1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tâm Lý Học Tôn Giáo.docx

32 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới thiệu sơ lược về đạo Cao Đài, niềm tin cơ bản và các hành vi tôn giáo đặc trưng
Người hướng dẫn PT. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tâm Lý Học
Thể loại bài tiểu luận học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 70,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (3)
  • B. NỘI DUNG (4)
  • CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ĐẠO CAO ĐÀI, NIỀM TIN CƠ BẢN VÀ CÁC HÀNH VI TÔN GIÁO ĐẶC TRƯNG (4)
    • 1. Tổng quan về tôn giáo (4)
      • 1.1 Khái niệm tôn giáo (4)
      • 1.2 Bản chất của tôn giáo (5)
      • 1.3 Tính chất của tôn giáo (5)
      • 1.4 Chức năng của tôn giáo (6)
      • 1.5 Nguồn gốc của tôn giáo (7)
    • 2. Giới thiệu sơ lược về đạo Cao Đài, niềm tin cơ bản của đạo Cao Đài và các hành vi tôn giáo đặc trưng (8)
      • 2.1 Sơ lược về đạo Cao Đài (8)
      • 2.2 Niềm tin cơ bản của đạo Cao Đài (22)
      • 2.3 Các hành vi tôn giáo đặc trưng (23)
        • 2.3.1 Tuân theo Tứ đại điều quy (23)
        • 2.3.2 Khi lễ bái, cầu nguyện, cúng kính, sinh hoạt đạo thì niệm hồng danh của Đức Thượng Đế (26)
        • 2.3.3 Không làm những điều Ngũ giới cấm (27)
  • CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA VIỆC THỰC HIỆN HÀNH VI TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI THEO ĐẠO CAO ĐÀI (28)
    • C. KẾT LUẬN (30)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (32)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH KHOA TÂM LÝ HỌC BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN TÂM LÝ HỌC TÔN GIÁO Đ Ề T ÀI Hãy chọn và giới thiệu sơ lược một tôn giáo mà bạn biết, trình bày niềm tin cơ bản của tôn giá[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TÂM LÝ HỌC

BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: TÂM LÝ HỌC TÔN GIÁO

Đ

Ề T ÀI :

Hãy chọn và giới thiệu sơ lược một tôn giáo mà bạn biết, trình bày niềm tin cơ bản của tôn giáo ấy từ đó phân tích ít nhất 3 hành vi tôn giáo đặc trưng (nguyên nhân, động cơ thúc đẩy thực hiện, biểu hiện hành vi ) Cho biết ý nghĩa của việc thực hiện hành vi tôn giáo ấy đối với đời sống tinh thần của người theo tôn giáo đó

Sinh viên thực hiện : ………

Mã sinh viên : ………

Lớp : ………

Giảng viên hướng dẫn : ………

TP Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 01 năm 2023

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ĐẠO CAO ĐÀI, NIỀM TIN CƠ BẢN VÀ CÁC HÀNH VI TÔN GIÁO ĐẶC TRƯNG 2

1 Tổng quan về tôn giáo 2

1.1 Khái niệm tôn giáo 2

1.2 Bản chất của tôn giáo 3

1.3 Tính chất của tôn giáo 3

1.4 Chức năng của tôn giáo 4

1.5 Nguồn gốc của tôn giáo 5

2 Giới thiệu sơ lược về đạo Cao Đài, niềm tin cơ bản của đạo Cao Đài và các hành vi tôn giáo đặc trưng 6

2.1 Sơ lược về đạo Cao Đài 6

2.2 Niềm tin cơ bản của đạo Cao Đài 20

2.3 Các hành vi tôn giáo đặc trưng 21

2.3.1 Tuân theo Tứ đại điều quy 21

2.3.2 Khi lễ bái, cầu nguyện, cúng kính, sinh hoạt đạo thì niệm hồng danh của Đức Thượng Đế 24

2.3.3 Không làm những điều Ngũ giới cấm 25

CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA VIỆC THỰC HIỆN HÀNH VI TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI THEO ĐẠO CAO ĐÀI 26

