Chương 9 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG Về chung, “thị trường” luôn khôn khéo hơn những người khôn khéo nhất bên trong nó Robert L Bartley{272} Mặc dù những doanh nghiệp vì lợi nhuận đ[.]
Trang 1Chương 9
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ KINH
TẾ PHI THỊ TRƯỜNG
Về chung, “thị trường” luôn khôn khéo hơn những người khôn khéo nhất
bên trong nó
Robert L Bartley{272}
Mặc dù những doanh nghiệp vì lợi nhuận đã trở thành một trong những tổ chức thông dụng nhất trong nền công nghiệp hiện đại, sự hiểu rõ về hoạt động nội bộ của những doanh nghiệp và cách chúng gia nhập vào nền kinh tế tổng thể xã hội là không thường gặp như vậy Sự phổ biến của những doanh nghiệp kinh doanh trong nhiều nền kinh tế quanh thế giới đã làm cho chúng ta cho rằng sự tồn tại của chúng là dĩ nhiên mà không đặt câu hỏi tới vấn đề vì sao cách cung cấp những nhu yếu phẩm và tiện nghi cho cuộc sống này lại được chọn thay vì những cách khác để thực hiện những chức năng kinh tế
Qua lịch sử, doanh nghiệp tư bản chỉ là một trong những nỗ lực sản xuất kinh tế Loài người đã sống hàng ngàn năm mà không cần tới doanh nghiệp
Trang 2Những bộ tộc đã săn bắn và bắt cùng nhau Trong thời kì phong kiến, cả nông
nô lẫn quý tộc đều không phải là doanh nhân Gần đây hơn ở những thế kỉ gần
đây, hàng triệu gia đình ở Mỹ đã tự cung tự cấp bằng những nông trại, tự trồng
trọt và thu hoạch, tự xây nhà và may quần áo Thậm chí gần đây hơn, đã tồn tại
những nhóm hợp tác như Israeli kibbutz, họ tự nguyện cung cấp dịch vụ và hàng hóa cho nhau mà không sự lưu thông tiền Vào thời kì của Liên bang Xô
Viết, một kiểu hình doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn mới được áp dụng với chức năng không khác gì với một doanh nghiệp tư bản, nhưng thực chất lại
không hề giống với một doanh nghiệp tư bản về cả động cơ và ràng buộc Thậm chí trong những quốc gia nơi mà những doanh nghiệp tìm lợi nhuận là
thường lệ, vẫn tồn tại những tổ chức phi lợi nhuận như các đại học, tổ chức, bệnh
viện, dàn nhạc và bảo tàng, chúng cung cấp những dịch vụ xã hội và hàng hóa khác
nhau thêm cho những doanh nghiệp nhà nước như bưu điện và thư viện Mặc dù một số những tổ chức này cung cấp hàng hóa và dịch vụ khác với những doanh
nghiệp bình thường, số còn lại cung cấp dịch vụ và hàng hóa giống nhau Những trường đại học xuất bản sách và tổ chức những sự kiện thể thao,
mang lại hàng triệu dollar từ vé thu Tạp chí National Geographic được xuất
bản bởi một tổ chức phi lợi nhuận cũng như các tạp chí được xuất bản bởi
Smithsonian Institution và một số các tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận (“think
tanks”) như Brookings Institution, American Enterprise Institute va Hoover Institution Một số chức năng của một Bộ Xe cơ giới như gia hạn bằng lái cũng
được xử lý bởi American Automobile Association—một tổ chức phi lợi nhuận, họ
cũng sắp xếp những chuyến bay và chuyến tàu như những tổ chức du lịch dân
dụng Tóm lại, những hoạt động mang tính tìm lợi nhuận và của những tổ chức
phi lợi nhuận là trùng với nhau Cũng như một số hoạt động của một số bộ phận
Trang 3chính phủ, cả ở địa phương, quốc gia hay quốc tế Hơn thế nữa, nhiều hoạt động có thể chuyển từ kiểu tổ chức này qua kiểu khác qua thời gian
