1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tổng hợp Kiến Thức Ngữ Văn 8 Kì 2.Pdf

29 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhớ Rừng – Thế Lữ
Tác giả Thế Lữ
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Tài liệu tổng hợp
Năm xuất bản N/A
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 411,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 PHẦN VĂN HỌC NHỚ RỪNG – THẾ LỮ I Tìm hiểu chung 1 Tác giả Thế Lữ (1907 1989), quê Bắc Ninh, là nhà một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới 1932 1935 "Khi Thơ Mới vừa ra đời, Thế Lữ[.]

Trang 1

2 Về khái niệm "thơ mới" và phong trào Thơ Mới

- Khái niệm "thơ mới" dùng để gọi thể thơ tự do có số chữ, số câu trong bài không hạn định Nhớ rừng là một ví dụ sinh động

- Phong trào Thơ Mới là tên gọi của phong trào thơ (còn gọi là thơ lãng mạn) Việt Nam 1932 - 1945 với những tên tuổi nổi tiếng như: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,

II Phân tích

1 Đoạn 1 và 4: Tình cảnh của con hổ trong vườn bách thú

- Từ một vị chúa tể muôn loài tung hoành chốn nước non hùng vĩ, nay con hổ bị giam hãm trong cũi sắt, một không gian nhỏ bé, tù túng, thậm chí tầm thường, giả

dối: hoa chăm, cỏ xén, nước đen giả suối, mô gò thấp kém, dăm vừng lá bắt chước

- Thái độ, giọng điệu kẻ bị giam hãm vẫn toát lên vẻ ngạo mạn, kiêu hùng của một

vị chúa tể rừng già: khinh bỉ lũ người ngẩn ngơ mắt bé và lũ gấu báo dở hơi, vô tư lự; khinh ghét và giễu cợt cái thực tại cố làm ra vẻ tự nhiên, nhưng càng cố càng lộ

rõ cái vẻ tầm thường, giả dối

- Bằng những hình ảnh gợi cảm, giàu chất tạo hình và dòng cảm xúc cuồn cuộn, đoạn thơ 1 và 4 đã tạo nên bức tranh đầy tâm trạng về con hổ ở vườn bách thảo, một trang anh hùng lẫm liệt, bị sa cơ thất thế nhưng quyết không hoà nhập với thực tại xã hội đương thời

2 Đoạn 2 và 3: Cảnh con hổ ở chốn giang sơn hùng vĩ trong dĩ vãng huy

hoàng

- Những câu thơ miêu tả cảnh sơn lâm hùng vĩ và hình ảnh con hổ ngự trị trong đó

là những câu thơ đặc sắc nhất của bài thơ Đó là một bức cảnh dữ dội, hoang sơ, đầy uy lực của thiên nhiên: bóng cả cây già, gió gào ngàn, nguồn hét núi, khúc trường ca dữ dội

- Hoà hợp và nổi bật giữa bức cảnh rừng già là hình ảnh con hổ oai phong, đường

bệ với những "vũ điệu" đầy uy lực của rừng xanh: Ta bước chân lên, dõng dạc,

Trang 2

đường hoàng - Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng - Vờn bóng âm thầm lá gai, cỏ sắc" Sự im lặng âm thầm của nó không phải là dấu hiệu bình yên mà trái

lại, đầy đe doạ đối với mọi vật Những câu thơ sống động, giàu hình ảnh đã diễn tả chính xác và hấp dẫn vẻ đẹp uy nghi, dũng mãnh mà cũng rất mềm mại, uyển chuyển của chúa sơn lâm

- Cũng tái hiện dĩ vãng huy hoàng nhưng đoạn 3 của bài thơ là một bộ tranh tứ bình tuyệt đẹp Cả bốn cảnh, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ, hoành tráng và nổi bật giữa mỗi cảnh là hình ảnh con hổ uy nghi, nhớ rừng đến cháy ruột Dáng điệu của nó được khắc họa hết sức phong phú, kì vĩ và thơ mộng Khi thì nó được hiện lên như một chàng thi sĩ lãng mạn, hào hoa đứng uống ánh trăng tan bên bờ suối; khi nó giống một nhà hiền triết thâm trầm lặng ngắm đất trời thay đổi sau mưa bão; khi nó lại là một bậc đế vương hiền lành có chim ca hầu quanh giấc ngủ;

và cuối cùng, nó là chính nó, vị chúa tể rừng già tàn bạo, dữ dội, làm chủ bóng tối, làm chủ vũ trụ

- Mảnh mặt trời là một hình ảnh mới lạ trong thơ Thế Lữ ở đây, mặt trời không còn là một khối cầu lửa vô tri vô giác mà là một sinh thể Trong cả vũ trụ bao la rộng lớn, chỉ có một kẻ duy nhất được chúa sơn lâm coi là đối thủ, đó là mặt trời Nhưng cả đối thủ dáng gờm đó cũng bị chúa sơn lâm nhìn bằng con mắt khinh bỉ, ngạo mạn: mặt trời tuy gay gắt nhưng cũng chỉ là một "mảnh" Nếu bỏ từ "mảnh"

và thay từ "chết" bằng "đợi" thì câu thơ sẽ trở nên lạc lõng bởi nó không hợp với lo gích tâm trạng cũng như tầm vóc của con mãnh thú Với câu thơ "Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt", "bàn chân ngạo nghễ của con thú như đã giẫm đạp lên bầu trời

