích về kinh tế-xã hội hơn là tạo ra các chi phí”.

2.1.3 Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ

Luật pháp của Hoa Kỳ quy định tương đối phù hợp với quy tắc của GATT vàHiệp định về các biện pháp tự vệ của WTP về thời gian áp dụng các biện pháp tự vệ

Tại Mục 203 Luật thương mại năm 1974 quy định về“thời hạn để tiến hành tự vệ là 4

năm và có thể mở rộng trong tổng thời gian là 8 năm nếu USITC quyết định rằng việc

mở rộng này là cần thiết để ngăn ngừa thiệt hại và các điều chỉnh tích cực đang được tiến hành Tổng thống Mỹ cũng có thể giảm bớt, thay đổi hay đình chỉ bất kỳ biện pháp tự vệ nào đang được áp dụng theo quy định trong phần 201-Luật thương mại

1974 nếu ông ta xác định được rằng những hoàn cảnh thay đổi đã vượt quá sự cho phép”.

Sau khi Tổng thống thực hiện việc áp dụng các biện pháp tự vệ để cứu trợ chongành sản xuất nội địa theo như phân tích ở trên, trong thời gian tiến hành các biệnpháp tự vệ, USITC cần phải giám sát sự phát triển của ngành sản xuất đang nhận được

sự cứu trợ đó và đệ trình mỗi năm hai lần các báo cáo đến Tổng thống về kết quả giámsát Trong khoá họp để chuẩn bị cho những báo cáo này, USITC phải tổ chức nhữngphiên họp giải trình công khai để các cá nhân, tổ chức quan tâm có thể gửi thông tin

30

Trang 36

đến hội nghị Sau khi việc áp dụng các biện pháp tự vệ chấm dứt, USITC phải tiếnhành một cuộc điều tra sơ bộ để đánh giá hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp tự

vệ nhằm mục tiêu cứu trợ cho ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại Một cuộc điềutra mới để tiến hành việc áp dụng các biện pháp tự vệ theo quy định của phần 201-LTM 1974 về cùng một sản phẩm chỉ được thực hiện sau 1 năm kể từ khi cuộc điềutra trước đó kết thúc Một mặt hàng đang được cứu trợ theo như quy định ở trên khôngphải chịu bất kỳ một sự điều tra nào trong thời gian bằng với khoảng thời gian ápdụng cho việc cứu trợ đối với mặt hàng đó

2.1.4 Thực tế một số trường hợp về việc áp dụng các biện pháp tự vệ ở Mỹ

Theo thống kê của Trung tâm WTO: Hoa Kỳ cho đến nay đã điều tra 659 vụchống bán phá giá trong đó có 427 vụ việc chống bán phá giá đã áp thuế Đối với ViệtNam, Hoa Kỳ đã và đang tiến hành điều tra 20 vụ việc chống bán phá giá với các sảnphẩm: sợi, ống đồng, lốp xe, máy cắt cỏ, đệm mút, tháp gió, túi dệt, tủ dụng cụ, ốngthép cuộn, đinh thép, ống dẫn dầu OCTG, thép chịu lực không gỉ, mắc áo bằng thép,ống thép cuộn cacbon, túi PE, lò xo đệm không bọc, cá tra, tôm

- Vụ thứ nhất “vụ kiện Mỹ - Các biện pháp tự vệ đối với mặt hàng thép nhậpkhẩu”

Nội dung vụ việc như sau: “Ngày 28/6/2001, Ủy Ban Thương Mại Quốc Tế

Mỹ (United States International Trade Commission - USITC) đã khởi xướng điều tra

tự vệ theo đề nghị của Cơ Quan Đại Diện Thương Mại Mỹ (United States TradeRepresentative - USTR) nhằm xác định liệu có hay không tình trạng gia tăng các sảnphẩm thép nhập khẩu vào Mỹ gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng đếnngành sản xuất nội địa

Ngày 5/3/2002 sau khi kết thúc cuộc điều tra, Tổng thống Mỹ George W Bush

đã tuyên bố quyết định áp dụng biện pháp tự vệ (tăng thuế quan nhập khẩu) đối với 15mặt hàng thép theo khuyến nghị của USITC Công bố này ngay lập tức gây chú ý và

Mỹ phải đón nhận làn sóng phản ứng mạnh mẽ từ nhiều quốc gia thành viên Chỉ haingày sau khi quyết định tự vệ của Mỹ được công bố, Liên minh Châu Âu đã đệ đơnkiện Mỹ theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (mã vụ kiện: DS248), cáo buộc