Ví dụ như dịch vụ chuyên chở trong thành phố, đã từng được cung cấp bởi những doanh nghiệp tư nhân ở Mỹ trước khi chính phủ tiếp quản hệ thống xe đẩy, buýt và điện ngầm Cũng có nhiều hoạt động chuyển dịch ngược lại trong thời gian gần đây, khi những hoạt động chức năng của chính phủ như thu gom rác và quản lý nhà tù đã chuyển qua cho những doanh nghiệp tư nhân, cũng như vậy nhiều chức năng của những trường đại học công lập như điều hành những nhà sách trong trường đã được chuyển cho những công ty như Follet or Barnes & Noble Những tổ chức học viện phi lợi nhuận cũng đã được bổ sung bởi những trường đại học vì lợi nhuận như University of Phoenix, họ không chỉ
có nhiều sinh viên hơn bất kì những tổ chức học viện phi lợi nhuận nào mà còn một số hệ thống đại học toàn bang
Sự tồn tại song song của nhiều loại tổ chức làm những việc tương
tự hay giống nhau tạo điều kiện cho những cái nhìn vào ảnh hưởng của những cách tổ chức các hoạt động kinh tế khác nhau tới những sự kích thích và ràng buộc mà những người ra quyết định trong những tổ chức này phải đối mặt, và cách điều đó tiếp tới ảnh hưởng đến hiệu suất của các hoạt động của họ và sự ảnh hưởng của những doanh nghiệp này tới kinh tế tổng thể và xã hội
Những quan niệm sai lầm về doanh nghiệp là gần như không thể tránh khỏi trong một xã hội nơi mà phần lớn mọi người chưa từng học hay sở hữu một doanh nghiệp Trong một xã hội nơi mà phần lớn mọi người đều là nhân viên hay người tiêu dùng, rất dễ nghĩ tới những doanh nghiệp là “họ”—như những tổ chức không liên quan mà sự hoạt động nội bộ là gần như không thể biết tới và
sơ hữu trong tay những số tiền không tưởng
Trang 4NHỮNG DOANH NGHIỆP ĐỐI ĐẦU VỚI
Trang 5NHỮNG NHÀ SẢN XUẤT PHI THỊ TRƯỜNG
Những cách sản xuất hàng hóa thị trường và dịch vụ đã đi trước thị trường và doanh nghiệp hàng thế kỉ, thậm chí là thiên nhiên kỉ, câu hỏi hiển nhiên được đặt ra là: Tại sao những doanh nghiệp này đã thay thế những nhà sản xuất phi thị trường tới một quy mô lớn trên nhiều quốc gia trên thế giới đến vậy?
Việc những doanh nghiệp đã hầu hết thay thế hết những cách tổ chức sản xuất hàng hóa và dịch vụ khác cho thấy ưu thế của nó về chi phí được phản ánh lên giá là đáng kể Đây không chỉ là kết luận của những nhà kinh tế tin vào thị
trường tự do Trong The Communist Manifesto, Marx và Engels đề cập tới doanh nghiệp tư bản: “Cái giá hàng hóa thấp của nó chính là khẩu đại bác công phá toàn bộ tường thành của Trung Hoa.”{273}Dù thế điều này không có nghĩa là doanh nghiệp không thể bị phê bình, lúc này hoặc về sau này
Bởi có rất ít người muốn trở lại thời kì phong kiến hoặc những ngày tháng
tự cung tự cấp từ những trang trại gia đình, doanh nghiệp nhà nước là hình thức thay thế chính cho doanh nghiệp tư bản ngày nay Những doanh nghiệp nhà nước là thường là hiện tượng cá biệt hoặc được bao gồm trong một hệ thống tổ chức do chính phủ sử hữu và dựa trên phương thức sản xuất chính phủ, tiêu biểu là chủ nghĩa xã hội Tồn tại nhiều học thuyết về mặt tốt và xấu của cả hai cách sản xuất, thị trường và phi thị trường Nhưng vấn đề chính thực chất chính
là hồ sơ theo dõi của những nhà sản xuất thị trường và phi thị trường