và cái bóng của nó cơ hồ đã trùm kín cả vũ trụ" (Chu Văn Sơn) Tầm vóc của chúa

tể rừng già đã được nâng lên ở mức phi thường và kì vĩ đến tột đỉnh

- Tuy nhiên, tất cả những điều đẹp đẽ trên giờ chỉ còn là dĩ vãng, là giấc mơ Một loạt những câu nghi vấn "Nào đâu ?", "Đâu ?" không có câu trả lời được lặp đi lặp lại như một nỗi ám ảnh, như nỗi nhớ thương khắc khoải, vô vọng của con hổ về một thời vàng son, huy hoàng trong quá khứ xa xôi Giấc mơ đột ngột khép lại trong một tiếng than, tiếng vọng đầy u uất, đau đớn, nuối tiếc: "Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?"

- Khổ thơ cuối vừa tiếp tục mạch tâm trạng nhớ tiếc quá khứ vừa như một tiếng thở dài vĩnh biệt thời oanh liệt Nhưng dù thời oanh liệt không còn nữa, không bao giờ trở lại thì nó vẫn thuộc về thời đã mất ấy chứ không cam tâm làm đồ chơi, một kẻ tầm thường, vui lòng hoà nhập với thực tại Nó luôn sống với những giá trị của thời đã qua để phản ứng lại với thực tại xã hội đương thời, để vươn tới cái cao cả,

tự do dù chỉ là trong mơ ước

- Đối lập gay gắt hai cảnh tượng, hai thế giới, tác giả đã thể hiện mối bất hoà sâu sắc đối với thực tại và niềm khát khao tự do mãnh liệt của nhân vật trữ tình Lời con hổ trong bài thơ đã tìm được sự đồng cảm trong tâm hồn các nhà thơ lãng mạn

và kín đáo khơi gợi lòng yêu nước của người dân Việt Nam mất nước lúc đó

Trang 3

3 Vài nét về đặc sắc nghệ thuật của bài thơ

- Bài thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn: mạch cảm xúc cuồn cuộn, giọng điệu hào hùng, bút pháp cường điệu và sự phù hợp tuyệt vời giữa đối tượng mô tả và nghệ thuật mô tả của tác giả Đây là đặc điểm tiêu biểu nhất của bút pháp thơ lãng mạn

và cũng là một đặc điểm quan trọng của văn biểu cảm

- Chọn một biểu tượng rất đắt là con hổ ở vườn bách thú, khai thác triệt để thủ pháp nhân hoá, Thế Lữ đã thể hiện sâu sắc và xúc động chủ đề tác phẩm Tâm sự của vị chú tể rừng xanh cũng chính là tâm sự của con người, một trang anh hùng sa

cơ mang tâm sự u uất, khát khao tự do mãnh liệt, khát khao vươn tới cái cao cả, vĩ đại trong cuộc đời

- Hình ảnh thơ giàu chất tạo hình, đầy ấn tượng phù hợp với đối tượng miêu tả và gợi ở người đọc những cảm xúc mãnh liệt

- Ngôn ngữ và nhạc điệu phong phú, giàu sức biểu cảm, giàu tính sáng tạo; câu thơ

co duỗi thoải mái Nhớ rừng đã thể hiện một đặc điểm của thơ mới đương thời là: tạo lại dáng cho câu thơ tiếng Việt

+ Bài thơ tràn đầy cảm xúc lãng mạn

+ Hình ảnh, hình tượng thơ độc đáo, hoành tráng, giàu chất tạo hình

+ Nghệ thuật "điều khiển đội quân Việt ngữ" tài hoa của viên tướng thi từ Thế Lữ

QUÊ HƯƠNG – TẾ HANH

- Vào bài: Tế Hanh là nhà thơ có mặt trong phong trào Thơ Mới chặng cuối Thơ

Tế Hanh là một hồn thơ lãng mạn Tế Hanh được biết đến nhiều nhất như một nhà thơ của quê hương, gắn bó máu thịt với quê hương Cái làng chài ven biển có dòng sông bao quanh, nơi Tế Hanh được sinh ra, luôn đau đáu trong nỗi nhớ thương của

Tế Hanh, gợi những nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ông, giúp ông viết nên những vần thơ hay nhất, đẹp nhất Quê hương là một trong những vần thơ như vậy

II Phân tích

1 Tám câu thơ đầu: Cảnh dân chài bơi thuyền đi đánh cá

- Đoàn thuyền ra khơi trong một buổi bình minh đẹp, khoáng đạt: bầu trời cao rộng, trong trẻo được điểm bởi những tia nắng hồng rực rỡ Chỉ một câu thơ: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, tác giả đã vẽ được một không gian rộng lớn, vô tận

Trang 4

- Nổi bật giữa không gian êm ả ấy, đoàn thuyền băng mình ra khơi với khí thế dũng mãnh của một con tuấn mã Hình ảnh so sánh và một loạt các động từ mạnh

đã làm toát lên sức sống mạnh mẽ và vẻ đẹp hùng tráng, bất ngờ của những con người lao động

- Hình ảnh cánh buồm căng gió vốn mang một vẻ đẹp lãng mạn, có thể quan sát được, bất ngờ được so sánh với hồn làng là những gì lớn lao, thiêng liêng, phi vật thể Sự so sánh này không làm cho cánh buồm được miêu tả cụ thể hơn nhưng nó