C KẾT LUẬN 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết, tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, trong quá trìnhtồn tại và phát triển, tôn giáo đã tác động khá sâu sắc và toàn diện từ đời sốngvăn hóa, xã hội đến tâm lý, đạo đức, lối sống; từ các quan điểm triết học nhậnđịnh thế giới đến những ứng xử xã hội; từ các dạng thức nghệ thuật đến phongtục, tập quán… của nhiều quốc gia, dân tộc Trong các tôn giáo ở nước ta hiệnnay thì có Đạo Cao Đài chính là một tôn giáo thờ Thượng Đế được thành lập ởmiền Nam Việt Nam vào năm 1926 Tên gọi Cao Đài theo nghĩa đen chỉ một nơicao, nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rútgọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài Đạo Cao Đài ra đời năm 1926 tạichùa Thiền Lâm, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Ngay khi mới thành lập,Đạo Cao Đài đã thu hút được sự hưởng ứng của nhiều tầng lớp nhân dân, đặcbiệt là giai cấp nông dân tham gia đông đảo, bởi tinh thần dung hợp giáo lý, lễnghi tam giáo của đạo Cao Đài vừa gần gũi trong đời sống văn hóa, vừa mangtính huyền bí phù hợp với tâm linh của người dân Nam Bộ Cao đài là tôn giáo

có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam và có tácđộng tích cực đến văn hoá của cư dân Nam Bộ Bản thân mỗi tôn giáo nói chung

và đạo Cao Đài nói riêng đều chứa đựng một niềm tin cơ bản và cả các hành vitôn giáo Do đó, việc tìm hiểu để có cái nhìn đúng đắn về đạo Cao Đài, niềm tin

cơ bản và cả các hành vi tôn giáo của đạo Cao Đài để từ đó đánh giá được ýnghĩa của việc thực hiện hành vi tôn giáo này đối với đời sống tinh thần củangười theo đạo Cao Đài là thực sự cần thiết trong bối cảnh xã hội hiện nay, đặcbiệt trong việc phát huy các giá trị nhân bản, ưu việt của đạo Cao Đài vì mụcđích chung phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội Do đó, em xin chọn

đề tài “Hãy chọn và giới thiệu sơ lược một tôn giáo mà bạn biết, trình bày niềm tin cơ bản của tôn giáo ấy từ đó phân tích ít nhất 3 hành vi tôn giáo đặc trưng (nguyên nhân, động cơ thúc đẩy thực hiện, biểu hiện hành vi ).

Trang 4

Cho biết ý nghĩa của việc thực hiện hành vi tôn giáo ấy đối với đời sống tinh thần của người theo tôn giáo đó.” để làm chủ đề bài tiểu luận của mình.

B NỘI DUNG CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ĐẠO CAO ĐÀI, NIỀM TIN CƠ BẢN VÀ CÁC HÀNH VI TÔN GIÁO ĐẶC TRƯNG

1 Tổng quan về tôn giáo

1.1 Khái niệm tôn giáo

Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:

Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh vàcon người” Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềmtin vào cái siêu nhiên” Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sángtạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anhchưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”

Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôngiáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không cótrái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” Khái niệm mang khíacạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoangđường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị

họ trong đời sống hàng ngày …”

Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì tôn giáo là niềm tin của conngười tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ,giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức

Như vậy, có thể hiểu: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên,

vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác độngqua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế

Trang 5

giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời

kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từngtôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhaucủa từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau

1.2 Bản chất của tôn giáo

Mặc dù tôn giáo có tính độc lập tương đối nhưng mọi hiện tượng trongđời sống tinh thần, xét đến cùng, đều có nguồn gốc từ đời sống vật chất Tôngiáo bản chất cũng là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại

xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định

Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử Con người sáng tạo ra tôn giáo chứtôn giáo không sáng tạo ra con người Tôn giáo là một thực thể khách quan củaloài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dungcũng như hình thức biểu hiện

Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin tác động lêncác cá nhân, các cộng đồng Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đốilàm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thểhiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ… Tuy nhiên, tôn giáo cũng chứađựng một số nhân tố giá trị văn hóa, phù hợp với đạo đức, đạo lý của xã hội

Về phương diện thế giới quan thì thế giới quan duy vật mácxít và thế giớiquan tôn giáo là đối lập nhau Tuy vậy, những người cộng sản có lập trườngmácxít không bao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tôngiáo hợp pháp của nhân dân

1.3 Tính chất của tôn giáo

• Tính lịch sử: Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử Trong từng giai đoạn của

lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội củathời đại đó Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi, điều chỉnh theo Đếnmột giai đoạn lịch sử nhất định, khi con người nhận thức được bản chất các hiện

Trang 6

tượng tự nhiên, xã hội, khi con người làm chủ được tự nhiên, xã hội, làm chủđược bản thân mình và xây dựng được niềm tin cho mỗi con người thì tôn giáo

sẽ không còn

• Tính quần chúng của tôn giáo: Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo,

song nó phản ánh khát vọng của những con người bị áp bức về một xã hội tự do,bình đẳng, bác ái… Bởi vì, tôn giáo thường có tính nhân văn, nhân đạo, hướngthiện Vì vậy, còn nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhau của xã hội tintheo

• Tính chính trị của tôn giáo: Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi

xã hội đã phân chia giai cấp, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục

vụ lợi ích của mình Trong nội bộ các tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng,

hệ, phái nhiều khi cũng mang tính chính trị Trong những cuộc đấu tranh ý thức

hệ, thì tôn giáo thường là một bộ phận của đấu tranh giai cấp

1.4 Chức năng của tôn giáo

• Chức năng đền bù hư ảo: Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức

năng chủ yếu, đặc thù mà còn là chức năng phổ biến của tôn giáo Ở đâu có tôn

giáo ở đó có chức năng đền bù hư ảo Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức

tạp, nó không chỉ thực hiện một chức năng mà gồm một hệ thống chức năng xãhội Mặc dù là chức năng chủ yếu nhưng chức năng đền bù hư ảo không thể táchrời các chức năng khác của tôn giáo

• Chức năng thế giới quan: Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn

giáo có tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhucầu nhận thức của con người dưới một hình thức phi hiện thực Sự lý giải củatôn giáo về thế giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên, thần thánh, do đó

nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực Quan niệm này có thể tác động tiêu cựcđến ýthức giáo dân, đến thái độ của họ đối với xung quanh

Trang 7

• Chức năng điều chỉnh: Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực,

những giá trị nhằm điều chỉnh hành củanhững con người có đạo Những hành viđược điều chỉnh ở đây không chỉ là những hànhvi trong thờ cúng mà ngay cảtrong cuộc sống hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội của giáo dân

• Chức năng giao tiếp: Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện khả

năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng Sự giao tiếp được thựchiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là

sự giao tiếp tối cao

• Chức năng liên kết: Sự thống nhất của xã hội trước hết được bảo đảm

bởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội chú không phải bằng cộng đồng tínngưỡng Hơn nữa trong những điều kiện xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểuhiện như là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối lại xã hội, chống lại chế độ phảntiến bộ đương thời

1.5 Nguồn gốc của tôn giáo

a Nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo

Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là những nguyên nhân và điều kiện kháchquan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôngiáo Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với conngười Nguồn gốc xã hội của tôn giáo còn bao gồm cả phạm vi các mối quan hệgiữa con người với nhau

b Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo

Tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã đạt tới một trình độ nhận thứcnhất định Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản phẩm của nhữngbiểu tượng, sự trừu tượng hoá, sự khái quát dưới dạng hư ảo Nói như vậy cónghĩa là tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định, đồng thời

Trang 8

nó phải gắn với sự tự ý thức của con người về bản thân mình trong mối quan hệvới thế giới bên ngoài Khi chưa biết tự ý thức, con người cũng chưa nhận thứcđược sự bất lực của mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài, do đó conngười chưa có nhu cầu sáng tạo ra tôn giáo để bù đắp cho sự bất lực ấy Nguồngốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức.

Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biệnchứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan

c Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo

Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng củayếu tố tâm lý đến sự ra đời của tôn giáo Họ đã đưa ra luận điểm” “Sự sợ hãisinh ra thần thánh” Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã giải quyếtvấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vậttrước đó Nếu như các nhà duy vật trước Mác gắn nguyên nhân xuất hiện tôngiáo với sự sợ hãi trước lực lượng tự nhiên thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên vạchđược nguồn gốc xã hội của sự sợ hãi đó

2 Giới thiệu sơ lược về đạo Cao Đài, niềm tin cơ bản của đạo Cao Đài và các hành vi tôn giáo đặc trưng

2.1 Sơ lược về đạo Cao Đài

• Nguồn gốc lịch sử và nguyên nhân ra đời của đạo Cao Đài:

Đạo Cao Đài tên gọi đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ, ra đời năm 1926tại ấp Long Trung, xã Long Thành, huyện Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh do một sốcông chức, tư sản, địa chủ, trí thức sáng lập và phát triển chủ yếu ở các tỉnh,

thành phố Nam Bộ Đạo Cao Đài được biết đến là một tôn giáo độc thần

Về nguồn gốc lịch sử của đạo Cao Đài:

Về nguồn gốc Đạo Cao Đài thì vào thế kỷ thứ XX đạo này được thành lậptại Miền Nam nước ta Tên gọi đầy đủ là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha

Trang 9

Tá Đạo Cao Đài thờ ai là một trong những thắc mắc của nhiều người Những tín

đồ, chức sắc Đạo Cao Đài lập ra để thờ tượng Thượng Đế Bởi họ tin rằng người

đã sáng lập ra các tôn giáo và tất cả mọi thứ ở vũ trụ này

Các giai đoạn hình thành và phát triển đạo Cao đài: 

Đầu thế kỷ XX, tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật, Lão, Nho) ở ViệtNam có xu hướng giảm xuống nhưng hoạt động của nhóm Ngũ chi Minh đạotăng mạnh đã làm hồi sinh tư tưởng Tam giáo đồng nguyên Cùng lúc đó, phongtrào Thông linh học của phương Tây phát triển mạnh tại Nam Bộ với các hìnhthức “xây bàn” tương tự như tục cầu hồn của người Việt và cầu cơ của nhómNgũ chi Minh đạo đã tạo thành phong trào cầu cơ, chấp bút gọi tắt là “cơ bút”

Trong các đàn cơ này có hai nhóm chính hình thành đạo Cao Đài Nhómthứ nhất do ông Ngô Văn Chiêu cầu cơ tại các đền, chùa, phật đường theotruyền thống cơ bút thuộc nhóm Ngũ chi Minh đạo Nhóm thứ hai gồm các vị:Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc (nhóm Cao - Phạm) tổ chứcxây bàn cầu cơ theo kiểu Thông linh học phương Tây Năm 1926, hai nhóm cơbút nói trên thống nhất hình thành đạo Cao Đài, ông Ngô Văn Chiêu được thiênphong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo Cao Đài

Ngày 29/9/1926, một số vị chức sắc đứng đầu các đàn cơ và tín đồ đãthống nhất kí tên vào tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp Ngày 19/11/1926,những chức sắc đầu tiên của đạo Cao Đài đã tổ chức lễ khai đạo tại tỉnh TâyNinh và chính thức ra mắt đạo Cao Đài Ông Ngô Văn Chiêu sau khi có cônglớn sáng lập đạo Cao Đài đã không nhận chức Giáo tông tại Tây Ninh mà vềCần Thơ thành lập phái Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, thực hiệnđường hướng tu luyện theo pháp môn “vô vi” không phổ độ, không thành lập tổchức giáo hội

Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo giáo hội Cao Đài tiến hànhxây dựng Tòa thánh Tây Ninh và cơ sở hạ tầng, từng bước hoàn chỉnh hệ thống

