CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ĐẠO CAO ĐÀI, NIỀM TIN CƠ BẢN VÀ CÁC HÀNH VI TÔN GIÁO ĐẶC TRƯNG
2. Giới thiệu sơ lược về đạo Cao Đài, niềm tin cơ bản của đạo Cao Đài và các hành vi tôn giáo đặc trưng
2.3 Các hành vi tôn giáo đặc trưng
*Nguyên nhân: Tứ đại điều quy chỉ gồm 157 chữ. Số lượng này thực sự không phải là nhiều, là lớn. Nhưng bốn quy điều được gọi là “đại” bởi lẽ chúng có ý nghĩa to tát, có giá trị cao cả. Tứ đại điều quy là phép tắc giúp người tu giữ mình, tránh phạm phải sai lầm, tội lỗi để hoàn hảo hóa bản thân. Thế nên giữ gìn Tứ đại điều quy tức là trau giồi tâm hạnh cho thành bậc đạo đức tâm hạnh vẹn toàn thì mới mong tiến hóa lên phẩm vị Thần Thánh, Tiên Phật. Do đó, người tu hành phải tuân theo luật lệ của Tứ đại điều quy để có thể trau dồi phẩm hạnh cho bản thân.
*Động cơ thúc đẩy thực hiện: Đức địa tạng vương bồ tát dạy rằng: “Phải học cho thuộc Tứ đại điều quy. Cứ noi theo đó mà diệt lần các tội xấu chưa sửa được thì sẽ vô sự. Bằng ai không theo đó mà sửa mình thì phải bị hại về sau”.
Chính vì vậy mà người theo đạo Cao Đại đã thực hiện nghiêm túc các luật lệ của Tứ đại điều quy.
*Biểu hiện hành vi:
Người theo đạo Cao Đài tuân thủ bốn điều trong Tứ đại điều quy:
• Điều 1: Phải tuân lời dạy của bề trên, lấy lễ hòa người, lỡ lầm lỗi phải ăn năn chịu thiệt.
Phải tuân lời dạy của bề trên là bổn phận đàn em. Chẳng hổ chịu cho bực thấp hơn điều độ là đức hạnh đàn anh đàn chị hướng đạo. Hai ý này bổ khuyết cho nhau theo hai chiều qua lại.
Lấy lễ hòa người: Giữ lễ phép, lễ độ, lịch sự trong giao tiếp để thể hiện đức hạnh người tu và để thu phục tình cảm người khác mới có thể giữ tình hòa ái.
Lỡ làm lỗi phải ăn năn chịu thiệt: Còn làm người phàm tục thì khó tránh khỏi sai lầm. Do đó phải biết nhận lỗi, biết hối hận để sửa lỗi bản thân.
• Điều 2: Chớ khoe tài, đừng cao ngạo. Quên mình mà làm nên cho người, giúp người nên đạo. Đừng nhớ cừu riêng. Chớ che lấp người hiền.
Chớ khoe tài, đừng cao ngạo: Hạnh khiêm tốn.
Quên mình mà làm nên cho người, giúp người nên đạo: Hạnh hy sinh, đức vị tha.
Đừng nhớ cừu riêng: Lòng hỷ xả, khoan thứ, bao dung.
Chớ che lấp người hiền: Đừng che giấu người tài đức, phải có lòng quý trọng nhân tài, biết tiến cử, tạo cơ hội cho bậc hiền tài được thi thố năng lực giúp đời, giúp đạo.
• Điều 3: Bạc tiền xuất nhập phân minh. Đừng mượn vay không trả.
Đối với trên, dưới đừng lờn dễ. Trên dạy dưới lấy lễ. Dưới gián trên đừng thất khiêm cung.
Bạc tiền xuất nhập phân minh: Mọi thu chi tiền bạc, vật dụng phải có sổ sách và phải có thêm người cộng sự làm chứng.
