1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chương 21

41 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thương Mại Quốc Tế
Trường học Trường Đại học XYZ
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Chương
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 839,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần VI Nền Kinh Tế Quốc Tế Chương 21 Thương Mại Quốc Tế Sự thật là những thứ khó chuyển dịch; và bất cứ thứ gì, có thể là mong muốn, khuynh hướng, hoặc các tiếng gọi từ khát vọng của chúng ta, thì ch[.]

Trang 1

Phần VI:

Nền Kinh Tế Quốc Tế

Trang 2

Chương 21

Thương Mại Quốc Tế

Sự thật là những thứ khó chuyển dịch; và bất cứ thứ gì, có thể là mong

muốn, khuynh hướng, hoặc các tiếng gọi từ khát vọng của

chúng ta, thì chúng vẫn không thể thay đổi hiện trạng của các

sự thật và bằng chứng

John Adams{729}

Khi thảo luận về hiệp định có nổi tiếng trong lịch sử tên là Hiệp Định Thương Mại Tự do Bắc Mỹ vào năm

1993 (NAFTA), tờ New York Times đã cho biết:

Bằng chứng phong phú đang hiện lên đã cho thấy rằng các việc làm đang dịch chuyển qua biên

giới một quá nhanh để có thể công bố liệu Mỹ là người thắng cuộc hay người thua

cuộc về việc làm từ hiệp định thương mại {730}

Đưa ra vấn đề về các việc này đã vướng vào các điều lầm tưởng chính yếu trong nhiều cuộc thảo luận về thương mại quốc tế - giả sử rằng một quốc gia phải là “kẻ thua cuộc” nếu quốc gia kia là "người chiến thắng" Nhưng thương mại quốc tế không phải là một cuộc thi thắng thua

Cả hai bên đều phải đạt được điều gì đó nếu không thì sẽ không có ý nghĩa gì để tiếp tục tiến hành giao dịch Cũng không cần thiết khi để các chuyên gia hoặc các quan chức chính phủ xác định xem liệu cả hai bên đều đạt được điều gì đó hay không Hầu hết thương mại quốc tế, đều giống với đa số thương mại quốc nội, cả hai đều được thực hiện bởi hàng

Trang 3

triệu cá nhân, mỗi cá nhân đó có thể xác định xem liệu mặt hàng có đáng với giá của nó và đáng mua hơn so với những thứ từ nơi khác hay không Đối với mặt việc làm, trước khi Hiệp Định Thương Mại Tự Do Bắc Mỹ(NAFTA) giữa Hoa Kỳ, Canada và Mexico có hiệu lực,thì đã có những dự đoán tai hại về “một âm hút khổng lồ” có thể đó là việc làm sẽ bị hút ra khỏi Mỹ và đến Mexico vì mức lương thấp hơn tại đó ​ Trên thực tế, số lượng việc làm của người Mỹ tăng lên sau khi có hiệp định, và tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ đã giảm xuống trong bảy năm tiếp theo, từ hơn 7% xuống còn 4%,​ {731}​mức thấp nhất từng được thấy trong nhiều thập kỷ. TạiCanada, tỷ lệ thất nghiệp cũng đã giảm, từ 11% xuống còn 7% trong cùng

7 năm ​{732}

Trang 4

Tại sao những gì đã xảy ra lại hoàn toàn quá khác với những gì đã được

dự đoán? Hãy nhìn lại điểm xuất phát Điều gì xảy ra khi một quốc gia nhất định, đang bị cô lập, trở nên thịnh vượng hơn ? Nước đó thường sẽ có xu hướng mua nhiều hơn bởi vì họ có nhiều cái để cần mua hơn Và điều gì sẽ xảy ra khi họ mua nhiều hơn? Sẽ có nhiều việc làm được tạo ra hơn cho các công nhân sản xuất các hàng hóa và dịch vụ bổ sung

Giả sư có hai quốc gia như vậy và nguyên tắc thì vẫn giữ nguyên Thật ra thì có giả sử có bao nhiêu quốc gia như vậy đi nữa và thì nguyên tắc vẫn giữ nguyên Sự thịnh vượng gia tăng thì thường cũng đồng nghĩa với việc làm cũnggia tăng

Không có số lượng việc làm cố định mà khiến cho người dân đất nước đó phải tranh giành. Khimột quốc gia trở nên thịnh vượng hơn, thì tất cả các quốc gia đó đều sẽ có

xu hướng tạo ra việc làm nhiều hơn Câu hỏi duy nhất được đặt ra là liệu thương mại quốc tế thường có xu hướng làm cho các quốc gia trở nên thịnh vượng hơn hay không

