Lời mở đầu Báo cáo đề tài 19 (Tìm hiểu và lập trình minh họa tổ chức hệ thống tập tin NTFS) Sinh viên thực hiện Lê Văn Đảm Bùi Xuân Hưng Nguyễn Thành Luân Lớp K56A CNTT I Lời mở đầu Trước khi cài đặt,[.]
Trang 1Báo cáo đề tài 19:
(Tìm hiểu và lập trình minh họa tổ chức hệ thống tập tin NTFS)
Sinh viên thực hiện:
Lê Văn Đảm.
Bùi Xuân Hưng.
Nguyễn Thành Luân.
Lớp K56A_CNTT.
I Lời mở đầu
Trước khi cài đặt, Windows XP luôn đòi hỏi format lại đĩa cứng theo định dạng FAT32 hoặc NTFS Sử dụng các chương trình format đời mới hiện nay nó cũng đưa
ra lựa chọn giữa FAT32 và NTFS Bạn nên chọn phân vùng kiểu NTFS hay FAT32 khi cài đặt hệ điều hành Windows NT/2000/XP? Đối với hầu hết người sử dụng Windows XP thì NTFS là sự lựa chọn tất yếu
Vậy hệ thống NTFS trên đĩa cứng là gì, tác dụng của nó thế nào? Nó được tổ chức như thế nào?
II Tổng quan
1 Giới thiệu:
NTFS là viết tắt của ¨New Technology File System¨ (Hệ thống tập tin công nghệ mới)
NTFS là một hệ thống tập tin được Microsoft giới thiệu vào tháng 7 năm 1993 cùng với hệ điều hành Windows Nt version 3.1 Các hệ điều hành Windows NT sau
đó, Windows 2000, Windows XP và Windows Server 2003 đều hỗ trợ NTFS Với
không gian địa chỉ 64 bit, khả năng thay đổi kích thước của cluster độc lập với dung lượng đĩa cứng, NTFS hầu như đã loại trừ được những hạn chế về số cluster, kích thước tối đa của tập tin trên một phân vùng đĩa cứng
NTFS hiện có các phiên bản: v1.0, v1.1, v1.2 ở các phiên bản 3.51 và 4, v3.0 ở
phiên bản Windows 2000, v3.1 ở các phiên bản Windows XP và Windows Server
2003 Riêng Windows XP và Windows Server 2003 còn hỗ trợ các phiên bản v4.0, v5.0, v5.1
2 Đặc điểm
Hệ thống file NTFS mang đầy đủ đặc tính tiên tiến của hệ thống file FAT32 hiện đại và nhiều đặc tính cải tiến mà hệ thống quản lý file FAT không có như là khả năng
mã hóa những file và folder để bảo vệ dữ liệu dễ bị hỏng ( bảo mật các tập tin và nén
dữ liệu ở cấp độ tập tin và cấp độ thư mục, cho phép mã hóa và thu nhỏ kích thước của các tập tin, hỗ trợ các ổ đĩa cứng có dung lượng lớn nhưng không làm giảm hiệu xuất.) Tính bảo mật thể hiện là người khác không thể truy nhập được file hay folder trên máy thuộc quyền sở hữu của cá nhân Nó cũng hỗ trợ volume lớn và giải pháp lưu trữ mạnh
NTFS sử dụng bảng quản lý tập tin MFT (Master File Table) thay cho bảng FAT quen thuộc nhằm tăng cường khả năng lưu trữ, tính bảo mật cho tập tin và thư mục, khả năng mã hóa dữ liệu đến từng tập tin Ngoài ra, NTFS có khả năng chịu lỗi cao, cho phép người dùng đóng một ứng dụng “chết” (not responding) mà không làm ảnh hưởng đến những ứng dụng khác Tuy nhiên, NTFS lại không thích hợp với
Trang 2những ổ đĩa có dung lượng thấp (dưới 400 MB) và không sử dụng được trên đĩa mềm
NTFS: Là hệ thống file dành riêng cho windowsnt/2000/XP NTFS dùng 64 bít
để định danh các cluster, nên nó có thể quản lý được các ổ đĩa có dung lương lên đến
16 Exabyte (16 tỉ Gb) Trong thực tế windowsnt/2000/XP chỉ sử dụng 32 bít để định danh cluster, kích thước cluster là 64Kb, nên NTFS chỉ có thể quản lý được các ổ đĩa
có dung lượng lên đến 128TB
NTFS có một số tính năng cao cấp như bảo mật các file/directory, cấp hạn ngạch cho đĩa, nén file, mã hoá file, … Một trong những tính năng quan trọng của NTFS là khả năng phục hồi lỗi Nếu hệ thống bị dừng một cách đột ngột, thì metadata của ổ đĩa FAT sẽ rơi vào tình trạng xung khắc dẫn đến làm sai lệch một lượng lớn dữ liệu tập tin và thư mục Nhưng trên NTFS thì điều này không thể xảy ra, tức là cấu trúc của file/ Directory không bị thay đổi