Trang 10

bộ máy tổ chức hành chính đạo từ Trung ương đến cơ sở Do một số bất đồngtrong điều hành giáo hội, một số chức sắc lãnh đạo giáo hội Cao Đài đã tách ra

và về địa phương thành lập các tổ chức Cao Đài mới như: Cao Đài Chơn Lý,Cao Đài Tiên Thiên, Cao Đài Ban Chỉnh đạo…

Tại Tây Ninh, số chức sắc ở lại tiếp tục điều hành hoạt động của đạo CaoĐài Cao Đài Tây Ninh là tổ chức tôn giáo, có Toà thánh Tây Ninh, có số lượngchức sắc, chức việc, tín đồ lớn nhất trong các Hội thánh Cao Đài Một số tổ chứcCao Đài sau khi dời Tòa thánh Tây Ninh về các địa phương thành lập tổ chứcCao Đài mới đã xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, sớm có tinh thần yêunước và vận động đông đảo chức sắc, tín đồ tích cực ủng hộ cách mạng, thamgia kháng chiến chống ngoại xâm

Tuy bị chia rẽ thành nhiều tổ chức khác nhau nhưng số lượng tín đồ và cơ

sở thờ tự của đạo Cao Đài vẫn phát triển rộng khắp các tỉnh Nam Bộ đồng thời

đã tạo ra vị thế mới cho đạo Cao Đài trong xã hội đương thời Chia rẽ, phân ly làđặc điểm nổi bật của đạo Cao Đài từ năm 1930 đến năm 1975 Thời gian này,đạo Cao Đài chia rẽ thành nhiều tổ chức Cao Đài khác nhau, có lúc lên đến 30 tổchức Trong các tổ chức Cao Đài này có khoảng 10 tổ chức là hoạt động theo

đúng chân truyền của đạo Cao Đài và tồn tại đến nay Từ năm 1995 đến nay,

Nhà nước đã công nhận tổ chức tôn giáo đối với 10 Hội thánh Cao Đài, 21 tổchức Cao Đài hoạt động độc lập và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo đối với 01pháp môn Cao Đài

Về nguyên nhân ra đời của đạo Cao Đài:

Nguyên nhân ra đời của đạo này là một vấn đề còn có những cách nhìnnhận khác nhau; hoặc nhấn mạnh vào yếu tố chính trị, căn cứ vào thành phầnxuất thân của người sáng lập và những hoạt động của họ, hoặc đơn giản đạo CaoĐài ra đời như một hiện tượng lấp chỗ trống đơn thuần về mặt tín ngưỡng Cũng

Trang 11

như những tôn giáo khác, đạo Cao Đài ra đời cũng dựa trên những tiền đề vềkinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng nhất định

Môi trường xã hội nổi bật ở Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ XX làviệc thực dân Pháp đẩy mạnh hơn bao giờ hết cuộc khai thác thuộc địa lần thứhai với một loạt chính sách về kinh tế để cố vơ vét được nhiều của cải vật chấtđưa về hàn gắn vết thương chiến tranh ở chính quốc Trong cả nước, Nam Bộ làvùng bị thực dân Pháp bóc lột nhiều nhất, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp.Thực dân Pháp đã thực hiện triệt để hai hình thức bóc lột: chiếm đất để lập đồnđiền, tăng thuế và tăng cường thu thuế với nông dân

Kết cục người nông dân Nam Bộ bị mất đất, bị bần cùng hoá, trở thànhngười nô lệ cho thực dân phong kiến ngay trên chính mảnh đất của mình vì kiểu

vô sản hoá một chiều của Pháp Cùng với việc bóc lột vơ vét về kinh tế, thựcdân Pháp tăng cường áp bức thống trị về chính trị, nô dịch về văn hoá đối vớinhân dân ta Chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của thực dân Pháp đẩy ngườidân Việt Nam nói chung, nông dân Nam Bộ nói riêng lâm vào hoàn cảnh đóikhổ, lầm than hơn bao giờ hết

Nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Nam Bộ nói riêng có truyềnthống yêu nước chống giặc ngoại xâm Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lượcViệt Nam, nhân dân Nam Bộ đã không ngớt vùng lên đấu tranh chống Pháp vớinhững hình thức và xu hướng khác nhau, càng về sau càng sôi nổi quyết liệt