Mexico được xem là mối đe dọa chính trong việc lấy đi các việc làm khỏi Mỹ khi các rào cản thương mại được hạ thấp, sở dĩ xảy ra điều này bởi vì mức lương cho nhân công ở Mexico thấp hơn rất nhiều ​ Trong những năm trước khi có Hiệp Định Thương Mại Tự Do Bắc Mỹ (NAFTA), các việc làm trên thực tế là đã tăng lên theo hàng triệu tại Mexico​{733}​-cùng thời điểm mà việc làm cũng tăng lên hàng triệu tại Mỹ {734} ​Cả hai đất nước đều thấy được một sự gia tăng về thương mại quốc tế của họ, với sự gia tăng đặc biệt mạnh trong những hàng hóa được bao phủ bởi NAFTA {735}

Những sự thật cơ bản về thương mại quốc tế là không khó để có thể hiểu Nhưng điều mà khó để gỡ rối đó là tất cả các quan niệm sai lầm và biệt ngữ mà thường xuyên được đưa ra một cách lộn xộn tại các cuộc thảo luận ​Thẩm phán vĩ đại của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ Oliver Wendell Holmes đã nói, “chúng ta cần phải nghĩ đến nhiều thứ thay vì chỉ riêng những lời nói.”​ {736} Không nơi nào mà quan trọng hơn khithảo luận về thương mại quốc tế, nơi có rất nhiều từ ngữ gây hiểu lầm và

Trang 5

gợi cảm xúc được sử dụng để mô tả và làm lẫn lộn những thứ mà không quá khó để hiểu

Ví dụ, thuật ngữ mà được sử dụng để mô tả một thặng dư xuất khẩu như là một sự cân bằng “thuận lợi” của thương mại và thặng dư nhập khẩu như là một sự cân bằng “không thuận lợi” của thương mại trong nhiều thế kỷ trước Tại một thời điểm mà có một quan niệm được tin tưởng rộng rãi đó là nhập khẩu nhiều hơn là xuất khẩu sẽ làm một quốc gia trở nên nghèo khổ bởi vì sự khác biệt giữa nhập khẩu và xuất khẩu phải được chi trả bằng vàng, và việc thất thu vàng được coi là một sự mất mát của cải của quốc gia ​Tuy nhiên, vào năm 1776, kiệt tác cổ điển The Wealth of Nations của Adam Smith cho rằng sự giàu có thực sự của một quốc gia là bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ của nó, chứ không phải là nguồn cung vàng.

Có quá nhiều người vẫn chưa nắm bắt được đầy đủ ý nghĩa của điều

đó, ngay cả trong thế kỷ 21 Nếu hàng hóa và dịch vụ có sẵn cho người Mỹ nhiều hơn vì thương mại quốc tế, thì người Mỹ giàu có hơn, chứ không nghèo hơn, bất kể có “thâm hụt” hay “thặng dư” trong sự cân bằng thương mại quốc tế

Ngẫu nhiên thay, trong thời kỳ Đại Suy Thoái của những năm 1930, Mỹ có thặng dư xuất khẩu - một

sự cân bằng “thuận lợi” của thương mại - trong mỗi năm của thập niên thảm khốc đó.​ {737} ​Nhưng điều có thể có liên quan hơn đó là cả nhập khẩu và xuất khẩu đều thấp hơn nhiều so với thập kỷ thịnh vượng của những năm 1920. Sự suy giảm trong thương mại quốc tế là kết quả của việc nâng rào cản thuế quan ở các nước trên thế giới tại thời điểm mà các quốc gia cố gắng tiết kiệm việc làm trong nền kinh tế quốc nội của họ bằng cách tránh xa thương mại quốc tế, trong suốt một khoảng thời gian mà thất nghiệp lan rộng

Trang 6

Những chính sách như vậy đã được nhiều nhà kinh tế coi là không cần thiết một cách ngày càng trầm trọng và kéo dài sự suy thoái trên toàn thế giới Điều không cần thiết khi thu nhập quốc dân thực sự đang đi xuống đó là một chính sách làm cho nó đi xuống nhanh hơn nữa, bằng cách từ chối người tiêu dùng những lợi ích của việc có thể mua những gì

họ muốn ở mức giá thấp nhất

Những từ ngữ ma mãnh có thể làm cho tin xấu giống như tin tốt và ngược lại

Ví dụ, thâm hụt thương mại quốc tế gây nhiều than phiền tại Mỹ đã bị thu hẹp bởi một số tiền kỷ lục vào mùa xuân năm 2001, như tạp chí BusinessWeek đưa tin dưới tiêu đề: ​“Một lỗ hỗng thương mại đang thu hẹp trông có vẻ tốt đẹp tại Hoa Kỳ.” {738} ​Tuy nhiên, điều này đã xảy ra khi thị trường chứng khoán đamg sụt giảm, thất nghiệp tăng cao, lợi nhuận của các tập đoàn giảm, và tổng sản lượng của nền kinh tế Mỹ cũng giảm. Tin tức được cho là “tốt” về thương mại quốc tế được dự định là nhập khẩu sẽ giảm trong thời kỳ kinh tế xáo trộn Nếu đất nước rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, sự cân bằng thương mại quốc tế có thể đã biến mất hoàn toàn, nhưng may mắn thay người Mỹ đã bỏ qua nhiều tin tức “tốt” đó