Mỹ vi phạm quy định tại Điều XIX:1 Hiệp định Thuế quan và Thương mại 1994

31

Ngày đăng: 19/12/2022, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Quyết định số 316/QĐ – BTC phê duyệt Đề án “Xây dựng và vận hành hiệu quả Hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại”.B. SÁCH, BÁO VÀ CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và vận hành hiệuquả Hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại
8. Nguyễn Cửu Đức Bình (2006), Các biện pháp tự vệ thông khuôn khổ tổ chức thương mại thế giới – WTO, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp tự vệ thông khuôn khổ tổchức thương mại thế giới – WTO
Tác giả: Nguyễn Cửu Đức Bình
Năm: 2006
9. Cục quản lý cạnh tranh (2017), “Tấm pin năng lượng mặt trời nhập khẩu - Hoa Kỳ khởi kiện áp dụng biện pháp tự vệ toàn cầu”, truy cập tại trang https://chongbanphagia.vn/ ngày truy vập 22/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tấm pin năng lượng mặt trời nhập khẩu -Hoa Kỳ khởi kiện áp dụng biện pháp tự vệ toàn cầu
Tác giả: Cục quản lý cạnh tranh
Năm: 2017
10. Việt Dũng (2021), “20 năm gia nhập WTO của Trung Quốc làm thay đổi thương mại thế giới”, truy cập tại trang https://congthuong.vn/ ngày truy cập 22/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm gia nhập WTO của Trung Quốc làm thay đổithương mại thế giới
Tác giả: Việt Dũng
Năm: 2021
12. Nguyễn Văn Giao (2020), “Việt Nam chủ động phòng vệ thương mại trong hội nhập”, truy cập tại trang http://consosukien.vn/ ngày truy cập 22/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam chủ động phòng vệ thương mại tronghội nhập
Tác giả: Nguyễn Văn Giao
Năm: 2020
16. Nguyễn Đức Hạnh (2016), “Tự vệ thương mại và bài học từ Mỹ”, truy cập tại trang https://m.kinhtedothi.vn/ ngày truy cập 22/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự vệ thương mại và bài học từ Mỹ
Tác giả: Nguyễn Đức Hạnh
Năm: 2016
17. Uyên Hương (2021), “EU gia hạn biện pháp tự vệ đối với thép nhập khẩu”, truy cập tại trang https://baotintuc.vn/ ngày truy cập 22/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: EU gia hạn biện pháp tự vệ đối với thép nhập khẩu
Tác giả: Uyên Hương
Năm: 2021
18. Học viện tài chính (2015), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nxb. Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Học viện tài chính
Nhà XB: Nxb. TàiChính
Năm: 2015
19. Phan Phương Nam và Kim Thị Hạnh (2020), “Biện pháp tự vệ trong phòng vệ phương mại”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp tự vệ trong phòngvệ phương mại”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Phan Phương Nam và Kim Thị Hạnh
Năm: 2020
20. Nguyễn Văn Ngọc (2007), Từ điển Kinh tế học, Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Kinh tế học
Tác giả: Nguyễn Văn Ngọc
Năm: 2007
21. Nguyễn Thường Lạng (2019), “Các nguyên tắc WTO với việc định dạng các tiêu chuẩn mới trong kinh doanh ở Việt Nam”, truy cập tại đường link http://www.trungtamwto.vn ngày truy cập 22/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc WTO với việc định dạngcác tiêu chuẩn mới trong kinh doanh ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thường Lạng
Năm: 2019
23. Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2008), Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế các hiệp định và nguyên tắc của WTO, tr.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp tự vệ trongthương mại quốc tế các hiệp định và nguyên tắc của WTO
Tác giả: Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Năm: 2008
24. Trung Tâm WTO (2016), Giới thiệu ngắn gọn về WTO, truy cập tại tranghttps://www.mic.gov.vn ngày truy cập 21/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu ngắn gọn về WTO
Tác giả: Trung Tâm WTO
Năm: 2016
25. Trung tâm WTO (2010), “Các câu hỏi liên quan đến cam kết về các biện pháp hạn chế số lượng xuất khẩu – nhập khẩu trong WTO”, truy cập tại trang https://trungtamwto.vn/ ngày truy cập 21/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các câu hỏi liên quan đến cam kết về các biệnpháp hạn chế số lượng xuất khẩu – nhập khẩu trong WTO
Tác giả: Trung tâm WTO
Năm: 2010
26. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế, Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2011
27. Vũ Thị Phương Thảo (2003), “Các biện pháp tự vệ trong thương mại – thực tiễn sử dụng ở một số nước trên thế giới và Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp tự vệ trong thương mại – thựctiễn sử dụng ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Phương Thảo
Năm: 2003
28. Trương Vĩnh Xuân và Nguyễn Việt Anh (2021), “Nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (số 21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả thựchiện quy định của pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại ở Việt Nam”, "Tạpchí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trương Vĩnh Xuân và Nguyễn Việt Anh
Năm: 2021
30. Patrick Juillard & Dominique carreau (1998), Manuel Droit international économique, Bản tiếng pháp, NXB Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Manuel Droit internationaléconomique
Tác giả: Patrick Juillard & Dominique carreau
Nhà XB: NXB Paris
Năm: 1998
14. PA Pham & Associates (2013), Khái quát về luật thương mại Mỹ, truy cập tại trang http://pham.com.vn ngày truy cập 22/09/2021 Link
1. Hiệp định chung về thuế quan thương mại GATT 1947, 2. Hiệp định về các biện pháp tự vệ GATT 1994 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w