Trên lý thuyết, kinh tế thị trường hoặc phi thị trường có thể được tiếp tục bởi những doanh nghiệp cạnh tranh hoặc những doanh nghiệp độc quyền Thế nhưng trong thực tế, những doanh nghiệp cạnh tranh hầu hết bị giới hạn trong kinh tế thị trường trong khi chính phủ thường thành lập những tổ chức được ủy nhiệm một công việc duy nhất
Trang 6Sự độc quyền là kẻ thù của hiệu suất, không cần biết dưới chế độ tư bản hay xã hội chủ nghĩa Điều khác biệt giữa hai chế độ này là sự độc quyền là hoàn toàn bình thường dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Thậm chí trong một nền kinh tế pha trộn, với một số hoạt động kinh tế được thi hành bởi chính phủ va còn lại bởi công nghiệp tư nhân, hoạt động của chính phủ thường là độc quyền, còn trong thị trường tư nhân thường được thi hành bởi những công ty đối đầu
Bởi vậy khi một cơn bão, lụt hay thiên tai nào đánh vào một phần của Mỹ, viện trợ khẩn cấp thường tới từ cả Bộ quản lý nguy cấp liên bang (FEMA) và nhiều công
ty bảo hiểm tư nhân với khách hàng bị mất nhà cửa và tài sản FEMA mang tiếng là luôn chậm chạp và kém hiệu quả hơn những công ty bảo hiểm tư nhân rất nhiều Một công ty bảo hiểm không thể chậm chạp trong việc đưa tiền tới tay những người giữ chính sách của họ hơn những công ty bảo hiểm đối thủ khác Việc này không chỉ làm cho khách hàng có xu hướng chuyển qua hãng bảo hiểm khác, khi mà một hãng lê lết đễ đưa tiền cho khách hàng trong khi đối thủ đã hoàn tất chuyển tiền tới tay hàng xóm của họ, lời nói về sự khác biệt này sẽ lan ra như cháy rừng, làm cho hàng triệu người chuyển hàng tỉ dollar tiền bảo hiểm từ công ty kém hiệu quả tới công ty hiệu quả hơn
Một bộ phận chính phủ thì lại không phải đối mặt với áp lực này Không cần biết FEMA có bị phê bình cỡ nào về thất bại trong việc đưa viện trợ tới những nạn nhân thiên tai trong thời gian ngắn, không hề có bộ chính phủ đối thủ nào mà những người này có thể chuyển qua Hơn thế nữa, những người điều hành những bộ phận này được trả lương cố định chứ không phải trả theo tốc độ hay chất lượng viện trợ tới những người bị ảnh hưởng bởi thiên tai Trong những trường hợp hiếm gặp khi một nhà độc quyền chính phủ bị bắt buộc phải cạnh tranh với những doanh nghiệp
Trang 7tư nhân làm việc giống họ, kết cục thường như là sự việc của cơ quan bưu chính chính phủ của Ấn Độ:
Khi Mumbai Region Postmaster General A.P Srivastava tham gia vào hệ thống bưu chính 27 năm
trước, những người đưa thư thường xuyên thuê thêm những người lao động để giúp
đưa đống thư mà họ cần cả ngày mới đưa hết
Ngày nay,những công ty chuyển phát nhanh tư nhân như FedEx corp và United
Parcel Service Inc đã nắm lấy hơn nửa ngành đưa hàng quốc gia Điều này
có nghĩa là hàng ngàn người phát thơ kết thúc xong công việc của họ trước
giờ ăn trưa Ông Srivastava không thể sa thải những nhân viên thừa nên
ông đã bỏ nhiều thời gian nghĩ ra những âm mưu để giữ cho nhân viên của
ông ta bận rộn Ông ta cấm bán hành tại những bưu điện ở Mumbai với lý
do là hành quá dễ hư Thay vào đó, ông đang nghĩ tới việc quảng bá dầu
dưỡng tóc và dầu gội {274}
India Post đã từng xử lý 16 tỉ thư tín các loại trong năm 1999, nhưng đến năm 2005 sau khi FedEx và UPS vào cuộc thì chỉ còn 8 tỉ {275} Việc cạnh tranh sinh ra cả kẻ thua và người thắng là điều hiển nhiên nhưng điều này không có nghĩa là những hàm ý của nó được hiểu và chấp nhận rộng rãi Một phóng