Cũng như Hoa Kỳ đã có một sự cân bằng “thuận lợi” của thương mại trongmỗi năm của Cuộc Đại Suy Thoái của những năm 1930, sau đó họ đã trở thànhmột “quốc gia mắc nợ” kỷ lục trong suốt sự thịnh vượng bùng nổ của những năm

1990 Rõ ràng, những từ như vậy không thể được xem là giá trị danh nghĩa như các chỉ số về kinh tế của một quốc gia Chúng ta sẽ cần phải kiểm tra kỹ lưỡng hơn những từ đó có ý nghĩa gì trong ngữ cảnh

NỀN TẢNG CHO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Trong khi thương mại quốc tế diễn ra với cùng một lý do như các giao dịch khác diễn ra - bởi vì cả hai bên đều đạt được một điều gì đó - cần thiết để hiểu tại sao cả hai nước lại đạt được, đặc biệt là vì có rất nhiều chính trị gia và nhà báo mập mờ với những tuyên bố ngược lại

Trang 7

Lý do mà các quốc gia đạt được một điều gì đó từ thương mại quốc

tế thường được nhóm lại với nhau bởi các nhà kinh tế theo ba loại: lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh, và nền kinh tế của quy mô

Lợi Thế Tuyệt Đối

Đó là lý do vì sao người Mỹ mua chuối trồng ở vùng biển Caribbean Chuối có thể được trồng với chi phí rẻ hơn nhiều ở vùng nhiệt đới so với

ở những nơi mà sử dụng nhà kính và các phương tiện nhân tạo khác để duy trì môi trường ấm cần thiết Ở các quốc gia nhiệt đới, thiên nhiên cung cấp sự ấm áp miễn phí mà người dân ở những vùng khí hậu lạnh hơn phải tự cung cấp bằng các phương tiện tốn kém, chẳng hạn như ở

Mỹ Do đó người Mỹ mua chuối trồng ở vùng nhiệt đới, thay vì tự trồng chúng với chi phí cao hơn ở chính nước Mỹ

Đôi khi có những lợi thế mà một quốc gia có hơn một quốc gia khác hoặc trên toàn

thế giới, đó là

Trang 8

sự khắc nghiệt Ví dụ, việc trồng cà phê đòi hỏi sự kết hợp đặc biệt của

nhiều điều kiện khí hậu - ấm áp nhưng không quá nóng, cũng không phải

ánh sáng mặt trời chiếu thẳng xuống cây trực tiếp cả ngày, cũng không phải là quá ẩm hoặc ít ẩm, và chỉ được sử dụng một vài loại đất nhất định

mà không phải là những loại khác Kết hợp những yêu cầu này và các

yêu cầu khác cho một điều kiện trồng cà phê lý tưởng đã làm giảm một

cách đáng kể số nơi thích hợp nhất để sản xuất cà phê Vào đầu thế kỷ 21, hơn một nửa lượng cà phê trên toàn thế giới chỉ

được trồng ở ba nước đó là - Brazil, Việt Nam và Colombia Điều này

không có nghĩa là những nước khác không có khả năng để trồng cà phê

Chỉ là số lượng và chất lượng cà phê mà đa số các nước có thể sản xuất

sẽ không đáng với những tài nguyên mà sử dụng cho việc sản xuất, vì cà

phê mua được tại 3 nước này có giá thấp hơn Đôi khi một lợi thế tuyệt đối chỉ đơn giản là bao gồm việc được đặt vào đúng

nơi hoặc sử dụng đúng ngôn ngữ Ví dụ, tại Ấn Độ, thời gian chênh lệch 12 tiếng

so với Mỹ, đồng nghĩa với việc các công ty Mỹ mà muốn triển khai dịch vụ máy

tính 24/7 có thể thành lập một công ty máy tính tại Ấn Độ để luôn có sẵn các kỹ

thuật viên người Ấn Độ khi thời gian là ban đêm tại Mỹ và ban ngày tại Ấn Độ ​ Vì có nhiều người qua đào tạo tại Ấn Độ nói đượ tiếng Anh và Ấn Độ cũng chiếm 30% về số lượng kỹ sư

phần mềm trên toàn thế giới, {739}​sự kết hợp của nhiều kết quả này mang lại cho Ấn Độ một lợi thế cực kỳ

lớn trong việc cạnh tranh về dịch vụ máy tính tại thị trường Mỹ/ Tương tự vậy, các quốc gia Nam