Đừng mượn vay không trả: Điểm này và trên liên quan tới giới cấm “nhì bất du đạo”.
Đối với trên, dưới đừng lờn dễ: Khi bề trên mềm mỏng, thương mến người dưới thì người dưới không được ỷ vào đó mà coi thường, thiếu lễ độ, thiếu cung kính đúng mực.
Trên dạy dưới lấy lễ: Không ỷ quyền, không cậy thế để áp chế đàn em cấp dưới.
Dưới gián trên đừng thất khiêm cung: Góp ý, sửa lỗi cho bề trên phải nói năng lễ độ, có thái độ tôn trọng, đừng làm mất mặt bề trên.
• Điều 4: Trước mặt sau lưng cũng đồng một bậc, đừng kính trước rồi khinh sau. Đừng lấy chung làm riêng, đừng vụ riêng mà bỏ việc chung.
Trước mặt sau lưng cũng đồng một bậc, đừng kính trước rồi khinh sau:
Đừng cư xử theo thói thấp hèn, trước mặt người thì làm bộ cung kính, tôn trọng, ca tụng nhưng vắng mặt người thì nói xấu, khinh thường.
Đừng lấy chung làm riêng, đừng vụ riêng mà bỏ việc chung: Thái úy Tô Hiến Thành đã làm đúng như điều này.
Đó là 4 điểm răn dạy tín đồ Cao đài phải luôn luôn tuân thủ: Ôn hoà, cung kính, khiêm tốn, nhường nhịn. Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát dạy rằng: “Phải học cho thuộc Tứ đại điều quy. Cứ noi theo đó mà diệt lần các tội xấu chưa sửa được thì sẽ vô sự. Bằng ai không theo đó mà sửa mình thì phải bị hại về sau”.
Tứ đại điều quy chỉ gồm 157 chữ. Số lượng này thực sự không phải là nhiều, là lớn. Nhưng bốn quy điều được gọi là “đại” bởi lẽ chúng có ý nghĩa to tát, có giá trị cao cả. Thật vậy, Tứ đại điều quy là phép tắc giúp người tu giữ mình, tránh phạm phải sai lầm, tội lỗi để hoàn hảo hóa bản thân.
2.3.2 Khi lễ bái, cầu nguyện, cúng kính, sinh hoạt đạo thì niệm hồng danh của Đức Thượng Đế
*Nguyên nhân: Do đạo này cho rằng vũ trụ là vô cùng vô tận bao gồm cả không gian và thời gian. Không gian là vô cực trong đó có Âm và Dương, dần dần ngưng kết với nhau hình thành Thái cực. Thái cực chính là Ngôi Chúa Tể của càn khôn vũ trụ. Thái cực biến hóa vô cùng, vô tận sinh hóa ra muôn loài, muôn vật. Đạo Cao Đài thờ Thượng đế bằng hình con mắt trái – Thiên nhãn có nghĩa là “mắt trời” là thần lực của vũ trụ, nhìn thấu suốt thế gian. Do đó, người theo đạo này khi đi lễ bái, cầu nguyện, cúng kính, sinh hoạt đạo thì phải niệm hồng danh của Đức Thượng Đế.
*Động cơ thúc đẩy thực hiện: Người theo Đạo Cao Đài cho rằng con người là tiểu vũ trụ. Con người có phần hồn và phần xác, Thượng đế ban cho mỗi người một linh hồn mượn lấy xác phàm để xuống thế gian rèn luyện, thử thách. Họ cho rằng Thượng đế đã ba lần cứu rỗi: lần thứ nhất vào thời thượng cổ do các đấng Phục Hi, Moi – sen làm giáo chủ; lần thứ hai do các đấng Thích ca, Lão Tử, Khổng Tử, Giê - su- Ki – tô, Mô - ha – mét làm giáo chủ; lần thứ ba do đức Thượng đế lập ra và trực tiếp làm giáo chủ trên tinh thần “tam giáo quy nguyên”, “vạn giáo nhất lí”, và hiệp nhất Ngũ chi. Trên hết, giáo lý của đạo Cao Đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút, coi đó là phương tiện để con người liên hệ với Thượng đế. Do đó người theo Đạo Cao Đài thường niệm hồng danh của Đức Thượng Đế.