viên của tờ New York Times vào năm 2010 đã tìm ra một “nghịch lý” về những công ty hiệu suất cao sản xuất hộp trưng bày bảo tàng của Đức, ông
ta cho rằng công ty này “gây cuộc sống khó khăn” cho những nhà sản xuất mặt hàng tương tự ở những nước khác Những nhà sản xuất đến từ Đức cũng tìm thấy thành công ở những mặt hàng khác nhưng “một số thành công của họ tới với giá là những quốc gia khác như Hy Lạp, Tây Ban Nha và Portugal.” Kết luận quá quen thuộc của ông ta: “Vấn đề mà những người đưa
ra chính sách phải đấu với là làm thế nào để sửa lại những sự mất cân bằng kinh tế mà tính hiếu thắng của người Đức tạo ra.” {276}
Tại Mỹ, qua nhiều thập kỉ một sự kế nhiệm của những nhà bán lẻ giá thấp đã bị quở trách vì họ đã đẩy những đối thủ với giá cao hơn ra khỏi thị
Trang 8trường “Robinson-Patman Act of 1936” thỉnh thoảng được gọi là “the anti-Sears, Roebuck Act” và nghị sĩ quốc hội Patman cũng đã phản đối những người điều hành chuỗi tạp hóa A & P Vào thế kỉ 20, Wal-Mart cũng
đã thừa kế vai kẻ xấu vì nó làm những đối thủ với giá cao rất khó sống sót Còn ở Ấn Độ, những đối thủ giá cao hơn chính là một bộ phận chính phủ, luật lệ cứng nhắc của nó—ví dụ như không được sa thải công nhân không cần thiết— làm việc điều chỉnh còn khó hơn so với một doanh nghiệp tư nhân đang cố sống sót trước đối thủ cạnh tranh mới
Từ góc nhìn tổng thể xã hội, vấn đề ở đây không phải là chất lượng hay hiệu suất cao hơn mà chính là sự chậm chạp và hiệu suất thấp Sự chậm chạp là thường gặp đối với cả người dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, nhưng thị trường đặt ra được một cái giá chính xác cho sự chậm chạp này Vào đầu thế kỉ 20,
cả hai công ty Sears và Montgomery Ward đều đã chần chừ hoạt động ngoài những cửa hàng sau nhiều thập kỉ thành công bán chỉ từ catalog Tận tới những năm
1920, khi những chuỗi cửa hàng đối thủ bắt đầu lấn vào lợi nhuận của
họ và những hàng đỏ bắt đầu xuất hiện trong sổ cái của họ thì họ mới buộc phải tự mình trở thành những chuỗi cửa hàng Trong năm 1920, Montgomery Ward mất gần $10 triệu và Sears nợ tới $44 triệu {277}—tất
cả số tiền này là có giá hơn rất nhiều so với ngày nay Dưới chủ nghĩa
xã hội, Sears và Montgomery Ward đã có thể vẫn chỉ cần bán hàng qua thư mãi mãi, và sẽ có rất ít yếu tố kích thích chính phủ chi tiền xây nên những chuỗi cửa hàng đối thủ để làm phức tạp cuộc sống mọi người
Nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản khác nhau không chỉ về sản lượng mà còn khác nhau về chất lượng Tất cả mọi thứ
từ Ô tô và camera tới dịch vụ nhà hàng và dịch vụ hàng không khét tiếng là
Trang 9có chất lượng rất thấp tại Liên bang Xô Viết Đây cũng không phải là một
sự trùng hợp ngẫu nhiên Những yếu tố kích thích ở đây là rất khác biệt, một là làm khách hàng hài lòng để sống sót về tài chính, còn kia là số lượng sản xuất được quy hoạch trước bởi chính phủ Người tiêu dùng trong kinh tế thị trường không sẽ chỉ nhìn vào số lượng mà còn nhìn vào chất lượng Nhưng ủy ban quy hoạch trung ương sẽ bị quá tải và không thể giám sát hết được hàng triệu mặt hàng khác nhau nên họ không giám sát được gì nhiều hơn tổng sản lượng