đã gợi nên một vẻ đẹp mới, lớn lao, thiêng liêng, vừa thơ mộng, vừa hùng tráng Biểu hiện linh hồn làng chài bằng hình ảnh cánh buồm trắng no gió biển khơi là một sáng tạo độc đáo của Tế Hanh

- Với âm điệu mạnh mẽ, sôi nổi, bằng những hình ảnh so sánh độc đáo, tám câu thơ đầu vừa vẽ ra một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, vừa khắc hoạ đậm nét bức tranh lao động khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân nơi biển cả

2 Tám câu thơ tiếp theo: Cảnh thuyền cá về bến

- Cảnh dân chài đón thuyền cá về bến cũng là một bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống

- Bốn câu thơ miêu tả người dân chài và con thuyền nằm nghỉ trên bến sau chuyến

ra khơi là những câu thơ đặc sắc nhất, tinh tế nhất của bài Quê hương Hình ảnh người dân chài vừa nổi bật với vẻ đẹp ngoại hình rắn rỏi, vạm vỡ: "làn ra ngăm rám nắng", vừa gợi mở vẻ đẹp của một tâm hồn mộc mạc, đằm thắm, mặn mà - vẻ đẹp của biển cả Đó là một vẻ đẹp vừa chân thực vừa lãng mạn Hai câu thơ vừa tả thực vừa gợi cho người đọc những liên tưởng sâu xa, thú vị

- Hai câu thơ tả chiếc thuyền nghỉ ngơi trên bến cũng là một sáng tạo độc đáo của

Tế Hanh Tác giả không chỉ nhìn thấy mà còn cảm nhận thấy "sự mệt mỏi say sưa" của con thuyền Con thuyền vô tri đã trở thành một tâm hồn tinh tế không kém chủ nhân của nó Sau bao ngày tháng lênh đênh, miệt mài trên biển, giờ đây, nó đang nằm và lắng nghe chất muối mặn mòi của biển thấm dần vào từng thớ vỏ, như một người lao động đang nằm và ngẫm nghĩ lại cả chặng đường vất vả, những giọt mồ hôi mà mình đã đổ xuống để có được thành quả lao động như ngày hôm nay

- Trong cách miêu tả của Tế Hanh, ta thấy có sự gắn bó làm một giữa thiên nhiên cuộc sống với tâm hồn con người nơi đây Và dù tác giả không biểu lộ trực tiếp tình cảm của mình nhưng trong cách miêu tả của ông, người đọc cảm nhận được sợi dây tình cảm thiêng liêng sâu nặng nối liền tâm hồn ông với thiên nhiên, cuộc sống và con người nơi đây Không phải là một người con yêu dấu của quê hương, không yêu quê hương bằng tình yêu máu thịt và không có sự tinh tế tài hoa của một nhà nghệ sĩ thì không thể viết được những câu thơ sâu xa, xúc động như vậy

3 Khổ thơ cuối: Tình cảm nhớ thương quê hương của tác giả

- Quê hương được viết trong xa cách, trong niềm thương nhớ khôn nguôi của tác giả Nỗi nhớ được nói lên một cách giản dị, tự nhiên, chân thành mà sâu sắc Tế Hanh nhớ tất cả, từ màu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi rồi cuối cùng hội tụ

Trang 5

lại ở cái mùi nồng mặn Cái mùi nồng mặn, trong tâm tưởng nhà thơ, chính là hồn thơm, hồn thiêng của quê hương Những tưởng không có cách nào diễn tả tình yêu

và nỗi nhớ quê giản dị mà sâu sắc, xúc động hơn nữa vậy

4 Vài nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ

- Tuy phần lớn số câu thơ là câu miêu tả, song toàn bộ hình ảnh miêu tả đó đều nằm trong dòng tưởng nhớ, trong tình yêu quê hương da diết của chủ thể trữ tình

Vì vậy, miêu tả chỉ là một yếu tố phục vụ cho biểu cảm Hơn nữa, tình cảm của một người con xa quê, nhớ quê luôn đầy ắp sau mỗi câu chữ, hình ảnh; thổi linh hồn vào từng câu chữ, hình ảnh làm cho bức tranh quê hương mang một vẻ đẹp lớn lao, bất ngờ và đầy lãng mạn

- Nét nghệ thuật đặc sắc nhất của bài thơ Quê hương là ở sự sáng tạo hình ảnh thơ Bài thơ khá phong phú hình ảnh Các hình ảnh ở đây vừa chân xác, cụ thể, vừa độc đáo, bay bổng, lãng mạn, có khả năng gợi ra những trường liên tưởng phong phú ở người đọc

III Tổng kết

- Nội dung: Quê hương đã khắc hoạ được bức tranh tươi sáng, khoẻ khoắn, đầy sức sống về cuộc sống lao động của một làng quê miền biển, qua đó thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, đằm thắm của tác giả

- Nghệ thuật: Bài thơ bình dị, giọng thơ mộc mạc, chân thành, hình ảnh thơ giàu tính sáng tạo và gợi cảm

KHI CON TU TÚ – TỐ HỮU

I Tìm hiểu chung

- Tố Hữu (1920 - 2003), quê Thừa Thiên Huế

- Tố Hữu là "lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam" Các chặng đường thơ Tố Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam

- Bài thơ Khi con tu hú được sáng tác tháng 7/1939 tại nhà lao Thừa Phủ, Huế, khi tác giả bị bắt giam vào đây và được in trong tập thơ Từ ấy

1 Sáu câu thơ đầu: Bức tranh mùa hè sôi động

- Với âm điệu du dương trầm bổng, nhịp thơ khoan thai, êm ái, 6 câu thơ đầu đã vẽ

ra một bức tranh mùa hè tuyệt đẹp, một mùa hè rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu và tràn trề nhựa sống Tất cả đều đang hứa hẹn, đang ở độ thanh xuân nhất: lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần, ve mới bắt đầu ran, nắng còn rất mới Tất cả vừa mới

Trang 6

bắt đầu, như tuổi trẻ của người thanh niên cộng sản vừa bắt gặp lí tưởng Tất cả đều tươi đẹp, rực rỡ: trời xanh, nắng đào, bắp vàng, trái chín Tất cả, từ tiếng chim đến "đôi con diều sáo lộn nhào tầng không" đều đang được hưởng một cuộc sống tự do giữa bầu trời cao rộng

- Mùa hè chỉ thức dậy trong niềm hồi tưởng của tác giả, nhưng đọc 6 câu thơ đầu, người đọc tưởng như người viết đang sống giữa nó, miêu tả nó trực tiếp bằng sự tinh tường của tất cả các giác quan từ thính giác, thị giác, đến vị giác, khướu giác Phải có một niềm yêu đời, yêu sự sống thiết tha, mãnh liệt mới vẽ được bức hoạ mùa hè bằng thơ đẹp, sinh động trong một hoàn cảnh đặc biệt như vậy

2 Bốn câu thơ cuối: Tâm trạng của người chiến sĩ trong ngục tù

- 4 câu thơ cuối trực tiếp bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của tác giả Đó là tâm trạng đau khổ, bực bội, uất ức, ngột ngạt nhưng không hề có vẻ bi quan, chán chường, tuyệt vọng của một tâm hồn yếu đuối dễ bị gục ngã, quy phục trước hoàn cảnh Nhịp thơ đang đều đều, êm ái đến câu 8 và 9 bỗng bị ngắt bất thường 6/2, 3/3; các

từ ngữ, hình ảnh đang vui tươi, đến đây bỗng trở nên mạnh mẽ, dữ dội: đập tan phòng, chết uất, ngột Tất cả đều thể hiện khát khao cháy bỏng muốn thoát khỏi cảnh tù ngục của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi khi đang phơi phới trên con

đường cách mạng bỗng đâu "gió cản cánh chim bằng"

- ở trong tù, cuộc sống như dồn vào phạm vi âm thanh.Trong bài Tâm tư trong tù,

Tố Hữu viết: Cô đơn thay là cảnh thân tù Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Âm thanh là sợi dây liên hệ với cuộc đời "ngoài kia" Ngoài kia, mùa hè náo nức; ở trong này, không gian ngột ngạt; còn tiếng chim tu hú thì "cứ kêu"

- Bài thơ mở đầu bằng tiếng chim tú hú và kết thúc cũng bằng tiếng chim tu hú Mỗi tiếng kêu của nó là một tín hiệu gợi nhắc về cuộc sống tự do và thân phận tù tội Nếu ở đầu bài, tiếng chim tu hú là tiếng báo mùa, một thứ âm thanh hay và đẹp thì ở cuối bài, nó là một thứ âm thanh nhức nhối, thúc giục hành động Tố Hữu đã rất tinh tế khi chỉ bằng tiếng chim báo mùa đã gợi tả được nhiều nỗi niềm, tâm sự, cảm xúc của người tù cộng sản

- Lắng nghe tiếng chim tu hú, tâm trạng của tác giả cũng chuyển biến từ niềm hân hoan trước mùa hè sôi động đến nỗi uất ức, bực tức, đau khổ khi bị giam cầm uổng phí và khát khao phá tan bức tường nhà giam ngột ngạt để trở về với cuộc sống tự

do tươi đẹp Bài thơ kết thúc bằng cách mở ra tiếng chim tu hú cứ kêu "như giục giã những hành động sắp tới" (Trần Đình Sử)

Trang 7

TỨC CẢNH PÁC BÓ (Hồ Chí Minh)

Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, tháng 2/1942, Bác Hồ đã bí mật về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Người sống ở hang Pác Bó, Cao Bằng trong một điều kiện sinh hoạt vô cùng gian khổ: thức ăn thiếu thốn, có khi cả tháng, Bác và các đồng chí chỉ ăn cháo bẹ, rau măng Sức khoẻ của Bác lại không tốt, Bác bị sốt rét luôn Mặc dù vậy, được sống giữa thiên nhiên, được hoạt động cách mạng vì dân vì nước, Bác rất vui Bài thơ Tức cảnh Pác Bó được ra đời trong hoàn cảnh đó

II Phân tích

1 Ba câu thơ đầu: Cảnh sinh hoạt của Bác ở Pác Bó

- Ba câu thơ tả cảnh sinh hoạt, câu thứ nhất nói về việc ăn, câu thứ hai nói về việc

ở, câu thứ ba nói về việc làm, tất cả đều toát lên cảm giác thích thú, vui lòng

- Nơi Bác ở và làm việc là hang Pác Bó Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại,