Tên file trong NTFS có độ dài không quá 255 ký tự, đường dẫn đầy đủ đến file dài không quá 32.567 ký tự Tên file sử dụng mã unicode Tên file trong NTFS có sự phân biệt giữa chữ hoa và chữ thường
Trong hệ thống file NTFS, tất cả dữ liệu lưu trữ trên volume đều được chứa trong các tập tin, bao gồm cấu trúc dữ liệu được dùng để định vị và đọc lại các file, dữ liệu của bootstrap, và bitmap mà nó dùng để ghi lại trạng thái cấp phát của tất cả các block (cluster) trên volume (gọi là metadata NTFS) Việc lưu trữ mọi dữ liệu trong các tập tin cho phép hệ thống file dễ dàng tìm kiếm và bảo trì dữ liệu, và mỗi tập tin riêng có thể được bảo vệ bởi một mô tả an toàn dữ liệu riêng
III Cấu trúc của MFT
Trong hệ thống file NTFS, tất cả dữ liệu lưu trữ trên volume đều được chứa trong các tập tin, bao gồm cấu trúc dữ liệu được dùng để định vị và đọc lại các file, dữ liệu của bootstrap, và bitmap mà nó dùng để ghi lại trạng thái cấp phát của tất cả các block (cluster) trên volume (gọi là metadata NTFS) Việc lưu trữ mọi dữ liệu trong các tập tin cho phép hệ thống file dễ dàng tìm kiếm và bảo trì dữ liệu, và mỗi tập tin riêng có thể được bảo vệ bởi một mô tả an toàn dữ liệu riêng
MFT (Master File Table) là trung tâm trong cấu trúc của các volume NTFS Windows 2000/xp sử dụng MFT để quản lý việc lưu trữ các file và thư mục trên một volume
1 Record file(hay entry)
MFT bao gồm một dãy các record, có kích thước cố định là 1Kb Mỗi record trong MFT dùng để mô tả về một file hoặc thư mục trên volume, kể cả record của chính nó Nó chứa những thuộc tính của file, như tên file, timestamps (các đặc trưng
về thời gian tạo và thay đổi tập tin), và danh sách địa chỉ đĩa (cluster) nơi lưu trữ các block của file Nếu kích thước file quá lớn hệ điều hành cần phải sử dụng 2, hoặc nhiều hơn một record MFT để lưu danh sách địa chỉ tất cả các block đĩa chứa file trên volume Trong trường hợp này, record MFT đầu tiên của file được gọi là record
cơ sở, nó trỏ đến các record MFT mở rộng khác
Hệ thống file của Windows 2000/xp sử dụng một bitmap để theo dõi các toàn bộ MFT còn trống Số lượng record của MFT có thể tăng lên khi cần và có thể tăng đến
248 record vì bản thân MFT là một file, nó như có thể đuợc xuất hiện ở mọi nơi trong
Trang 3Hình sau cho thấy một đoạn đầu tiên của MFT của một volume
………
tiên của người sử dụng
Extentions: quotas,
conversion table
descriptor for all files
of block
Me tadata File
Bootstrap Loader
blocks used
definitions
file
recovery
copy of MFT
Master File Table
Hình 1: Các record đầu tiên trong MFT
Trang 4Mỗi record MFT bao gồm một tập các cặp (attribute header, value) Mỗi thuộc tính thường biểu diển bởi phần bắt đầu của giá trị thuộc tính, hoặc là tất cả, vì giá trị này có chiều dài thay đổi Nếu giá trị thuộc tính ngắn thì nó sẽ được lưu ở record MFT, ngược lại nếu nó quá dài thì sẽ được lưu ở một nơi khác trên đĩa và tại record
có một con trỏ trỏ đến địa chỉ này
Mười sáu record đầu tiên của MFT được dành riêng cho các file metadata NTFS Mỗi một record mô tả 1 file có thuộc tính và các block dữ liệu, giống như các file khác Tên các file metadata này được bắt đầu bởi dấu ‘$’:
• Record đầu tiên (tên là $MFT) mô tả chính bản thân MFT Đặc biệt, nó chỉ
ra địa chỉ block, nơi lưu trữ bảng file (MFT), vì thế hệ thống có thể dễ dàng tìm thấy file MFT
• Record 1 (tên là $mftmirr) chỉ đến một bản sao của phần đầu tiên của file
MFT Thông tin này là rất quan trọng vì vậy phải có 1 bản sao khác để khắc phục việc những block đầu tiên của file MFT thường bị bad
• Record 2 (tên là $logfile) chỉ đến một log-file Khi thêm vào volume 1 thư