Tuy nhiên do hạn chế về mặt giai cấp, nông dân không tự giải phóngđược; giai cấp tư sản, tiểu tư sản Việt Nam sinh sau đẻ muộn, lực lượng nhỏ bé,trong khi ngọn cờ cách mạng tư sản trên thế giới đã tỏ ra lỗi thời Lúc đó lạichưa được sự lãnh đạo, dìu dắt của Đảng Cộng sản – một chính đảng của giaicấp vô sản Do vậy, các cuộc đấu tranh của nhân dân ta lần lượt bị thực dânPháp dìm trong biển máu Thất bại, bế tắt trong cuộc sống và trong cuộc đấu

Trang 12

tranh càng thúc đẩy một phận quần chúng tìm đến với tôn giáo, đến với đạo CaoĐài, mong ước sẽ được an ủi, chở che.

Trong chừng mực nhất định cũng có thể so sánh sự ra đời của đạo CaoĐài với đạo Ki tô sơ kỳ - phản ánh sự bế tắt của nô lệ và các dân tộc ở phươngĐông trước sự xâm lược và thống trị của đế quốc La Mã thời cổ đại Tuy nhiên,

có sự khác nhau giữa đạo Kitô và đạo Cao Đài: đạo Kitô những người nô lệ khởixướng, còn đạo Cao Đài do những tầng lớp trên (tư sản, địa chủ, tiểu tư sản) chủtrương Do những đặc điểm riêng, trong cuộc đấu tranh chống áp bức cườngquyền, ngoài việc giáp mặt với kẻ thù bằng vũ lực, còn có những hình thức đấutranh bằng tôn giáo Tôn giáo chủ yếu được sử dụng để tập hợp lực lượng Ngaytrước khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Nam Bộ đã dùng hình thức tôn giáo

để chống lại triều đình nhà Nguyễn

Một vấn đề tư tưởng quan trọng dẫn đến việc ra đời và sự phát triển củađạo Cao Đài là sự khủng hoảng, suy thoái của các tôn giáo, đạo lý đương thời.Nhân dân Nam Bộ có nhu cầu tín ngưỡng rất lớn Khi đạo Cao Đài chưa ra đời,

số đông nhân dân theo đạo Phật, đạo Nho và một số ít theo Công giáo Nhưngđến giai đoạn này, những tôn giáo ấy đều bị khủng hoảng, mất uy tín Đạo Cônggiáo lúc đó dưới con mắt của người dân Nam Bộ gắn liền với sự xâm lược củathực dân Pháp nên bị nghi ngờ, thậm chí kinh ghét Đạo Nho là một học thuyếtđạo đức, chính trị chỉ phù hợp với chế độ quân chủ chuyên chế, đến nay khôngcòn phù hợp với xã hội Nam Bộ thuộc địa mà Pháp thực hiện chế độ trực trịđang chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự phát triển của công nghiệp và xuhướng Âu hoá Đạo Phật tiểu thừa với phương châm “tự độ, tự tha” chỉ giảithoát cho ai xuất gia tu hành, khó hoà nhập với phong tục lối sống của nhân dânNam Bộ Đạo Phật Đại thừa bị suy vi từ mấy thế kỷ trước nay bị chia rẽ theonhiều tông phái, nhất là sự thâm nhập nhiều yếu tố mê tín dị đoan của đạo Lãothần tiên Đạo Tin lành mới du nhập chưa gây ảnh hưởng được bao nhiêu

Trang 13

Nói tóm lại, sự suy sụp của các tôn giáo và đạo lý đương thời đã tạo rakhoảng trống về tư tưởng tín ngưỡng tạo điều kiện thuận lợi cho đạo Cao Đàiphát triển Đạo Cao Đài ra đời đúng như Nguyễn An Ninh nói: “Dân đã mêmuội trong tôn giáo, mà các tôn giáo, các đạo lý của nhà nước đều suy sụp làmsao không theo đạo Cao Đài cho được Không trông thấy, không suy ra, gặp ĐạoCao Đài có màu sắc mới mẻ, lại dễ dàng cho tâm trí ngựa quen đường cũ”.