"những khi trời mưa to, rắn rết chui cả vào chỗ nằm Có buổi sáng Bác thức dậy thấy một con rắn rất lớn nằm khoanh tròn ngay cạnh Người." Câu thơ mở đầu giới thiệu nơi Bác ở nhưng người đọc không tìm thấy dấu vết những nỗi gian khổ ấy mà chỉ thấy bước chân nhẹ nhàng, ung dung của người cách mạng sáng tối vào ra nơi sơn thuỷ: Sáng ra bờ suối, tối vào hang

- Giọng thơ sảng khoái, câu thơ ngắt nhịp 4/3 tạo thành hai vế sóng đôi toát lên cảm giác về sự hài hoà, nhịp nhàng, cân đối

- Vẫn giọng thơ ấy, nhưng câu thơ thứ hai thoáng nét cười vui: "Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng" Cũng theo lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp, "có thời gian, cơ quan chuyển vào vùng núi đá trên khu đồng bào Mán trắng, gạo cũng không có, Bác và các đồng chí phải ăn cháo bẹ hàng tháng" Câu thơ tả thực cảnh sinh hoạt gian khổ

đó nhưng lại nhẹ bẫng bởi thái độ của người trong cuộc Đối với Bác, sự vất vả, thiếu thốn đó dường như chẳng có gì đáng nói, đáng để tâm cả Ba chữ "vẫn sẵn sàng" liền một mạch như sợi dây chắc khoẻ đã kéo hình ảnh ăn cháo bẹ, rau măng vốn là nỗi khổ lên thành niềm vui lấp lánh Có ý kiến cho rằng, câu thơ này Bác muốn nói: "lương thực, thực phẩm ở đây đầy đủ, dư thừa, cháo bẹ, rau măng luôn

có sẵn", rằng đó là câu đùa hóm hỉnh của Bác Cách hiểu đó khá lí thú, nhưng thiết nghĩ vẫn có cái gì đó khiên cưỡng Nếu muốn diễn tả ý dư thừa, đầy đủ của cháo

bẹ rau măng, Bác có thể thay từ "vẫn" bằng "đã" ở đây, câu thơ vừa tả thực vừa thể hiện đúng ý chí của nhà cách mạng luôn sẵn sàng vượt qua mọi gian khổ Điều này liền mạch với câu thứ ba cũng tả thực về điều kiện làm việc đơn sơ nhưng ý nghĩa của công việc thì vô cùng to lớn

- Câu thơ thứ ba nói về công việc của Bác Thời kì này, Bác đang dịch Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ và tìm ra đường lối nhằm soi dọi, làm xoay chuyển lịch sử Việt Nam Bàn làm việc của Người là một phiến

đá bên bờ suối cạnh hang Giống như câu thứ hai, câu thơ thứ ba cũng chỉ là một

Trang 8

câu tả thực giản dị Bác không tả mình mà chỉ tả cái bàn đá nơi Bác làm việc và công việc Bác làm Nhưng, ấn tượng sâu đậm nhất mà câu thơ đem lại là hình ảnh Bác, nhà cách mạng thiên tài đang làm nên một sự nghiệp vĩ đại từ những gì đơn

sơ, chông chênh, nhỏ bé hôm nay

- Từ láy "chông chênh" gợi cảm giác bất an về sự đổ vỡ, thất bại Nhưng, sự vững trãi của hình ảnh "bàn đá" và những thanh trắc rắn rỏi trong cụm từ "dịch sử Đảng" như bàn tay rất khoẻ đã làm an lòng người đọc

- Trong một bài tứ tuyệt, câu thứ ba thường có vị trí nổi bật, là hình ảnh trung tâm của bài thơ ở đây cũng vậy Trung tâm của bức tranh Pác Bó là hình tượng người chiến sĩ cách mạng hiện lên vừa chân thực sinh động vừa mang một tầm vóc lớn lao

2 Câu thơ cuối: Phong thái, tâm hồn của nhà cách mạng

- Cách nói và giọng thơ vui ở ba câu đầu đã làm nhẹ đi rất nhiều những gian khổ vất vả mà Bác phải trải qua Nhưng đến câu thơ thứ tư, với từ "sang", tất cả những gian khổ vất vả dường như đã bị xoá sạch Bài thơ như một định nghĩa về cuộc đời sang trọng của người cách mạng Đó là một cuộc sống gian khổ nhưng tràn đầy những niềm vui lớn lao Sau ba mươi năm bôn ba đi tìm "hình của nước" (Chế Lan Viên), nay được trở về sống giữa lòng đất nước yêu dấu, được trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng cứu dân cứu nước, Bác rất vui Đặc biệt, niềm vui ấy còn được nhân lên khi Người tin chắc rằng thời cơ giải phóng dân tộc dang tới gần Bên cạnh

đó, được sống giữa thiên nhiên là sở nguyện suốt đời của Bác So với những niềm vui lớn đó thì những gian khổ kia chẳng có nghĩa lí gì Nói cách khác, sống trong hoàn cảnh gian khổ mà làm nên sự nghiệp lớn, cuộc đời cách mạng quả là "sang" Câu thơ lấp lánh một nụ cười hóm hỉnh Nụ cười đó không thể là của một ẩn sĩ lánh đục về trong mà chỉ có thể là của một người cách mạng