mục mới hay khi xoá khỏi volume 1 thư mục thì hệ thống sẽ ghi lại sự thay đổi này vào log file trước khi thực hiện Sự thay đổi về thuộc tính của các file cũng được ghi lại ở log file Sự thay đổi về dữ liệu của người sử dụng không được ghi ở đây
• Record 3 (tên là $volume) chỉ đến file chứa những thông tin về volume
như kích thước volume, nhãn của volume và version của nó
• Record 4 (tên là $Attr Def) Mỗi record MFT chứa dãy các cặp: thuộc tính
header, giá trị File Attribute chứa một bảng định nghĩa thuộc tính, nó định nghĩa các loại thuộc tính được hỗ trợ bởi windows 2000/XP trên volume Thông tin của file này được chỉ bởi record 4
• Record 5 (tên là \) Thư mục gốc, là 1 file và có kích thước tăng tuỳ ý Nó
được mô tả trong record 5 Entry này được dự trữ cho thư mục gốc Nó là một file chứa một chỉ mục của các file và thư mục được lưu trữ trong phần gốc của cấu trúc thư mục NTFS Khi NTFS được yêu cầu để mở một file, thì nó bắt đầu tìm kiếm trong file của thư mục gốc Sau quá trình mở file, NTFS lưu trữ sự tham chiếu MFT của file đó để nó có thể truy cập trực tiếp record MFT của file khi nó đọc hoặc ghi file sau đó
• Record 6 (tên là $bitmap): Không gian trống trên volume được theo dõi
bởi 1 bitmap Bitmap này là một file Địa chỉ đĩa của file bipmap này được ghi ở record 6
• Record 7 chỉ đến file Bootstrap (có tên là $Boot): File này chứa mã
bootstrap của windows 2000/XP Để hệ thống boot được, mã bootstrap phải được nạp vào một vị trí đặc biệt trên đĩa File boot cũng như các file metadata NTFS, cũng
có thể được bảo vệ riêng bằng các công cụ của mô tả bảo mật mà nó được áp dụng cho tất cả các đối tượng windows 2000/XP
• Record 8 (có tên là $badclus) chỉ đến một file, file này được dùng để lưu
trữ danh sách liên kết các block (cluster) bị bad trên volume
• Record 9 (tên file là $Secure): chỉ đến file chứa thông tin bảo mật, file này
lưu trữ cơ sở dữ liệu về các mô tả bảo mật trên toàn bộ volume Các file và thư mục
Trang 5NTFS có thể có một thiết lập mô tả bảo mật riêng, nhưng NTFS lưu trữ các thiết lập này trong một file chung, nó cho phép các file và các thư mục có cùng thiết lập bảo mật tham chiếu đến cùng một mô tả bảo mật Cơ chế này tiết kiệm không gian lưu trữ các mô tả bảo mật
• Record 10 (tên là $Upcase): chỉ đến file case mapping, file này chứa bảng
chuyển đổi giữa kí tự thường và kí tự hoa
• Cuối cùng, record 11 (tên là $Extend) chỉ đến thư mục, thư mục này chứa
các file hỗn hợp như: hạn ngạch đĩa (Quotas), các định danh đối tượng (Object identifier),
4 record MFT cuối cùng dự trữ cho việc sử dụng sau này
Khi lần đầu tiên truy cập volume, NTFS phải Mount nó- đọc metadata từ đĩa và xây dựng cấu trúc dữ liệu bên trong để nó có thể xử lý các truy cập từ các ứng dụng
Để mount volume, NTFS tìm trong boot sector địa chỉ vật lý của MFT Theo trên, record file riêng của MFT là entry đầu tiên trong MFT, record file thứ hai trỏ đến một file được định vị ở vùng giữa đĩa, đó là MFT mirror (tên là $mftmir) Khi NTFS tìm thấy record file của MFT, nó lấy được những thông tin ánh xạ từ VNC-to-LCN trong thuộc tính data và lưu vào bộ nhớ để chuẩn bị cho các quá trình ghi/đọc file sau này
2 Các Record File
Hệ thống file NTFS lưu trữ các file như là một tập các cặp thuộc tính/giá trị (attribute/value), một trong số đó là dữ liệu nó chứa (được gọi là thuộc tính dữ liệu không tên) Các thuộc tính của một file bao gồm tên file, thông tin time stamp và có thể là các thuộc tính có tên được thêm vào Một record MFT cho một file nhỏ: có 3 thuộc tính: Standard Information (thông tin chuẩn), Filename (tên file) và Data (dữ liệu)