Mỹ cung cấp trái cây và rau củ cho các quốc gia Bắc Mỹ khi mùa đông kéo đến tại

vùng Bắc bán cầu và mùa hè bắt đầu xuất hiện tại vùng Nam Bán Cầu Đây là tất cả những ví dụ của thứ mà các nhà kinh tế học gọi là “lợi

thế tuyệt đối”- tại một quốc gia, với nhiều lý do khác nhau, có thể sản xuất

ra một vài thứ mà rẻ hơn hoặc tốt hơn so với những nước khác Những lý

do đó có thể là vì khí hậu, vị trí địa lý, hoặc sự kết hợp những kỹ năng

của mỗi người dân của quốc gia Những người nước ngoài mua tiện ích của sản phẩm nước đó với gia thấp hơn, trong khi chính đất nước đó hiển

Trang 9

nhiên là có lợi từ một thị trường lớn hơn cho các sản phẩm hoặc dịch vụ của họ, và đôi khi từ sự thật mà một phần nguyên liệu cần thiết để tạo ra sản phẩm này là miễn phí, ví dụ là những thứ như sự ấm áp của khí hậu nhiệt đới hoặc đất giàu dinh dưỡng tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới

Có một lý do khác, nhưng ít ra quan trọng ngang với, lý do của thương mại quốc tế Đó là cái mà các nhà kinh tế học gọi là “lợi thế so sánh”

Lợi Thế So Sánh

Để minh họa những gì mang lợi thế so sánh, ta hãy giả sử rằng một quốc gia hoạt động cực hiệu quả đến nỗi nó có khả năng sản xuất bất cứ thứ gì với rẻ hơn một nước láng giềng Có bất kỳ lợi ích nào mà một quốc gia hoạt động hiệu quả hơn có thể đạt được từ các giao dịch với nước láng giềng của họ không?

Nhưng mà tại sao ? Tại vì có khả năng sản xuất bất cứ thứ gì rẻ hơn không giống với việc có khả năng

Trang 10

Sản xuất được tất cả mọi thứ đều rẻ hơn Khi có nguồn tài nguyên khan hiếm có công dụng thay thế, thì sản xuất một sản phẩm nhiều hơn đồng nghĩa với việc sản xuất sảnphẩm khác ít hơn Câu hỏi không chỉ đơn giản là nó đáng giá bao nhiêu, về cả phương diện tiền và tài nguyên, để có thể sản xuất ghế và tivi tại một nước, so với nước khác, mà là tốn bao nhiêu chiếc ghế để có thể đủ tiền sản xuất một cái tivi, khi mà các nguồn tài nguyên được chuyển từ việc được sử dụng để sản xuất cho một sản phẩm này sang để sử dụng cho một sản phẩm khác

Nếu sự đánh đổi đó là khác nhau giữa hai đất nước, thì nước mà có thể có mua được nhiều tivi hơn bằng cách đã được đề cập ở trên về sự sản xuất của những chiếc ghế, thì có thể thu lợi từ những giao dịch với đất nước mà sản xuất được nhiều ghế hơn bằng cách không sản xuất tivi Một ví dụ số có thể minh họa điểm này

Giả sử rằng một người công nhân Mỹ trung bình sản xuất được 500 chiếc ghếmột tháng, trong khi một người công nhân Canada sản xuất được 450, và cũngngười công nhân Mỹ đó có thể sản xuất 200 chiếc tivi trong một tháng trong khi một người công nhân Canada thì sản xuất được 100 Bảng sau đây minh họa sảnlượng sẽ là gì dưới những điều kiện này nếu cả hay nước đều sản xuất cả hai loại sản phẩm so với mỗi nước chỉ sản xuất mỗi loại sản phẩm riêng biệt Nếu cả hai bảng đều giả định tương đương nhau về sản lượng của mỗi công nhân và tương đương nhau về số công nhân - 500 người - hết lòng sản xuất những sản phẩm này tại mỗi nước:

Trang 11

Với cả hai nước cùng sản xuất cả hai sản phẩm, dưới cùng một điều kiện được xác định, thì sản lượng tổng hợp của họ sẽ là 190.000 chiếc ghế và 90.000 chiếc tivi mỗi tháng trên tổng số một ngàn công nhân

Điều gì sẽ xảy ra nếu hai quốc gia này, với việc Hoa Kỳ đưa tất cả các công nhân sản xuất ghế của vào sản xuất tivi, và Canada làm ngược lại ?