- Thú lâm tuyền cũng như thú điền viên là một tình cảm thanh cao Gặp lúc thời thế đen bạc, người hiền tài xưa thường từ bỏ công danh đến sống ẩn dật chốn suối rừng, làm bạn với phong, hoa, thuỷ, nguyệt để giữ cho tâm hồn trong sạch Bác cũng yêu thiên nhiên, nhưng khác với người xưa, dù sống giữa thiên nhiên nhưng trong Bác vẫn vẹn nguyên cốt cách của một người chiến sĩ cách mạng luôn làm chủ hoàn cảnh, luôn lạc quan tin tưởng vào tương lai Từ "sang" và nụ cười lấp lánh nét hóm hỉnh ở câu thơ thứ tư đã toả sáng cả bài thơ, toả sáng tâm hồn chúng

ta, đúng như Tố Hữu từng cảm thấy: Ta bên người, Người toả sáng quanh ta Ta bỗng lớn ở bên Người một chút

III Tổng kết

- Bằng giọng thơ đùa vui hóm hỉnh, bài thơ đã cho chúng ta thấy niềm vui, tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của Bác Hồ trong cuộc sống cách mạng đầy gian khổ ở Pác Bó

Trang 9

NGẮM TRĂNG (Vọng Nguyệt)

(Hồ Chí Minh)

* Vài nét về tập thơ "Nhật kí trong tù"

- Nhật kí trong tù là một tập nhật kí bằng thơ gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt

- Bác viết Nhật kí trong tù chỉ nhằm mục đích "ngâm ngợi cho khuây"; nhưng tập thơ đã trở thành bức chân dung tinh thần tự hoạ của Bác, một vị tù vĩ đại có tâm hồn cao đẹp, ý chí, nghị lực phi thường và tài năng nghệ thuật xuất sắc

- Nhật kí trong tù là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam

* Phân tích

1 Hai câu thơ đầu: Hoàn cảnh ngắm trăng trong tù của Bác

- Ngắm trăng là một đề tài phổ biến trong thơ xưa Thi nhân xưa, gặp cảnh trăng đẹp, thường đem rượu uống trước hoa để thưởng trăng Đó là cái thú thanh cao, tao nhã của những tâm hồn cao đẹp

- Người xưa thường ngắm trăng, nhận ra vẻ đẹp của trăng trong trạng thái tâm hồn thư thái, thảnh thơi, giữa trời đất bao la với đầy đủ những thú vui khác: "Khi chén rượu, khi cuộc cờ Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên" (Truyện Kiều)

- Còn ở đây, Bác đang ngắm trăng trong một hoàn cảnh đặc biệt: trong ngục tù Người ngắm trăng đang là một tù nhân bị đày đoạ vô cùng cực khổ: hai tay bị xiềng, hai chân bị xích, răng rụng, tóc bạc, “ghẻ lở mọc đầy thân”, tiều tuỵ như

“quỷ đói”

- Ngoại trừ ánh trăng, trong tù thiếu tất cả những điều kiện cần cho một cuộc

thưởng trăng: không rượu, không hoa, không tự do, không bạn hiền

- Câu thơ thứ hai đã cho chúng ta thấy tâm hồn Bác Đó là sự nhạy cảm, là cái xốn xang bối rối, trước vẻ đẹp của trăng, của thiên nhiên: Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào? Rất tiếc câu thơ dịch đã làm mất đi cái xốn xang bối rối đó "Nại nhược hà?" là lời tự hỏi nghĩa là biết làm thế nào Còn "khó hững hờ" là một lời khẳng định, thể hiện sự đón nhận vẻ đẹp của trăng có phần bình thản hơn Câu dịch

vì vậy không diễn tả sát trạng thái tâm hồn đầy chất thơ của người tù nghệ sĩ trước

vẻ đẹp của trăng

- Hai câu thơ giản dị đã thể hiện cụ thể và xúc động hoàn cảnh ngắm trăng và tâm trạng, cảm xúc của người yêu trăng chốn lao tù

2 Hai thơ cuối: Một cuộc vượt ngục tinh thần đặc biệt

- Xiềng xích, gông cùm không khoá được hồn người Không được tự do, người tù chủ động hướng ra cửa ngục để ngắm trăng sáng Đó là cái chủ động của một

người cách mạng luôn đứng cao hơn hoàn cảnh, vượt lên trên mọi hoàn cảnh để sống và cống hiến Câu thơ dịch đã bỏ mất động từ "hướng" làm cho việc ngắm trăng của người tù có vẻ bình thản, tĩnh tại hơn

Trang 10

- Như vậy, "Ngắm trăng" không phải là cách ngắm nhìn thông thường mà là một cuộc vượt ngục tinh thần bằng thơ của một người tù nghệ sĩ yêu chuộng cái đẹp Thân tại ngục tù, nhưng lòng Bác đã "theo vời vợi mảnh trăng thu"

- Điều kì diệu nữa là, trăng cũng vượt qua song sắt nhà tù để ngắm nhà thơ ở đây, vầng trăng không còn là một thiên thể vô tri, vô tình mà đã được nhân hoá thành một con người, hơn thế, một người bạn tri âm tri kỉ của Bác Cả trăng và người tù đều chủ động tìm đến giao hoà cùng nhau như một đôi bạn thân thiết tự bao đời

- Trong nguyên âm chữ Hán, câu thơ 3 và 4 có kết cấu đăng đối, nhịp nhàng: Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi gia