Mỗi thuộc tính file được lưu trữ như là một dòng tách biệt của các byte trong phạm vi file NTFS cung cấp các thao tác thuộc tính như: create, delete, read(byte range), write(byte range) Các dịch vụ ghi đọc thường thao tác trên các thuộc tính dữ liệu không đặt tên Tuy nhiên, một lời gọi có thể chỉ ra một thuộc tính dữ liệu khác bằng cách sử dụng cú pháp dòng dữ liệu được đặt tên
Cả NTFS và FAT đều cho phép mỗi tên file trong đường dẫn có thể dài đến 255 kí
tự, trong đó có cả các kí tự unicode và các dấu phân cách khác Để tương thích với các ứng dụng 16 bít của DOS, khi có file với tên file dài được tạo ra thì windows 2000/XP sẽ tự động sinh ra một tên file theo kiểu của DOS Tên theo kiểu DOS được lưu trữ trong cùng một record trong MFT với tên file NTFS (tên file dài), vì thế nó tham chiếu đến cùng một file
Standard
Hình 2: Một record MFT cho một file nhỏ, có 3 thuộc tính
Trang 6Hình 3: Một record MFT có chứa tên MS_DOS
Windows 2000/xp tạo ra tên file theo kiểu DOS từ tên file dài Tên MS_DOS được dùng để ghi, đọc, copy một file
3 Thuộc tính thường trú và thuộc tính không thường trú
Với các file có kích thước nhỏ thì tất cả thuộc tính và giá trị của nó được chứa trong một record trong MFT Khi giá trị của thuộc tính được lưu trực tiếp trong MFT thì thuộc tính đó được gọi là thuộc tính thường trú Thuộc tính thông tin chuẩn và thuộc tính chỉ mục gốc thường được định nghĩa là thuộc tính thường trú
Hình 4: Header và value của thuộc tính thường trú
Mỗi thuộc tính đều bắt đầu với một header, header này chứa thông tin về thuộc tính, đó là thông tin mà NTFS dùng để quản lý thuộc tính Header cho biết các thông tin liên quan đến giá trị của nó như là có phải là thường trú (RESIDENT) hay không, offset từ header đến giá trị của thuộc tính, độ dài (length) giá trị của thuộc tính
Khi giá trị của thuộc tính được lưu trữ trong record MFT thì thời gian đọc nội dung của một file của NTFS sẽ được giảm xuống
Thuộc tính cho các thư mục nhỏ cũng giống như thuộc tính của các file nhỏ,
nó có thể thường trú trong MFT Hình sau đây là một record MFT cho thư mục nhỏ:
Hình 5: Một record MFT cho thư mục nhỏ
Trong đó thuộc tính Index root chứa một chỉ mục của các tham chiếu đến các file
và các thư mục con trong thư mục
Trang 7Trong thực tế nội dung của một thư mục, gồm các file và các thư mục con trong nó, không thể nén thành một record MFT có kích thước cố định 1MB Nếu một thuộc tính đặc biệt, thuộc tính dữ liệu của file chẳng hạn, là quá lớn để chứa hết trong một record MFT thì NTFS sẽ cấp phát các cluster riêng cho dữ liệu của thuộc tính từ MFT Vùng này được gọi là Run (hay là phạm vi) Nếu giá trị của thuộc tính sau đó phát triển, nội dung của file tăng lên chẳng hạn, thì NTFS sẽ định vị một Run khác cho dữ liệu được thêm vào Các thuộc tính mà giá trị của nó được lưu trữ trong các Run chứ không phải trong các record MFT được gọi là các thuộc tính không thường trú Hệ thống file sẽ quyết định có hay không một thuộc tính cụ thể là thường trú hay không thường trú
Khi một thuộc tính là không thường trú thì header của nó sẽ chứa các thông tin mà NTFS cần để tìm đến giá trị của thuộc tính trên đĩa Hình sau đây cho thấy thuộc tính dữ liệu không thường trú được lưu trữ trong 2 Run
Hình 6: Record cho một file lớn với 2 Run
Trong số các thuộc tính chuẩn (standard attribute), chỉ có các thuộc tính có thể tăng lên là có thể trở thành không thường trú Các thuộc tính thông tin chuẩn và tên file luôn luôn là thường trú
Hình 7: Record MFT cho thư mục lớn với chỉ mục filename không thường trú.