Khởi nguyên của đạo Cao Đài là tục cầu hồn, cầu tiên và nhất là tư tưởng

“Tam giáo đồng nguyên” (Phật, Lão, Nho) vốn có ở nước ta từ lâu Đặc biệt vàođầu những năm 1920, phong trào Thần linh học – một hình thức mê tín của cácnước phương Tây, tương tự như tục cầu hồn, cầu tiên của người Việt đã thâmnhập vào Nam Bộ được một bộ phận tư sản, địa chủ, tiêu tư sản, công chức củaPháp đón nhận Khi vào Nam Bộ, Thần linh học đã nhanh chóng hoà nhập vớitục cầu cơ trở thành phong trào cầu cơ, chấp bút (gọi là cơ bút) khá sôi nổi trựctiếp dẫn đến việc ra đời của đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài ra đời năm 1926 tại chùa Thiền Lâm (Gò Kén) huyện HòaThành, tỉnh Tây Ninh Ngay khi mới thành lập, Đạo Cao Đài đã thu hút được sựhưởng ứng của nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giai cấp nông dân tham giađông đảo, bởi tinh thần dung hợp giáo lý, lễ nghi tam giáo (Nho – Phật – Lão)của đạo Cao Đài vừa gần gũi trong đời sống văn hóa, vừa mang tính huyền bíphù hợp với tâm linh của người dân Nam Bộ Cũng như các tôn giáo khác, đạoCao Đài có lễ nghi phượng thờ, tế tự và qui điều, giới luật Một bên soi sánglòng tín ngưỡng, một bên đôn đốc, kìm giữ sự tu hành

• Về lễ nghi của đạo Cao Đài:

Tín đồ đến toà thánh hoặc thánh thất đều phải mặc lễ phục Đặc biệt, chứcsắc của đạo có những bộ lễ phục với các màu khác nhau như xanh (những ngườitheo phái thượng, đại diện cho đạo lão), đỏ (người theo phái ngọc, đại diện chođạo nho), vàng (người theo phái thái, đại diện cho đạo phật), được may rất công

Trang 14

phu với những chi tiết phức tạp và đội mão (mũ) rất cầu kỳ giống như trong hátbội Mọi người khi hành lễ tại toà thánh hoặc thánh thất đều phải quỳ lạy kínhcẩn, có thứ tự, không ồn ào… để biểu hiện rõ sự tôn nghiêm và nghiêm túc trong

Âm Dương (Thái Cực sanh Âm Dương) và đốt năm cây nhang, cấm trong lưhương để giữa Thiên bàn tượng trưng Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ)

Thờ tam giáo và ngũ chi

• Tam giáo: thờ các đức chí tôn của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo PhậtThích Ca ở giữa, trái có Khổng Tử, phải có Lão Tử

• Tam trấn oan nghiêm: Lý Thái Bạch ở giữa, trái có Quan Thánh ĐếQuân, phải có Quan thế âm Bồ tát Tam trấn đại diện ba vị giáo chủ trong đạoCao Đài

• Ngũ chi: Phật, Tiên, Thánh, Thần, Nhân

Hiến lễ tam bửu

Mỗi lần tế lễ, đều có hiến hoa, rượu, và trà gọi là Tam bửu, đại khái như:Hoa tượng trưng cho Tinh, rượu tượng trưng cho Khí, trà tượng trưng cho Thần.Hiến lễ Tam Bửu đại ý nhắc tín đồ nhớ rằng trong con người có ba món báu Tín

đồ phải thu tập cho đầy đủ Tinh – Khí – Thần, thành một thể khí vô vi thì mới

đủ điều kiện giải thoát ra ngoài vòng sinh tử, hoặc nói cách khác là luyện Tinhhóa Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần thành Hư