Cả hai câu thơ đều có từ "song" chỉ song sắt nằm giữa câu như chính bức song sắt nhà tù muốn ngăn sự gặp gỡ giữa "thi nhân" và "minh nguyệt" Sự đối từ, đối nhịp

và kết cấu đăng đối đã làm nổi bật sự giao hoà sóng đôi khăng khít giữa trăng và nhà nghệ sĩ Rất tiếc, hai câu thơ dịch đã làm mất cấu trúc đăng đối và vì vậy, làm giảm đi phần nào sức truyền cảm

- Hai câu thơ cho ta thấy sức mạnh tinh thần kì diệu của người tù cách mạng, nhà nghệ sĩ vĩ đại Quên đi tất cả những đau đớn, đói rét, muỗi rệp, ghẻ lở của chế độ nhà tù khủng khiếp, Người luôn để tâm hồn mình sống giữa thiên nhiên, hướng tới ánh sáng đẹp đẽ của thiên nhiên Trong chốn lao lung, Bác đã làm nên những vần thơ tuyệt đẹp Đằng sau những câu thơ đẹp, mềm mại như vậy chỉ có thể là một tinh thần thép, chất thép của phong thái ung dung, tự tại

* Phân tích

1 Hai câu thơ đầu: Nỗi gian lao của người đi đường

- Câu đầu bài thơ (khai) mở ra ý chủ đạo của cả bài, đó là nỗi gian lao của người đi đường: "Đi đường mới biết gian lao" Trong câu chữ Hán, "tẩu lộ" (đi đường) được lặp lại hai lần đã nhấn mạnh làm nổi bật ý thơ: đi đường thật khó khăn, gian nan Nỗi gian lao của người đi đường được nói lên một cách tự nhiên, giản dị Chỉ ai đã từng trải qua, từng thể nghiệm mới thấm thía và thấu hiểu hết nỗi gian lao khổ ải thực sự mà người đi đường từng phải nếm trải Câu thơ rất đơn sơ nhưng mang nặng cảm xúc, suy nghĩ và gợi ra những ý nghĩa sâu xa ngoài việc đi đường

- Câu 2 (thừa) triển khai ý của câu 1: đi đường khó như thế nào Hình ảnh Núi cao rồi lại núi cao trập trùng đã diễn tả đậm nét những gian lao, khổ ải chồng chất của

Trang 11

người đi đường: vừa đi hết lớp núi này lại tới lớp núi khác Cứ thế, gian khổ dường như triền miên, vô cùng, vô tận

2 Hai câu thơ cuối: Niềm vui của người đứng trên cao ngắm cảnh

- Câu 3 (chuyển) đã chuyển ý bài thơ sang một hướng mới: Nếu hai câu đầu đều nói đến nỗi gian lao dường như vô tận của người đi đường thì câu thơ thứ ba nói đến việc người đi đường đã lên tới đỉnh cao chót vót Đây là lúc bắt đầu một con đường mới, một cuộc đời mới, bằng phẳng và sung sướng, mọi gian lao đều đã ở lại phía sau Như vậy, nỗi gian lao của người đi đường chồng chất nhưng không phải là vô tận Hơn nữa, hành trình gian nan đó không phải là vô nghĩa Phải vượt qua mọi đèo dốc, thác ghềnh dữ dội mới chiếm lĩnh được đỉnh cao Việc đi đường núi hiển nhiên là thế, mà con đường cách mạng, đường đời cũng thế: "Gian nan rèn luyện mới thành công" (Hồ Chí Minh)

- Câu 4 (hợp) kết lại hình ảnh và ý tứ của toàn bài: Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non Câu thơ diễn tả niềm vui sướng đặc biệt, bất ngờ của người đã vượt qua bao gian lao, nay đứng trên đỉnh núi, được nhìn ngắm vô vàn cảnh đẹp Từ một người tù bị đày đoạ đến kiệt sức tưởng như tuyệt vọng, đến câu thơ thứ tư, Bác đã trở thành một du khách ung dung, say mê ngắm cảnh

- Hình ảnh con đường núi ghập ghềnh hiểm trở còn là ẩn dụ về con đường cách mạng đầy gian lao thử thách Hình ảnh con người ung dung ngắm cảnh trên đỉnh núi cao gợi cho chúng ta liên tưởng đến hình ảnh người chiến sĩ cách mạng đứng trên đỉnh cao chiến thắng sau biết bao gian khổ hi sinh Niềm vui của người tù ở đây cũng chính là niềm hạnh phúc lớn lao của người cách mạng khi cách mạng toàn thắng Câu thơ thấp thoáng hình ảnh con người đứng trên đỉnh cao chiến

thắng với tư thế làm chủ lớn lao

- Nếu câu thơ thứ ba, hình ảnh đột ngột vút lên theo chiều cao thì đến câu kết, hình ảnh thơ lại mở ra bát ngát theo chiều rộng, gợi cảm giác về sự cân bằng, hài hoà Như vậy, câu kết này đã quy tụ cảm hứng của toàn bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc

III Tổng kết

- Nội dung: Bài thơ có hai lớp nghĩa: nghĩa hiển ngôn nói về việc đi đường núi, nghĩa hàm ngôn ngụ ý về con đường cách mạng, con đường đời Bài thơ đã gợi ra một chân lí: đường đời, đường cách mạng nhiều chông gai, thử thách, nhưng nếu quyết tâm vượt qua, con người nhất định sẽ đạt được những thắng lợi rực rỡ