*Biểu hiện hành vi: Niệm hồng danh của Đức Thượng Đế để bày tỏ cho biết quan niệm về vũ trụ: cái khởi đầu và cái sau cùng hình thành càn khôn vũ trụ và vạn vật, hoàn toàn do quyền năng của Đức Chí Tôn. Trong mâm cúng Ngọc Hoàng không thể thiếu những thứ sau: nén nhang, đèn cầy, trà, bình hoa tươi, quả và phẩm.
2.3.3 Không làm những điều Ngũ giới cấm
*Nguyên nhân: Sát sinh, trộm cắp, lừa gạt người, tà dâm; uống rượu thịt, ăn uống quá độ, xảo trá, nói năng không giữ lời hứa là những hành vi không tốt và khi phạm phải những hành vi đó thì con người sẽ mất đi phẩm chất đạo đức và từ đó không hình thành được nhân cách tốt cho con người.
*Động cơ thúc đẩy thực hiện: Do đạo Cao Đài tuân theo các luật lệ Ngũ giới cấm. Ngũ giới cấm là không sát hại sinh vật; không trộm cắp, lừa gạt người;
cấm tà dâm; cấm uống rượu thịt, ăn uống quá độ; cấm xảo trá, nói năng không giữ lời hứa. Cho nên người theo đạo này cũng không được phép làm những điều mà Ngũ giới cấm.
*Biểu hiện hành vi:
• Bất sát sinh (Không được sát hại cuộc sống của loài vật).
• Bất du đạo (Không được trộm cắp, tham lam, lừa gạt, hại người). Tri túc: Là biết đủ, tức cầu cho mình đủ ăn, đủ mặc không nên vọng cầu những của phi nghĩa. Nếu chẳng biết đủ thì lòng tham nổi lên mà vơ vét của cải về cho mình. Bố thí: Tín đồ tùy khả năng của mình mà bố thí không cần người trả ơn, vì người mà bố thí chớ không phải buôn quyền bán danh.
• Bất tà dâm (không được lấy vợ (hoặc chồng) người khác, không được đàng điếm, không được xúi giục người khác vi phạm luân thường đạo lý). Theo Đạo Cao Đài con người nhân duyên cấu sinh, mà hể có sinh thì ắc có tử. Và khi tử thì duyên phải tan rã và trở về với đất nước gió lửa, thế thì nhục thân. Gây ra tội tình phần hồn phải chịu muôn năm, ngàn kiếp. Nhất là quyến rũ vợ, phá hại gia cang người khác.
• Bất ẩm tửu (Không được uống rượu mà dẫn đến việc làm tội lỗi). Đối với đạo Cao Đài say rượu chẳng những loạn trí não mà ngũ tạng cũng không còn giữ được chân lực. Đây là một điều cấm quan trọng.
• Bất vọng ngữ (Không được nói dối, nói thô tục, nói không giữ lời). Theo giới cấm này người tu không được nói dối, dù việc lớn hay nhỏ, trọng hay khinh cũng vậy. Đối với thế gian giữ tín nhiệm còn không làm được huống chi đối với trời phật, cho nên phải nói chân thật và khi nói ra rồi phải giữ lời.
*/ Cấm lưỡng thiệt: Không được nói lời làm cho người khác phải mất lòng nhau.
*/ Cấm ác khẩu: Không được nói lời hung dữ, như chửi rủa chẳng hạn.
*/ Cấm ỷ ngữ: Không được dùng lời khôn khéo để khêu gợi nguyệt hoa, không được dùng lời bóng bẩy để xuyên tạc kẻ khác.