Sau đó, với sản lượng tương đương của mỗi công nhân như trước tại mỗi quốc gia, thì bây giờ họ có thể sản xuất tổng số của cả 2 loại sản phẩm nhiều hơn với cùng một số lượng một ngàn công nhân:

Trang 12

Mà không cần có bất cứ sự thay đổi trong năng suất của công nhântrong cả hai nước, tổng sản lượng bây giờ nhiều hơn trên cùng một số lượng công nhân, bây giờ sản lượng đó là 100,000 chiếc tivi thay vì 90,000 và 225,000 chiếc ghế thay vì 190,000 Đó là vì bây giờ mỗi nước sản xuất tại lĩnh vực mà họ có một lợi thế so sánh, bất kể nó có lợi thế tuyệt đối haykhông

Các nhà kinh tế học sẽ cho rằng nước Mỹ có một “lợi thế tuyệt đối” trong việc sản xuất cả hai loại sản phẩm nhưng Canada lại chỉ có một “lợi thế cạnh tranh” trong việc sản xuất ghế Vì thế, Canada hy sinh bằng việc sản xuất ít tivi lại và chuyển nguồn lực sang sản xuất ghế như Mỹ đã làm với một sự chuyểnđổi gần giống vậy Dưới những điều kiện này, thì người Mỹ có thể có đượcnhiều ghế hơn bằng việc sản xuất tivi và trao đổi chúng để lấy ghế của người

Trang 13

Canada , thay vì trực tiếp sản xuất ghế cho chính họ Ngược lại, người Canada

có thể có nhiều tivi hơn bằng cách sản xuất ghế và trao đổi chúng để lấy tivi làm

bởi người Mỹ, hơn là tự sản xuất tivi của chính họ Chỉ khi Mỹ sản xuất mọi thứ đều hiệu quả hơn Canada với cùng một chỉ số phần trăm tương đương

cho mỗi sản phẩm thì sẽ không đạt được gì từ việc giao dịch vì sẽ không có lợi thế so sánh Một tình huống như thế thì sẽ gần như bất khả thi để có thể thấy được trong thế giới

thật Những nguyên tắc tương tự được áp dụng ở mức độ cá nhân trong cuộc

sống thường nhật Ví dụ, Hãy tưởng tượng, rằng bạn là một bác sĩ phẫu thuật

nhãn khoa và bạn chi trả học phí đại học thông qua việc đi rửa xe thuê Và bây

giờ khi bạn đã có oto riêng, thì bạn nên tự rửa nó hay là nên thuê một người nào

khác để rửa nó thay cho bạn - ngay cả khi với kinh nghiệm có được trước đó

giúp bạn có thể làm việc này ít tốn thời gian hơn so với người mà bạn thuê ?

Hiển nhiên, nó không có ý nghĩa với bạn về mặt tài chính, hoặc với xã hội về

mặt hạnh phúc chung, trong việc bạn dành thời gian rửa một chiếc ô tô thay vì ở

trong một phòng điều hành để cứu chữa thị lực cho một ai đó Nói cách khác,

mặc dù bạn có một “lợi thế tuyệt đối” trong cả hai hoạt động, nhưng lợi thế so

sánh của bạn trong việc điều trị bệnh về mắt là tốt hơn rất nhiều Cốt lõi để có thể hiểu được cả hai ví dụ riêng biệt và các ví dụ từ giao dịch quốc

tế đó là thực tế kinh tế cơ bản của sự khan hiếm Bác sĩ phẫu thuật chỉ có 24 giờ trong

một ngày như những người khác Thời gian mà anh ta dùng để làm một việc nào đó

chính là thời gian mà bị lấy đi từ việc làm một cái gì đó khác Việc này cũng đúng với

phương diện những đất nước, mà không có một lượng không giới hạn của nhân công, thời gian, hay những nguồn lực khác, và phải làm một việc mà

Trang 14

phải đánh đổi bằng không làm một việc khác ​Đó là chính là ý nghĩa thực sự của các chi phí kinh tế - những lựa chọn thay thế bị bỏ qua, mà áp dụng cho bất kể nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản,

xã hội chủ nghĩa, phong kiến nhất định hay bất cứ điều gì và bất kể các giao dịch trong nước hay quốc tế.