Một thư mục lớn có thể có các thuộc tính không thường trú Chúng ta hãy xem hình say đây, ta thấy record MFT không đủ chỗ để lưu trữ hết Index của các file chứa trong một thư mục lớn Một phần của Index được lưu trũ trong thuộc tính Index Root, phần còn lại được lưu trong các Run không thường trú được gọi là vùng đệm chỉ mục (Index Buffer)
NTFS theo dõi các Run bằng các cặp ánh xạ VCN-to-LCN Các LCN đánh số thứ
tự của các cluster trên toàn volume từ 0 đến n Các VCN đánh số các cluster riêng cho từng file từ 0 đến m
Trang 8Hình 8: Các VCN cho thuộc tính dữ liệu không thường trú
Nếu file này có nhiều hơn 2 Run thì Run thứ 3 sẽ bắt đầu với VCN 8 Xem hình sau đây, header của thuộc tính dữ liệu chứa các ánh xạ VCN-to-LCN cho 2 Run
ở đây, nó cho phép NTFS dễ dàng tìm đến các định vị cấp phát trên đĩa
Hình 9: Các ánh xạ VCN-to-LCN cho thuộc tính dữ liệu không thường trú.
IV. Một số kỹ thuật được hỗ trợ bởi hệ thống file NTFS
Trong hệ thống file NTFS, một danh mục file là một chỉ mục đơn của các tên file,
đó là một tập các tên file (cùng với các tham chiếu file của chúng) được tổ chức theo một cách đặc biệt để tăng tốc độ truy xuất file Để tạo một danh mục, NTFS lập chỉ mục cho thuộc tính filename của các file trong thư mục Một record cho thư mục gốc của volume được đưa ra ở hình sau đây:
Trang 9Hình 10: Chỉ mục tên file cho thư mục gốc của volume
Một emtry MFT cho một thư mục chứa trong thuộc tính index root của nó một danh sách được sắp xếp của các file trong thư mục Đối với các thư mục lớn, tên file thực tế được lưu trữ trong các vùng đệm chỉ mục (index buffer) có kích thước cố định là 4Kb, index buffer này chứa và tổ chức các tên file Index buffer cài đặt cấu trúc dữ liệu cây b+, nhờ đó mà cực tiểu được số lần truy cập trực tiếp đĩa cần thiết để tìm đến một file, đặc biệt là đối với các thư mục lớn Thuộc tính Index root chứa cấp đầu tiên của cây b+ và trỏ đến Index buffer chứa cấp tiếp theo
Hình10 trình bày các tên file trong thuộc tính index root và index buffer (file5), nhưng mỗi entry trong index cũng chứa tham chiếu file trong MFT, nơi chứa các thông tin mô tả, kích thước, timestamp của file NTFS nhân đôi thông tin về timestamp và kích thước file từ record MFT của file Kỹ thuật này được sử dụng bởi FAT và NFTS, yêu cầu được cập nhật thông tin để ghi vào cả hai nơi Do đó, nó tăng tốc độ đáng kể cho các thao tác duyệt thư mục vì nó cho phép hệ thống file hiển thị timestamp và kích thước file của mỗi file mà không cần mở mỗi file trong thư mục Thuộc tính index allocation ánh xạ các VCN của cả Run index buffer mà nó chỉ báo nơi index buffer thường trú trên đĩa Thuộc tính bitmap theo dõi các VCN trong index buffer là đang được sử dụng hay đang rỗi Hình trên cho thấy một entry file trên VCN, nhưng các entry filename thực tế được đóng gói trong mỗi cluster Một index buffer 4Kb có thể chứa từ 20 đến 30 entry filename
Cấu trúc dữ liệu cây b+ là một kiểu cây cân bằng, nó là ý tưởng cho việc tổ chức sắp xếp dữ liệu được lưu trữ trên đĩa bởi vì nó cực tiểu số lần truy cập đĩa cần thiết để tìm đến một entry Trong MFT, một thuộc tính index root của thư mục chứa nhiều filename mà nó đóng vai trò như là các chỉ mục vào cấp thư hai của cây b+ Mỗi filename trong thuộc tính index root có một con trỏ tùy chọn được kết hợp với