- Nghệ thuật: Đi đường không thuộc loại thơ tức cảnh hoặc tự sự mà chủ yếu thiên

về suy nghĩ, triết lí Nhưng triết lí được thể hiện qua lời kể chuyện, tâm sự của Bác nên giàu sức thuyết phục Ngôn ngữ bài thơ bình dị, giọng thơ tự nhiên mà chứa đựng những chân lí sâu xa, vĩnh cửu

Trang 12

CHIẾU DỜI ĐÔ (Lí Công Uẩn)

1 Tìm hiểu chung ( phần chú thích Sgk)

- Bố cục: 2 phần : Lí do dời đô; Lí do chọn thành Đại La; thông báo về quyết định dời đô

2 Đọc hiểu văn bản

* Lí do của việc dời đô

- Tiền đề lịch sử ( gương sáng thời xưa):

+ Dẫn chứng: Nhà Thương đến vua Bàn Canh : 5 lần dời đô; Nhà Chu đến vua Thành Vương : 3 lần dời đô => Vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh

- Thực tế lịch sử nước ta:

+ Nhà Đinh: Cứ đóng yên đô ở thành Hoa Lư => Triều đại không được lâu bền,

số vận ngắn ngủi; Trăm học phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi

- Lập luận chặt chẽ, có lí có tình

* Lí do chọn thành Đại La:

- Về lịch sử: Kinh đô cũ của Cao Vương

- Vị trí địa lí: Ở trung tâm trời đất,đúng ngôi nam bắc đông tây; Địa thế rồng cuộn hổ ngồi,rộng mà bằng

- Về vị thế chính trị, văn hóa: đầu mối giao lưu, chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương

 Mảnh đất hưng thịnh, muôn vật phong phú tốt tươi

 Nghệ thuật: Lập luận chặt chẽ, phân tích toàn diện thấu đáo, câu văn biền ngẫu cân xứng nhịp nhàng

* Quyết định của nhà vua: Chọn Đại La làm kinh đô mới

HỊCH TƯỚNG SĨ ( TRẦN QUỐC TUẤN)

Trang 13

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả Trần Quốc Tuấn

- Tên: Trần Quốc Tuấn (1231 ? - 1300)

- Cuộc đời:

• Ông là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc

• Ông là người có phẩm chất cao đẹp; văn võ song toàn; là người đã làm nên những chiến công vang dội trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông của dân tộc ta

• Ông được tôn vinh là "Đức Thánh Trần" và lập đền thờ ở nhiều nơi

2 Tác phẩm Hịch tướng sĩ

- Hịch là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua, chúa, tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài, hoặc cũng có khi được dùng để hiểu dụ, răn dạy thần dân và người dưới quyền

- Tác phẩm được công bố vào tháng 9 1284 tại cuộc duyệt binh ở bế Đông Bộ Đầu (Thăng Long) trước cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 2

3 Bố cục

- Bài văn được chia làm 4 phần

Phần 1: Từ đầu đến lưu tiếng tốt: Nêu gương sáng trong sách sử

Phần 2: Tiếp theo đến cũng vui lòng: Tố cáo sự ngang ngược của kẻ thù và nói lên lòng căm thù giặc

Phần 3: Tiếp theo đến có được không? Phê phán những sai lầm và chỉ ra hành động đúng

Phần 4: Còn lại: Nhiệm vụ cấp bách, khích lệ tinh thần chiến đấu

II Phân tích tác phẩm

a Nêu gương sáng trong sách sử

* Nêu những tấm gương sáng trong lịch sử:

- Tướng: Do Vu, Vương Công Kiên, Xích Tu Tư, Cốt Đãi Ngột Lang…

- Gia thần: Dự Nhượng, Kính Đức,…

Trang 14

- Quan nhỏ: Thân Khoái,…

=> Việc nêu gương sáng trong LS để khích lệ lòng chung quân ái quốc của tướng

sĩ thời Trần

* Tội ác của giặc và nỗi lòng của tác giả

- Tội ác của giặc:

+ Tình hình nước ta: Loạn lạc – gian nan

+ Sứ giặc đi lại ngênh ngang ngoài đường

+ Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình , đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ

…đòi ngọc lụa …thu vàng bạc , để vơ vét của kho có hạn Thật khác nào đem thịt

mà nuôi hổ đói

→ Nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa cạch trần bản chất tham lam, tàn bạo, hống hách của giặc

- Nỗi lòng của vị chủ tướng và ân tình của ông đối với tì tướng

Lòng căm thù giặc cao độ và tình yêu nước tha thiết của vị chủ tướng Ông sẵn sàng hy sinh để rửa nhục cho đất nước. “ Ta thường tới bữa quên ăn, Nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, ”

→ Nhịp dồn dập, ngắn gọn, ngôn ngữ từ ước lệ giàu hình ảnh có giá trị biểu cảm

→ Lòng yêu nước, lòng căm thù giặc, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn

* Phê phán những sai lầm và chỉ ra hành động đúng

- Nhắc đến mối thân tình giữa chủ và tướng

• Các ngươi không có mặc - thì ta cho áo

• Không có ăn - thì ta cho cơm

• Quan nhỏ - thì ta thăng chức

• Lương ít - thì ta cấp bổng

• Đi thủy - thì ta cho thuyền

• Đi bộ - thì ta cho ngựa

• Cùng sống chết - cùng vui cười

Ngày đăng: 18/01/2023, 19:04

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w