Lợi ích của lợi thế so sánh là đặc biệt quan trọng tại các nước khó khăn Một vài người nói rằng:

Lợi thế so sánh có nghĩa là có một nơi dưới ánh nắng mặt trời tự do thương mại cho mọi quốc

gia, bất kể có khó khăn như thế nào, bởi vì người dân ở mọi quốc gia có thể sản xuất

một số sản phẩm tương đối hiệu quả hơn so với sản xuất các sản phẩm khác {740}

Lợi thế so sánh không chỉ là một giả thuyết mà là một sự thật quan trọng trong lịch sử của nhiều quốc gia Đã hơn một thế kỷ từ khi Vương Quốc Anh sản xuất thức ăn để cung cấp cho người dân của họ NgườiAnh từ lâu đã có đủ lương thực để sử dụng chỉ vì đất nước họ đã tập trung vào những nỗ lực sản xuất ra những thứ mà có lợi thế so sánh, như

là các dịch vụ sản xuất, dịch vụ vận chuyển và dịch vụ tài chính — và sử dụng số tiền thu được để mua thực phẩm từ các quốc gia khác Người tiêu dùng Anh cuối cùng được no đủ hơn và có nhiều sản phẩm được sản xuất hơn so với khi đất nước tự cung cấp nguồn lực thực cho chính họ

Vì chi phí thực tế của bất cứ thứ gì mà được sản xuất là chi phí của những thứ mà đáng lẽ ra được sản xuất với cùng một nỗ lực, nhưng như vậy thì sẽ khiến cho nền công nghiệp Anh tốn quá nhiều và phải giao dịch thương mại để chuyển đủ nguồn lực vào nông nghiệp để có thể tự cung tự cấp thực phẩm ​Họ tốt hơn hết là nên lấy thức ăn từ một quốc gia khác có lợi thế so sánh trong nông nghiệp, ngay cả khi nông dân của nước khác không hiệu quả như nông dân Anh.

Những sự đánh đổi như vậy là không giới hạn chỉ ở các nước công nghiệp hóa Khi cacao bắt đầu được trồng ở các trang trại tại Tây Phi, đây là những nơi

mà sau này sản xuất hơn một nửa nguồn cung ca cao của thế giới, các nông dân châu Phi bắt đầu giảm lượng lương thực mà họ trồng nhằm mục đích kiếm đượcnhiều tiền hơn qua việc trồng cây ca cao trên đất của họ, thay vì trồng các cây lương thực Và kết quả là, lượng thu nhập tăng lên cho phép họ sống nhờ bằng

Trang 15

thực phẩm được sản xuất ở nơi khác ​ Những thực phẩm này không chỉ bao gồm thịt và rau củ trồng tại vùng, mà cũng bao gồm cả gạo nhập khẩu và trái cây, cá đóng hộp, những mặt hàng mà được coi là xa xỉ tại thời điểm đó {741}

Kinh Tế Quy Mô

Mặc dù lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh là những lý do chủ chốt cho những lợi ích từ thương mại quốc tế, nhưng chúng không phải là những lý

do duy nhất Đôi khi một sản phẩm nhất định yêu cầu một khoản đầu tư khổng lồ về máy móc, về kỹ thuật cần thiết để tạo ra máy móc và sản phẩm, cũng như trong việc phát triển một lực lượng lao động chuyên biệt, mà sảnlượng đầu ra có thể được bán với mức giá thấp đủ để cạnh tranh chỉ khi một

số lượng lớn sản lượng được sản xuất tỷ lệ, như được bàn luận trong Chương 6

Trang 16

Đã được dự đoán rằng sản lượng tối thiểu của oto mà cần thiết để đạt được một mức phí hiệu quả

cho mỗi xe đó là vào khoảng 200.000 và 400.000 oto mỗi năm.​ {742}​Sản xuất ra số lượng khổng lồ như vậy

không phải là một vấn đề nghiêm trọng tại một nước to lớn và giàu có như Mỹ, nơi mà mỗi hãng trong số 3

hãng sản xuất oto lớn là Ford, General Motors và Chrysler đã có ít nhất một dòng oto mà bán được trên

400.000 chiếc, giống như Toyota, trong khi xe bán tải dòng F của Ford đã từng đạt doanh số 800.000 chiếc

hàng năm ​{743} ​Nhưng, tại một nước mà với dân số ít hơn nhiều - ví dụ như là Úc - thì không có cách nào

để có thể bán đủ số lượng xe trong phạm vi nội địa để mà có thể trang trải chi phí đắt đỏ của việc phát triển

những chiếc oto từ đầu đến khi bán được với mức giá đủ thấp để cạnh tranh với oto được sản xuất với số

lượng lớn hơn tại Mỹ và Nhật Bản Số lượng xe bán được lớn nhất của bất kỳ hãng sản xuất nào tại Úc chỉ bằng khoảng một nửa số lượng mà cần thiết để thu về chi phí lợi ích của kinh tế quy mô ​ {744} ​Mặc dù oto được sở hữu tính theo bình quân đầu người ở Úc là cao hơn Mỹ, nhưng dân số Mỹ là nhiều hơn Úc gấp hàng vạn lần {745} Ngay cả khi những chiếc xe mà được sản xuất tại Úc nhưng lại được pháp