Chất lượng thấp này là kết quả của những yếu tố kích thích, chứ không phải vì những đặc trưng riêng biệt của người Nga, điều này được thấy rõ với sự xuống cấp chất lượng ở Mỹ và Tây Âu khi thị trường tự do bị thay thế bởi kiểm soát giá thuê nhà hay bất cứ sự kiểm soát giá hay phân
bổ chính phủ nào Cả chất lượng dịch vụ tốt và tệ đều có thể xuất hiện trong cùng một quốc gia, khi mà trong quốc gia đó có nhiều yếu tố kích thích khác nhau, như một người bán hàng ở Ấn Độ nhận ra:
Mỗi khi tôi ăn ở cafe lề đường hay dhaba, dĩa cơm của tôi sẽ tới trong đúng 3 phút Nếu tôi gọi
thêm roti, nó sẽ tới trong 30 giây Trong một cửa hàng sari, chủ cửa hàng cho tôi xem
tới cả trăm sari mặc dù tôi không mua cái nào Sau khi tôi đi, ông ta sẽ phải gấp lại từng
cái sari một, mặc dù không ai cảm ơn, và đặt chúng lại lên kệ Trái ngược lại, mỗi lần tôi
đi mua vé tàu, trả phí điện thoại hay rút tiền từ một ngân hàng quốc hữu, tôi bị đối xử
như nỗi phiền và phải đợi một hàng dài Cửa hàng đó đã cho tôi dịch vụ rất tốt bởi vì
người chủ cửa hàng biết rằng sự tồn tại của cửa hàng lệ thuộc vào việc đó Nếu ông ta
lịch sự và cung cấp hàng chất lượng tốt với giá cạnh tranh, khách hàng của ông sẽ báo
đáp lại Nếu không, khách hàng của ông ta sẽ nhanh chóng chạy qua cửa hàng bên
cạnh Không hề có sự cạnh tranh giữa những đường sắt, điện thoại hay ngân hàng và
nhân viên của họ không thể đặt khách hàng lên hàng đầu {278}
Tạp chí The Economist của London cũng chỉ ra rằng ở Ấn Độ một người có thể “nhìn những nhân viên ngân hàng tám chuyện với nhau trong khi khách hàng xếp hàng dài ra tận đường.” {279} Những so sánh về những tổ chức chính phủ và tổ
Trang 10chức tư nhân thường bỏ qua việc sở hữu và điều khiển không phải là những khác biệt duy nhất của chúng Những tổ chức chính phủ gần như luôn luôn là độc quyền, trong khi tổ chức tư nhân thường có đối thủ cạnh tranh Sự cạnh tranh giữa những
tổ chức chính phủ với chức năng giống nhau bị miêu tả một cách tiêu cực là “sự lặp lại thừa thãi.” Việc những khách hàng bực bội đang đứng đợi có cho rằng một ngân hàng thay thế là sự lặp lại thừa thãi hay không là một câu hỏi khác Sự tư nhân
hóa đã đưa ra một câu trả lời cho câu hỏi đó tại Ấn Độ, như Wall Street
lớp trung lưu đang ngày càng tăng đang hầu hết đều sử dụng những ngân
Trong khi một số doanh nghiệp tư nhân ở một vài quốc gia có thể và
có cung cấp dịch vụ không tốt, hay giảm chất lượng trong một thị trường tự
do, họ mạo hiểm sự tồn tại của chính họ Khi ngành công nghiệp thức ăn đóng hộp mới nổi lên vào đầu thế kỉ 19 ở Mỹ, những nhà sản xuất thường pha trộn thức ăn của họ với những chất rẻ hơn Ví dụ như cải ngựa, thường được bán trong những chai có màu để giấu đi sự pha trộn Nhưng khi Henry J Heinz bắt đầu bán cải ngựa không pha trộn trong chai không
có màu,{281} điều này cho ông ta một lợi thế quyết định hơn những đối thủ,
họ lúc này bị ép qua một bên trong khi Heinz trở thành một khổng lồ của nền công nghiệp Mỹ, vần hoạt động mạnh mẽ trong thế kỉ 21 và cũng rất thành công Khi công ty H.J Heinz được bán vào năm 2013, giá của nó là
$23 tỉ {282}
Cũng tương tự công ty xử lý thức ăn của Anh Crosse & Blackwell, không chỉ bán thức ăn chất lượng cao ở Anh mà cả ở Mỹ Nó cũng tiếp tục trở thành