Trang 15

Theo đạo Cao Đài, ngày xưa Thánh nhân quan sát cảnh tượng vũ trụ,nhận thức được luật trật tự và điều hòa của trời đất rồi theo đó mà chế ra lễ nhạc,

lễ nhạc có thể cảm hóa lòng người về đạo đức

Lạy

Khi đứng trước Thiên Bàn hầu lễ thì tín đồ quỳ gối, hai tay chấp lại, bắt

ấn Tý, niệm Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng có nghĩa:

Bắt ấn Tý: Hai bàn tay chấp lại, ngón cái của bàn tay trái chỉ vào ngón áp

út tức chỉ sự chủ về kính Trời

Nam Mô Phật: Hai bàn tay chấp lại, đưa ngay lên giữa trán và niệm “Nam

Mô Phật” Ấy là nhắc lòng tôn kính Phật

Nam Mô Pháp: Chữ “Pháp” là pháp luật tự nhiên, thể hiện nhân cáchngười tu hành và giải kiếp trầm luân

Nam Mô Tăng: Tôn kính người Đạo cao Đức đầy

Cúng tứ thời

Mỗi ngày, người tín đồ phải hầu lễ bốn lần, gọi là cúng Tứ Thời (Tý, Ngọ,Mẹo, Dậu) Đạo Cao Đài cho rằng khí của trời đất, mỗi ngày vượng bốn thời:

Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu

Trang 16

Thờ tổ tiên

Ngoài việc thờ Trời, kính Phật, nơi chùa chiền tín đồ đạo Cao Đài còn thờ

tổ tiên tại nhà Tín đồ đạo tin tưởng rằng: Linh hồn con người bất diệt Ngườichết là chết phần thể xác, còn phần linh hồn thì siêu thăng Tưởng niệm Tổ tiên

để tỏ lòng tôn kính nguồn gốc sinh thành, dưỡng dục; hai là cầu nguyện Tổ Tiên

hộ trì, giúp đỡ con cháu Những người đó đức tin này, giàu cũng như nghèo, khixây xong một ngôi nhà rồi sẽ chọn một chỗ trang nghiêm hơn hết, để lập bànthờ, hằng ngày hương khói

Cách thờ tự trong gia đình tín đồ cũng biểu hiện sự đặc biệt của nó Bànthờ luôn đặt ở nơi trang nghiêm nhất trong gia đình, được che rèm cẩn thận (chỉ

mở rèm khi hành lễ) Các đồ vật trên bàn thờ được sắp xếp trật tự theo mộtnguyên tắc nhất định, không có sự xáo trộn Tín đồ hành lễ trước bàn thờ cũngmặc lễ phục, quỳ lạy kính cẩn, đọc kinh theo cùng một giọng và rất rập khuôn

Các ngày lễ: Ngoài cúng tứ thời, Đạo Cao Đài còn có các lễ khác như:

Hàng tháng có 2 ngày lễ Sóc, Vọng (rằm và mồng một theo âm lịch) Mỗitháng có hai ngày đại lễ là: Sóc và Vọng Ngày đại lễ cả tín đồ phải tựu về thánhthất hầu lễ và nghe lời giảng đạo thuyết pháp; trừ ra, người vắng mặt có lý dochính đáng mới được châm chế

Hàng năm có các ngày lễ chính theo âm lịch: Ngày mồng 9 tháng giêng:Vía Ngọc Hoàng thượng đế; Ngày 15 tháng giêng: Lễ Thượng nguyên; Ngày 15tháng hai: Lễ vía Thái Thượng lão quân; Ngày 8 tháng tư: Lễ vía Thích ca Mâuni; Ngày 15 tháng bảy: Lễ Trung nguyên; Ngày 15 tháng tám: Lễ Hội yến diêutrì Kim mẫu; Ngày 15 tháng mười: Lễ Hạ nguyên và lễ Khai đạo; Ngày 15 thángmười hai: Lễ các chư thánh thiên triều

Ngoài ra các chi phái còn có các ngày lễ riêng kỷ niệm ngày thành lập chiphái, ngày sinh, ngày giỗ của những người đứng đầu chi phái…

Ngày đăng: 02/02/2023, 01:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w