triển ở các nước khác - như là trường hợp của Toyota và Mitshubishis của Nhật

và Ford và General Motors của Mỹ Thì chúng chủ yếu là xe oto Nhật Bản hoặc

Mỹ do Úc sản xuất, có nghĩa là các công ty ở Nhật Bản và Mỹ đã trả tiền cho

các công trình kỹ thuật, các nghiên cứu và các chi phí khác để tạo ra những

chiếc xe này Nhưng thị trường Úc không đủ lớn để đạt được hiệu quả về kinh

tế quy mô trong việc sản xuất oto chính hãng của người Úc ngay từ đầu với chi

phí mà cho phép họ có thể cạnh tranh trên thị trường với những xe nhập khẩu

khác Mặc dù Úc là một quốc gia hiện đại và thịnh vượng, với sản lượng đầu ra trên một người cao hơn

Vương Quốc Anh, Canada hay Mỹ, nhưng dân số ít ỏi của họ đá giới hạn 1/5 sức mua tổng hợp của họ so

với Nhật Bản và 1/17 so với Mỹ {746}

Việc xuất khẩu đã cho phép một số nước đạt được kinh tế quy mô, điều

mà không thể khả thi nếu chỉ tính riêng doanh thu quốc nội Một số doanh nghiệp có doanh thu chủ yếu từ bên ngoài biên giới quốc gia Ví dụ, Heineken

không phải phụ thuộc vào thị trường Hà Lan nhỏ bé trong việc kinh doanh bia, vì họ đã bán bia tại 170 nước khác Nokia cũng bán điện thoại của họ trên khắp thế giới, chứ không chỉ riêng ở thị trường Phần Lan nội địa ​ Tạp chí

Trang 17

The Economist nổi tiếng của Anh bán được các bản nhiều gấp ba lần tại Mỹ nếu so với tại Anh.​ {747}​Toyota, Honda, và Nissan thu đa số lợi nhuận của họ từ thị trường Bắc Mỹ, ​{748}​và các hãng sản xuất oto của Nhật nói chung vào năm 2006 đã bắt đầu sản xuất nhiều oto hơn bên ngoài Nhật Bản so với chính ở trong Nhật Bản {749} ​Những nước như Hàn Quốc và Đài Loan phụ thuộc vào thương mại quốc tế để họ có thể sản xuất nhiều sản phẩm ở quy mô vượt xa những gì mà có thể bán được ở trong nước.

đầu tư lớn về máy móc và nghiên cứu, thì chỉ có một vài nước lớn

Trang 18

và thịnh vượng mới có thể đạt tới mức sản lượng mà cần thiết để hoàn trả lại tất cá các chi phí của riêng thị trường quốc nội Thương mại quốc tế tạo

ra các hiệu quả to lớn bằng cách cho phép các nền kinh tế quy mô trên khắp thế giới được hoạt động, ngay cả ở những nước mà thị trường quốc nội không đủ lớn để có thể tiêu thụ tất cả sản lượng khổng lồ từ các ngành công nghiệp sản xuất, cũng như tận dụng lợi thế tuyết đối của mỗi nướchoặc lợi thế so sánh

Như trong những trường hợp khác, chúng ta đôi khi có thể hiểu được các lợi ích của một cách làm cụ thể qua việc thấy được những gì xảy ra khi nếu như trường hợp đó được thực hiện theo một cách khác Trong nhiều năm, Ấn Độ đã khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ mà duy trì các rào cản khỏi việc nhập khẩu

mà có thể ảnh hưởng đến họ Tuy nhiên, việc gở bỏ các sự hạn chế nhập khẩu vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 đã thay đổi tất cả ​ Như tờ Far Eastern Economic Review đã viết:

Cơn ác mộng của ngành công nghiệp đồ chơi Ấn Độ xuất hiện dưới dạng những con búp bê bằng

nhựa có kích thước nhỏ Chúng được làm tại Trung Quốc, chúng hát được một bài hát

tiếng Hindi nổi tiếng, và có giá khoảng 100 Rupees ($2) Các bậc cha mẹ Ấn Độ đã

mua chúng tại các chợ trên khắp cả đất nước, khiến cho các công ty đồ chơi địa

phương bị đóng băng Giống nhau về mặt tốc độ, quy mô và công nghệ liên quan đến

việc sản xuất búp bê – đã mang lại kết quả là giá thấp tận đáy của nó – điều này vượt

quá khả năng của họ Trong phạm vi như đồ chơi và giày, Trung Quốc đã phát triển

một nền kinh tế quy mô khổng lồ trong khi đó Ấn Độ lại giữ cho các nhà sản xuất của

họ ở mức nhỏ một cách giả tạo {750}

Các vấn đề kinh tế của các nhà sản xuất đồ chơi tại Ấn Độ theo hình thức thương mại tự do, đã bị làm cho lu mờ bởi một vấn đề nghiêm trọng hơn được tạo ra bởi sự hạn chế nhập khẩu trước đó mà đã khiến hàng trăm triệu người trong một nước rất nghèo khó phải trả những mức giá cao không cầnthiết cho một phạm vi lớn các sản phẩm vì những chính sách bảo vệ những nhà sản xuất quy mô nhỏ khỏi cuộc cạnh tranh với những nhà sản xuất quy

mô lớn hơn tại quê nhà và nước ngoài May mắn thay, qua nhiều thập kỷ của

Trang 19

những chính sách như vậy cuối cùng cũng đã kết thúc tại Ấn Độ trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20