nó để chỉ đến index buffer Index buffer mà nó chỉ đến chứa các filename với giá trị (về mặt tự điển) ít hơn sở hữu của nó Trong hình trên, file4 là entry cấp đầu tiên trong cây b+, nó chỉ đến một index buffer chứa các filename mà ít hơn chính nó, đó
là cá filename file0, file1, và file3
Lưu trữ tên file trong cây b+ mang lại nhiều thuận lợi Việc tìm kiếm thư mục
sẽ nhanh hơn vì filename được lưu trữ theo thứ tự được sắp xếp Và khi một phần mềm cấp cao đếm các file trong thư mục, NTFS sẽ trả lại tên file vừa được sắp xếp
Trang 10NTFS cũng cung cấp sự hỗ trợ cho chỉ mục dữ liệu bên cạnh filename Một file có thể có một đối tượng ID được gán cho nó, ID của file được lưu trữ trong thuộc tính $OBJECT_ID của file NTFS cung cấp một API cho phép các ứng dụng mở file bằng các đối tượng ID của file thay vì dùng tên file của nó Do đó, NTFS phải tạo ra một tiến trình để chuyển đổi một đối tượng ID thành số file của file một cách hiệu quả Để thực hiện được điều này NTFS lưu trữ một ánh xạ của tất cả các đối tượng
ID của volume thành số tham chiếu file của chúng trong một file metadata \$Extend\
$objid NTFS sắp xếp các đối tượng ID trong file nói trên như chỉ mục filename mà
ta đã dề cập ở trên Chỉ mục đối tượng ID được lưu trữ như là cây b+
Các thành phần quả lý đĩa logic trong windows 2000/xp như FDISK (đối với basic disk) và LDM (đối với các dynamics disk), có thể khôi phục dữ liệu tại các bad-sector trên các đĩa có khả năng chịu lỗi (fault tolearant disk), với điều kiện đĩa phải sử dụng chuẩn SCSI và còn các sector trống trên đĩa Các volume chịu lỗi là các volume thuộc loại Mirrored và RAD-5 Hệ thống file FAT và thành phần quản lý đĩa logic của nó không thể đọc dữ liệu từ các bad-sector cũng như không thể phát sinh thông báo khi ứng dụng đọc dữ liệu tại bad-sector
NTFS thay thế một cách tự động các cluster chứa sector và theo dõi bad-cluster vì thế nó không được sử dụng lại sau này Khi bộ phận quản lý volume trả về cảnh báo bad-sector hoặc khi bộ điều khiển đĩa cứng trả về lỗi bad-sector, NTFS sẽ tìm một cluster mới để thay thế cluster chứa bad-sector NTFS copy dữ liệu mà bộ phận quản lý volume khôi phục được vào cluster mới để thiết lập lại sự dư thừa dữ liệu
Hình sau cho thấy một record MFT cho một file của người sử dụng với một bad-cluster trong một trong các Run dữ liệu của nó Khi nó nhận được lỗi bad-sector, NTFS gán lại cluster chứa bad-sector vào tập bad-cluster của nó Điều này ngăn cản
hệ thóng cấp bad-cluster cho các file khác Sau đó NTFS tìm một cluster mới cho file
và thay đổi ánh xạ VCN-to-LCN để chỉ đến cluster mới
Hình 11: Record MFT cho một File có bad-cluster
Ánh xạ lại bad-cluster trong hình sau Cluster 1357 có chứa bad-sector, được thay thế bằng cluster mới 1049
Nếu bad-sector ở trên volume redundant, thì bộ phận quản lý volume sẽ khôi phục dữ liệu và thay thế sector nếu có thể Nếu không thể thay thế sector thì nó sẽ