Hạn Chế Thương Mại Quốc Tế

Trong khi có nhiều lợi thế về thương mại quốc tế cho thế giới nói chung và cho các quốc gia nói riêng, như tất cả dạng của những sự hiệu quả kinh tế lớn hơn, bất

kể là trong nước hay nước ngoài, nó thay thế cho những cách làm thiếu hiệu quả hơn Cũng giống như sự ra đời của oto mà đã gây ra một vài mất mát cho ngành công nghiệp ngựa-và-xe độc mã và sự lan tỏa của những chuỗi siêu thị khổng lồ khiến cho nhiều cửa hàng tạp hóa nhỏ trong khu dân cư đi vào phá sản, vì thế việc nhập khẩu những thứ mà những nước khác có một lợi thế cạnh tranh cũng tạo ra các mất mát trong thu nhập và việc làm ở những ngành công nghiệp nội địa tương ứng

Mặc dù những lợi ích kinh tế được bù lại thường lớn hơn nhiều so với những mất mát, về mặt chính trị thì hầu như không thể tránh khỏi việc sẽ có các sự lên tiếng mạnh mẽ để có được sự bảo vệ chính phủ khỏi những cạnh tranh từ nước ngoài thông qua nhiều hình thức hạn chế khác nhau đối với hàng nhập khẩu Nhiềungười trong số những sự ngụy biện lâu đời nhất trong kinh tế đã không còn thể biện minh cho những hạn chế thương mại quốc tế này Mặc dù Adam Smith bác bỏ hầu hết

Trang 20

những lời ngụy biện này cách đây hơn hai thế kỷ, theo như các nhà kinh tế

đã lo ngại, những lời ngụy biện như vậy vẫn còn tồn tại về mặt mặt chính trị và vẫn còn mạnh mẽ đến ngày nay

Ví dụ, một vài người đã tranh luận rằng, những quốc gia giàu có không thể cạnh tranh với những quốc gia mà có lương thấp hơn nhiều Những nước khókhăn hơn, mặt khác, có thể nói là họ phải bảo vệ “nền công nghiệp non trẻ” của họ khỏi những cuộc cạnh tranh với những quốc gia công nghiệp phát triển hơn chođến khi nền công nghiệp địa phương thu thập đủ kinh nghiệm và biết được cách

để canh tranh ngang bằng Ở tất cả các quốc gia, có những lời than phiền rằng những quốc gia khác đã không công bằng trong những luật lệ về xuất nhập khẩu

Ví dụ, một lời than phiền về sự bất công mà được nghe nhiều nhất đó là một vài nước “bỏ” những sản phẩm của họ trên thị trường thương mại quốc tế với giá rẻ một cách giả tạo, để chịu lỗ trong thời gian ngắn nhằm mục đích có được một thị trường rộng lớn hơn mà sau này sẽ được khai thác bằng cách tăng giá sau khi có được một vị trí độc quyền

Đối với những sự phức tạp trong đời sống thực, thì hiếm khi có bất

cứ một sự tranh luận nào mà luôn đúng 100% hoặc luôn sai 100% Tuynhiên, khi nói đến các cuộc tranh luận về hạn chế thương mại quốc tế, thì

đa số các trang luận là giả dối phần lớn thời gian Hãy để chúng ta cùng kiểm chứng chúng lần lượt từng cái một, bắt đầu với nguy biện về mức lương cao

Sự Ngụy Biện Về Mức Lương Cao

Tại một nước giàu có và thịnh vượng như Mỹ, có một sự ngụy biện mà nghe

có vẻ đáng tin cậy đó là sản phẩm của người Mỹ không thể cạnh tranh với những sản phẩm được sản xuất bởi những công nhân với mức lương thấp hơn tại các nước khó khăn hơn, một vài trong số những công nhân đó được trả một phần rất nhỏ của những gì mà những công nhân người Mỹ được trả Nhưng, mặc dù điều này nghe có vẻ đáng tin cậy đến mức nào thì cả lịch sử và các học thuyết kinh tế

Ngày đăng: 03/02/2023, 22:33

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w